Vanvn- Chiều gần tàn, hoàng hôn như những bọng mỡ gà trên chảo lửa, quắt queo, xám ngắt. Chớp tựa mảng xương cá khô khốc vắt ngang dọc trên tầng không ám một màu tro nguội. Lão Hiến lại đi, vừa quá giang được đến thị trấn thì giông to gió lớn. Lão nghĩ bụng sẽ vào tiệm thuốc bảo vệ thực vật và nói lúa nhà lão bị đạo ôn cổ bông nặng quá. Hãy bán cho lão một chai thuốc sâu loại lớn và nặng liều. Lão đặt lên bàn một sấp dày cộp toàn tiền lẻ từ một đến năm nghìn, nhanh chóng nói cô nhân viên bán cho mình một chai BMW 747.
Thứ mơ ước đã có trong tay, lão tập tễnh cố đi nhanh, định bụng tìm một bờ mương nào đó có nhiều nước và lau sậy. Lão sẽ ngửa cổ thưởng thức nó như bọn trẻ con nhấm nháp ly cô ca cô la mát rượi rồi lăn xuống mương. Mưa tạnh, trời tối nhanh, lão băn khoăn chưa biết đi hướng nào thì Tịnh lù lù xông đến. Nó giật chai thuốc, xốc ngược lão lên vai rồi bế lão quay lại hàng vừa mua và giễu lão qua nhiều hàng nữa. Đi đến đâu nó cũng chìa mặt lão ra cho người ta xem, mếu máo “ Ông này là bố tôi, ông ấy bị tâm thần, nghĩ thuốc sâu là nước uống nên bố tôi mua gì các cô không được bán”.

Ruột gan lão lộn lên, hốc mắt cay xè. Thế mà thằng này lại nhận lão là bố. Không phải! Lão chỉ có ơn với mẹ con nó thôi nhưng bao năm nay bà Út và Tịnh đã trả xong cả rồi. Thời trẻ, lão oanh tạc muôn phương. Cưới vợ được ít hôm, lão quyết lên đường sang bên kia biên giới kiếm sống. Vợ lão van nài, bảo làm thuê quanh làng tiền ít nhưng còn được nhìn thấy nhau. Lão gạt đi, nói không liều thì quanh năm nghèo khó. Lão dứt áo ra đi, vợ trẻ sụp xuống hiên nhà, khóc nấc.
Lão đi liền hai năm mới trở về một bận, xây cho vợ được cái bếp nhưng không đủ để gieo vào người bà một mầm sống đã lại đi. Cùng làng có vài người đi với lão đều chọn nghề canh sòng bạc. Một dạo, cảnh sát Campuchia càn quét, lão biết chắc bị bắt sẽ ở tù vì nhập cảnh trái phép nên ồ ạt cùng mấy chục người liều mạng nhảy xuống sông. Ai cũng tin lão không về nữa vì cảnh sát vớt lên tận mấy chục xác người, có tất thảy người đi cùng mà chỉ có lão là trôi mất xác. Một ngày đẹp trời, lão gầy còm, đen nhẻm xuất hiện trong sự thất kinh của vợ và dân làng. Giây phút hạnh ngộ chìm trong nước mắt và những nỗi tủi hổ xót xa. Lão đứng trước di ảnh mình điên cuồng chất vấn rồi cầm dao toan đâm chết kẻ đang chung sống với bà. Bà ôm lão lại, quỳ mọp dưới chân để cho gã kia chạy. Hắn ta không đi, nửa đêm quay lại tính đưa bà chạy trốn. Lão ngoan độc dạng chân giữa nhà, bắt hắn muốn có được bà thì phải chui qua háng hắn. Bà cắn môi òa khóc, cố thốt ra những lời cay đắng, rằng đau khổ lúc mất chồng mới làm bà xiêu lòng thoáng chốc, tìm đến hắn như kẻ thế thay. Hắn thất vọng quay đầu đi thẳng, còn lão quyết trả thù bà bằng những bài học đạo đức được rao giảng từ ngày này sang ngày khác. Giữa nhà, lão treo lên một chiếc kẻng đồng mỏng. Mỗi bữa đến giờ ăn, lão lại gõ lên đó những tiếng leng keng buốt lạnh. Bữa nào bà lỡ dọn cơm ra trước khi lão đánh kẻng, lão sẽ dùng hết sự “hoạt ngôn” mà mình có để chì chiết và đay nghiến phẩm hạnh của bà.
Đứa bé xuất hiện khi lão và bà đang trên đỉnh của sự tan vỡ, nỗi nghi ngờ như lũ mọt ăn gỗ đục ruỗng tâm hồn lão. Đứa trẻ nào phải con lão. Lão khẳng định chắc nịch khi cái bụng bà đã lặc lè tám tháng. Ánh mắt bà hằn lên vẻ tuyệt vọng. Lão căm thù ánh mắt ấy. Vẻ chết lặng của bà khiến lão cảm thấy lão không là gì cả. Lão giận dữ ra khỏi nhà lúc trời đã vào đêm, mưa tong tong nhỏ giọt từ mái tranh khô xác.
