Đắng cay đời mẹ – Tản văn của Lê Thi

Vanvn- Có những người mẹ đi qua gần trọn một thế kỷ đời người, lặng lẽ gánh trên vai những mất mát không thể gọi thành tên. Trong ký ức của tôi, mẹ là bến đỗ, nơi yêu thương bắt đầu và cũng là nơi nỗi đau lặng thầm neo lại suốt một đời. Bao nhiêu đêm trắng, mẹ giấu những giọt nước mắt vào trong khi nhớ chồng, nhớ con. Sau một ngày vất vả trên ruộng đồng, nương rẫy, mẹ lại chờ mong một lá thư ở phương trời xa để nguôi đi nỗi nhớ. Tuổi thanh xuân gửi lại trên những mùa cấy, mùa cày.

Nhà thơ Lê Thi

Đếm đầu ngón tay đã bao mùa bẻ bắp trên nương mà cha vẫn chưa về.

Những ngày con đau ốm, mẹ ôm con băng qua cánh đồng đến trạm xá bộ đội. Mạng sống của con khi ấy trông chờ vào vài viên thuốc kháng sinh, vài lọ Penicillin hiếm hoi. Rồi những đêm chuyển dạ, như có bàn tay phép màu của bà mụ, không đến kịp trạm xá những đứa con vẫn ra đời và mẹ vẫn giữ được mạng sống của mình.

Ngày độc lập, cha trở về, trong người mang những mảnh đạn còn găm trong thịt da. Trái gió trở trời, cái rét mùa đông hành hạ cha trong từng giấc ngủ. Mẹ lại chăm sóc, sẻ chia. Mẹ lo lắng từng tô cháo nóng, từng nồi thuốc lá rừng, có khi đi cả nửa ngày trời tìm những loại dược thảo về đun, phơi cho cha uống. Không một lời than thở, trách móc.

Nhưng những ngày tháng thanh bình thật ngắn ngủi. Đứa con đầu lòng của mẹ xếp bút nghiên, viết đơn tình nguyện bằng máu, xung phong ra trận, nghe theo lời kêu gọi “Tất cả vì miền Nam ruột thịt!”. Mẹ tự hào, kiêu hãnh khi con của mẹ đã trưởng thành.

Trong cuộc hành quân thần tốc, chiếc xe Zin 130 chở những chiến binh ra trận. Khuôn mặt còn non nớt, thư sinh, chưa biết vị ngọt tình yêu, chưa kịp nếm nụ hôn đầu đời. Trong đó có đứa con yêu của mẹ.

Nhà tôi cách con đường huyết mạch 15B dẫn vào Cổng Trời (Quảng Bình) chỉ vài trăm mét. Anh tôi được phép ghé qua nhà 10 phút. Mẹ đang nấu bữa cơm chiều. Bỗng anh và một người bạn nữa trong quân phục bộ đội chạy về nhà. Anh ôm chầm mẹ tôi, kêu:

– Mẹ!

Mẹ tôi quá bất ngờ, bà buông rổ rau, ôm chầm thằng con trai, nghẹn ngào không nói được lời nào. Đôi mắt thâm quầng mệt mõi, nhìn con muốn nói nhiều mà nghẹn lời. Anh ôm hôn tôi khi đó mới hai tuổi. Mẹ vội vàng hái mấy trái bưởi cho con, anh tôi không kịp ăn cơm vì quá vội. Anh bế tôi vào lòng (nghe mẹ tôi kể lại):

– Ngoan em nhé, hòa bình trở về anh mua cho em một con búp bê. Dù hoàn cảnh nào, cha mẹ cũng ráng cho các em ăn học nghe ba mẹ.

Nói rồi, anh chạy vụt đi theo các bạn. Mẹ tôi nhìn theo, đôi mắt mờ lệ. Chuyện anh về làng lan nhanh trong xóm.  Chị Dung, bạn gái anh cũng vội chạy ra nhà tôi.

– Anh!

Chị Dung nghẹn ngào nhìn anh. Anh lấy quyển sổ lưu bút và cây bút máy “Kim Tinh” tặng chị. Trong giây phút ngắn ngủi, anh hôn lên mái tóc, gửi gắm:

– Em …chăm sóc cha mẹ thay anh em nhé!

Chị tặng anh chiếc khăn mùi soa đang thêu dở đôi bồ câu, một con thiếu cánh. Những đường thêu vụng về thấm cả nước mắt chị. Chỉ chừng ấy thời gian dành cho một cuộc chia ly với gia đình và người yêu.

Cha mẹ sau này luôn nhắc chúng tôi phải học, không làm cho anh buồn. Chị vẫn ra nhà tôi khi gánh củi, rổ rau rổ cà, chăm sóc cha mẹ tôi như con đẻ. Anh hy sinh sau 10 năm chị lấy chồng, nhưng có lẽ nỗi đau ấy đi suốt cuộc đời chị. Chồng chị là một thương binh, chị sinh ra như để dành tình yêu cho người lính.

Cha tôi nghe tin, bỏ dở đường cày giữa ruộng, chạy hớt hải nhìn theo chiếc xe. Chỉ còn thấy những bàn tay vẫy vẫy, ánh mắt của những chàng trai trẻ ngoái lại như lần cuối nhìn quê hương. Bóng cha mờ dần sau mấy rặng xà cừ, mất hút sau những lũy tre làng lầy lội. Sau này, những buổi chiều, cha tôi lại lẩn thẩn đi ra con đường, nhìn về phía trời xa, nhớ thương núm ruột của mình.

Tranh của họa sĩ Quỳnh Thơm

Con sông Ngàn lững lờ trôi dài theo năm tháng. Những con đường đất đỏ, những ngày hái nấm, hái măng, những mái  tranh nghèo ấm tình quê. Anh tôi tạm biệt mái trường, có lẽ còn cả những lá thư viết vội, những ánh nhìn vụng dại chưa kịp gửi trao. Tuổi đôi mươi rạo rực lên đường ra tiền tuyến. Suốt cuộc hành trình, hương bồ kết, mối tình đầu, cái nắm tay của mẹ, mùi sữa của em và tất cả theo anh qua Trường Sơn khói lửa, khát khao ngày hòa bình, một căn nhà nhỏ có tiếng cười trẻ thơ bên dòng sông. Giữa những ngày bom rơi, đạn lạc, đất nước chia cắt, ngập trong máu và nước mắt. Từ đêm ấy, mẹ tôi cũng như bao người mẹ khác, đêm đêm  nhìn về phương Nam, cầu nguyện vái van cho những đứa con mẹ bình an trở về.

Căn nhà mái rạ bên đường trở thành trạm giao liên. Gian ngoài cho bộ đội ở, làm truyền tin “tích tè, tích tè” suốt ngày. Mẹ kể có ổ gà ngay chái nhà, muốn bắc thang xem trứng nở cũng không dám, vì sợ lộ bí mật. Quê tôi, xã Phúc Trạch, huyện Hương Khê, nơi binh trạm 169 từng đóng quân trong những năm chống Mỹ. Chính nơi đây như cái rốn bom của Mỹ, chứng kiến bao nhiêu trận bom rải thảm, 33 em học sinh trong giờ học cũng ra đi từ chiều ấy không về. Tuổi thơ chăn trâu bò trên bãi, chúng tôi nhặt bom vướng (những quả như quả dầu lấy hạt rang muối) nhiều như nhặt khoai lang vậy…

Mỗi lần các chú hành quân vào Nam, cha tôi lại gửi theo một lá thư, mong có ngày đến tay con mình, cha tôi ân cần dặn dò:

– Các chú vào Nam, cho chú gửi lá thư này cho Lê Thanh Cần…

Cha tôi đã viết rất nhiều lá thư như thế. Nhưng sự chờ đợi mỏi mòn tan dần như những lọn khói lam chiều vô vọng. Cha tự trách mình, giá như chiều đó chạy nhanh hơn đã kịp cầm tay con dặn dò, ôm con lần cuối, ngờ đâu buổi ấy ly biệt…

Một sáng mùa đông, cha tôi dậy rất sớm, nhóm bếp bằng lá sim. Khói bếp thơm thoang thoảng. Ông rít điếu thuốc lào, ánh mắt xa xăm. Mẹ như linh cảm điều gì không lành. Mẹ gọi người chú họ sang uống chè xanh. Cha tôi chậm rãi nói:

– Chú ạ… tôi có thằng em và thằng con… chắc có một đứa bị thương rồi…

Chú hỏi lại:

– Sao anh biết?

Cha tôi nói:

– Tôi mơ thấy mình cầm ná  bắn đôi bồ câu. Một con trúng cánh, bay được một đoạn rồi rơi… Tôi thức dậy buồn quá nên… báo cho chú biết.

Không khí gia đình sau điềm báo ấy nặng màu tang tóc. Đêm đêm, cha ra vườn khóc, giấu mẹ sợ bà biết. Mẹ giã gạo, quay lưng lau vội nước mắt vào ống quần, sợ chồng con nhìn thấy. Mẹ ốm yếu, tiều tụy, thấy anh bộ đội nào cũng gọi:

– Cần đó hả con?

Hai tháng sau có thư của chú. Còn anh tôi… không có thêm lá thư nào nữa.

Mãi đến năm 1974, gia đình nhận được giấy báo tử. Đó là buổi chiều định mệnh và đau thương nhất của gia đình.