Rời nhà, lão lên lán nương dự định ở vài ngày cho đỡ chướng tai gai mắt. Vừa đến ngày thứ hai, lũ quét hung hãn dội về cuốn phăng mấy ngôi nhà dưới thấp. Anh em biết chuyện, khuyên lão về còn nom dòm vợ con. Ừ thì lão về, vừa đến cầu lại gặp Tịnh gầy nhẳng, bé teo chơi vơi giữa dòng nước dữ. Bà Út gào con thảm thiết nhưng không ai dám liều lĩnh. Toàn bọn hèn, hùm ăn không hết thịt mà cứ đứng tồng ngộc trên bờ chỉ trỏ. Thế là lão nhảy, nước bùn xộc vào miệng tanh ngòm, cả người lão lao vun vút như chiếc xe đạp đang tuột dốc thì mất phanh, vết bớt giữa lưng tê tái. Lạ là cái bớt mỗi khi lão gặp chuyện lại nhôn nhốt, nóng ran như bị ai chích điện dù lão đang đằm mình dưới sông lạnh. Chợt nhớ đến hồi nhảy sông trốn thoát ở Campuchia, lão xoay ngang người, thả cho trôi. Lúc trôi ngang lão thấy Tịnh như con nhái bén bám vào cây chuối. Lão vội giang tay rộng, chân thọc xuống nước căn hướng Tịnh mà đến.
Khi còn cách Tịnh một hai mét, lão đánh liều phi thân như con rái cá chồm sang. Loay hoay mãi, đến khi cả lão với Tịnh nhũn ra không còn tí sức mới kiếm được một chỗ nước lặng để dạt vào. Bà Út tưởng Tịnh đã chết liền khóc như rồ dại. Thấy thằng bé mặt tái xanh bò lại gọi “mẹ mẹ” yếu ớt thì mới choàng tỉnh. Bà dập đầu côm cốp xuống đất tạ ơn. Ơn với huệ, lão chả thiết, lão đứng lên tìm đường về nhà. Lối mòn dẫn lên nhà lão trơn tuột bởi bùn non, đám cỏ tranh cao lút đầu người gãy nát. Nhà lão trống thênh, lũ đã quét hết lớp ván thưng xung quanh nhà. Dưới đống đổ nát, chiếc dép tổ ong của vợ nằm chỏng chơ. Lão ú ớ chạy quanh gọi vợ, khản cả tiếng mà vợ lão không đáp lời. Lão lao xuống đồi, ngã lăn lông lốc lại lồm cồm bò dậy. Không kêu thành tiếng được, lão hét, một tiếng hét chói tai khiến dân làng phải chú ý. Người ta ùa đến, đốt đuốc soi trong đêm để tìm bà tận ba ngày mà bất lực. Đến ngày thứ tư, nước lũ dưới xuôi rút cạn mới thấy vợ lão dạt vào bãi ngô. Bụng bầu tám tháng trương to, lặc lè như bụng trâu chết đuối. Người ta không cho lão đến gần, lão bất chấp xé người, gạt ra đám đông, xác người mặt nhớt đen, lỗ rỗ bởi cá rỉa không động đậy mà ộc máu. Lão quỳ xuống, lăn lê, tay đưa ra lại rụt vào. Người làng quấn vợ lão vào áo tơi mưa, trằn qua trằn lại khiến bụng bà vang lên tiếng “bục” lạ lẫm. Không khí đặc lại, hơi ẩm tanh lợm và nặng trịch tan ra. Ai nấy sợ hãi dừng tay, tản ra ngơ ngác nhìn vệt sẫm quẫy lên, phun sùng sục như bị nén khí lâu ngày chỉ chờ phút giải thoát. Từng vệt nước thẫm chảy cạn, đến khi cởi quần, ai nấy bàng hoàng, kinh hãi phát hiện dưới háng của bà có đứa trẻ đã trồi hẳn ra và còn nằm nguyên trong bọc nước ối. Khi vừa chạm vào, cái bọc vỡ ra, da thịt đứa bé đã lợt lạt và bắt đầu phân hủy. Vậy mà trên lưng nó vẫn nhìn rõ lắm một cái bớt đã hóa màu tím thẫm.

Từ ngày mất vợ con, lão hóa điên hóa dại, gặp đất ăn đất, gặp kiến ăn kiến. Bà Út thương không chịu được đã đón lão về trả ơn. Hôm đầu, bà thắp một nén nhang để lão cắm lên bát hương của vợ đã được bà xin về nhà thờ cúng. Lão tru lên, lắp bắp vò đầu bứt tóc và điên cuồng đập phá. Vợ lão còn sống sờ sờ, đêm nào cũng ngồi với lão trên tấm chiếu trải giữa sân, hôm thì chải tóc, hôm lại phe phẩy cây quạt quạt cho lão giữa hè oi bức. Con trai lão đã 15 tuổi, lớn lắm rồi, chẳng mấy chốc mà cưới vợ rồi sinh con đẻ cái cho lão ẵm bồng cháu chắt. Thấy lão phát rồ, bà Út với Tịnh phải đưa lão ra ngoài, nhanh chóng tìm thợ về lắp cửa để cách biệt phòng thờ không cho lão vào trong nữa. Bà cũng chịu khó đưa lão đi các nơi chữa bệnh, thầy thuốc nói bệnh phát do tâm, tâm an người mới ổn. Bà đành đưa lão về, nghe kể có loài cá chép sống lâu hóa rồng sẽ chữa được bách bệnh. Thế là Tịnh nuôi cá, thả vào ao toàn cá chép hồng rực. Chăm nuôi tốt, chúng lớn thôi thổi nhưng màu hồng càng lúc càng nhạt đi. Bà Út vẫn kiên trì mỗi ngày hấp một con cùng đỗ đen và nài nỉ lão cố ăn cho hết. Dù những con cá chẳng thể hóa được thành rồng ấy không làm cho đầu óc lão minh mẫn lại thì nó cũng khiến lão bớt đau, an ủi lão cố sống nốt phần đời rệu rã với tỉ ti thứ bệnh khoác lên thân thể già nua ọp ẹp.
****
Tịnh cứ thế vác lão đi, lão quẫy đạp trên lưng nó chẳng khác nào đứa trẻ giở trò ăn vạ. Mệt quá, Tịnh thả lão ngã vật ra cỏ còn nó ngồi phệt dưới đất khóc tu tu. Lão ngơ ngác nhìn Tịnh, bất chợt, Tịnh như phát cuồng quay lại túm cổ áo lão, day đi day lại “ Muốn chết lắm phải không, vậy tôi cho bác chết”. Lời vừa tuôn khỏi miệng, nó bật dậy, một tay túm ngang lưng còn tay kia ôm ngang đùi, vật như bao gạo. Tịnh chạy phăm phăm lại phía hồ nước, rất nhanh, nó dùng hết sức bình sinh cõng lão nhảy tùm xuống. Lão vốn bơi giỏi, nhưng từ ngày gặp biến cố, khả năng bơi lội của lão dường như đã mất. Lão ngợp nước, chìm xuống lại trồi lên, quẫy đạp loạn xạ. Bóng nước loang loáng tan ra dưới ánh sáng nhờ nhợ của trăng rằm bị mây che phủ. Chợt, lão thấy vợ về tay ôm một đứa trẻ. Bà đứng nghiêng người, chỉ để cho lão nhìn một nửa gương mặt đứa bé quấn trong tã. Mắt lão kéo màng vẩn đục, càng đau mắt lão càng đục. Bà chỉ lẳng lặng đứng nhìn lão, mãi mới mở miệng nói “ Đi thôi”. Cả người lão căng cứng, lão ú ớ gọi tên, cố vươn tay ra với lấy bà, nhưng bà như một dải lụa, phất phơ trước mắt lão rồi nhẹ hẫng vụt lên không trung, lặng tắt.
Tịnh cắn răng đứng sát mép bờ chờ đợi, chờ ham muốn sống trong lão hồi sinh. Tự nhiên, lão không quẫy nữa, Tịnh hốt hoảng bơi ra thì thấy lão đã nằm ngửa, chân thọc xuống nước khua nhẹ tìm hướng vào bờ. Lão lồm cồm bò lên vệ cỏ, nằm vật ra thở hồng hộc. Không thở nữa, lão lại trân trối nhìn trăng rồi co người lại khóc rấm rứt. Nín khóc, lão quờ tay sang Tịnh, hổn hển “Mày đi mua cho tao chai rượu”. Tịnh bất ngờ quá, chồm lấy lão vồ vập hỏi “ Bác muốn uống rượu, bác không muốn chết nữa phải không?” Lão lặng im, Tịnh kéo tay lão đứng dậy đi về làng. Sau hôm ấy lão hiền đi, không còn nhăm nhe dọa chết. Lão cũng không ăn cá nữa, dù bà Út có nói thế nào lão cũng nhất quyết không ăn. Lão minh mẫn bảo bệnh vậy rồi, có ăn thế ăn nữa cũng không chữa được. Bà Út sửng sốt vì lão nói tỉnh bơ cứ như người chưa bị bệnh bao giờ. Nhiều đêm, lão không ngủ, ánh mắt hấp háy vọng vào gian thờ đóng kín. Một hôm, bà Út thấy lão tập tễnh mở cửa phòng, bóng tối chầm chậm tan ra, lão đứng lặng thinh không bật đèn cứ thế mò mẫm nhóm hương. Ngoài trời đổ mưa, tiếng ếch nhái xôn xao khắp mặt ao phẳng lặng.
Mưa tạnh, trời rót nắng vàng ươm. Tiếng kẻng leng keng gọi cá được Tịnh phấn khởi gióng lên nhưng không còn cảnh cá nhôn nhao chao lượn, quây tròn lấy nhau chờ mồi. Mưa lớn, nước dâng nhưng để đến bờ thì còn xa lắm. Ấy vậy mà từng đàn cá chép vẫn lựa nước, theo nhau thoát ra ngoài, đi cho bằng sạch. Bà Út an ủi Tịnh đừng buồn đừng tiếc, bởi cá chép muốn hóa rồng đều phải vượt vũ môn.
HÀ HỒNG NGUYÊN