Tôi nhớ hôm ấy, mẹ đang cõng tôi từ nhà bà ngoại về. Một người hàng xóm chạy ra, gọi:

– Chị ơi… anh Cần hy sinh rồi…

Mẹ lảo đảo, bổ nhào xuống đường hào sâu hơn 2m. Tôi quá hoảng sợ khóc thét lên, hai mẹ con như 2 quả mít rơi từ trên cao xuống, mấy rễ cây đâm vào da thịt. Mẹ tôi ngất xỉu, đầu bê bết máu. Ngày làm lễ truy điệu anh tôi và bốn chiến sĩ khác trên cái sân gạch của hợp tác xã, bà con tập trung đông đủ, đôi mắt ai cũng đỏ hoe thương tiếc. Bác Bí thư đọc quyết định của Tổng cục hậu cần , ghi nhận những chiến công vẻ vang, sự hy sinh anh dũng tại mặt trận phía Nam của anh tôi.

Ngày con của mẹ ra đi bằng da bằng thịt, bằng nụ cười ánh mắt yêu thương, nay nhận lại một chiếc ba lô với những vật dụng mà mẹ chuẩn bị chu đáo, chiếc ba lô từ đó trở thành báu vật của mẹ. Nhiều đêm thức trắng, mẹ tâm sự một mình với chiếc ba lô:

– Lạnh lắm không con? Khi nào con về với mẹ?

Mẹ ôm chiếc ba lô thay chăn ngày đông giá. Qua bao năm tháng gió mưa, bão lũ, sách vở chúng tôi trôi hết, ướt hết, nhưng cái ba lô và những kỷ vật, lá thư của anh, mẹ gói nhiều lớp bao nylon, giấu kỹ. Tôi chưa thấy mẹ giặt chiếc ba lô vì sợ mất mùi của con.

Sau này, một người cùng đơn vị kể lại “ Anh tôi hy sinh trong trận An Lộc (Bình Phước). Bị thương nặng nhưng vẫn chiến đấu, xác chôn cất gần đơn vị, rồi bom lại cày xới…Năm 1976, người con thứ hai của mẹ tiếp tục lên đường sang Campuchia. Mẹ lại thêm những đêm trắng bên ngọn đèn dầu, cầu nguyện trong lo âu, lặng lẽ lấy những chiếc áo cũ ra may vá, như không thể rời xa mùi mồ hôi của các con. Ngày con về mang trong mình những cơn ác mộng chiến tranh. Nhiều đêm khuya, anh không ngủ, vung chăn dậy tìm đồng đội:

– Tín ơi! Chung ơi! Cả đơn vị đang tìm các em!

Đôi lúc ba, bốn giờ sáng, anh la hét…Những người lính của anh, những giây phút sinh tử chở che cho đồng đội. Có những đêm, mẹ đi tìm con giữa xóm làng thanh vắng. Đất nước sạch bóng thù nhưng vết thương lòng vẫn âm ỉ đau.Trong ký ức của tôi, hình ảnh mẹ luôn hiện lên nghẹn ngào, đau đớn. Có lẽ từ sau những lần

tiễn con, mẹ không còn nước mắt nữa. Ân nghĩa cuộc đời như một vòng tròn. Những lần cha mẹ được mời ra miền Bắc viếng lăng Bác Hồ, tình cờ cha mẹ gặp lại các chú, các gia đình đồng đội, khi trở về, họ lại gửi chai rượu chanh, gói trà biếu cha mẹ như một sự tri ân, ấm áp tình đồng đội, nghĩa quân dân.

Tháng Tư về, đất nước rợp cờ hoa. Trong biển ân tình của thế hệ cha anh, sự hy sinh của gia đình tôi chỉ là một hạt cát trong lâu đài hòa bình. Mẹ tôi cũng như hàng triệu bà mẹ Việt Nam đã hiến dâng những giọt máu của mình cho đất nước.

Mẹ đến chuyến đò trần 97 năm. Những tháng cuối đời, mẹ không còn nhớ nổi nhà mình ở đâu, không nhớ anh em còn hay mất, ngày giỗ cha cũng chỉ nhớ mang máng là gần Tết. Nhưng kỳ lạ thay… mẹ vẫn nhớ từng đứa con: ngày sinh, ngày mất, ngày hy sinh. Cuốn sổ tiết kiệm cả đời, tiền bạc, mọi thứ trên đời… mẹ quên hết. Trong trí nhớ, chỉ còn lại những đứa con của mẹ. Tuổi thơ, bạn bè và năm tháng, tất cả đã nhòa dần theo lớp sóng thời gian. Một mùa Xuân nữa lại về với đất trời, đứa con xa rong ruổi mưu sinh những vùng đất lạ. Mẹ lại trở về với cây cỏ quê hương, như cây hoa mua mộc mạc tháng ngày bên bờ sông bình dị mà đọng lại cả một miền ký ức mênh mang.

LÊ THI (OHIO – HOA KỲ)

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *