Nhớ chiếc giường tre – Tản văn Nguyễn Thị Thu Hà

Vanvn- Ở quê, thường gọi chiếc giường tre ấy là giường tùng bèo. Ừ nghe cái âm từ “tùng bèo” là một từ lạ và tương đồng để miêu tả độ rùng rình của giường tre, rát tre quê tôi. Nhưng giờ đố ai biết tìm chiếc giường như thế ở đâu trong làng bây giờ.

Nhà văn Nguyễn Thị Thu Hà ở Bắc Giang

Tôi nhớ làng, nhớ giường tùng bèo của thời thơ ấu. Chiếc giường tùng bèo êm ái ấy gắn bó với tôi trong những ngày mưa bão, trong những ngày đông sang. Cái giường tùng bèo ấy, có 3 mặt được đóng thành thang cao chừng 15 đến 20cm. Cái thành cao ấy nó giữ những đứa trẻ mới nẫy không lăn khỏi giường, giữ những đứa trẻ mơ ngủ lăn lóc tới tận mép giường nghĩ mình đang chạy nhảy đùa ghịch… Cái độ rùng rình của rát tre làm êm cái lưng. Nếu mùa đông, bà tôi trải một lớp rơm nếp xuống dưới. Cái giường tùng bèo thơm tho mùi đồng lúa.

Tôi chỉ là một người khách thoáng qua trong chiếc bóng của quê hương. Tuổi thơ có những tháng ngày mưa bão về quê ở với bà nội. Những mênh mông đồng nước, cây lúa phất phơ, lóp ngóp trong biển nước giữa đồng là những thứ ám ảnh đến bây giờ. Còn nhớ  câu “tháng Ba ngày Tám” là ngày đói giáp hạt, năm nào người lớn cũng lo gay gáy và ngóng chờ ngày đó sau những bữa cơm Tết no ấm xum vầy. Vừa dứt một mùa giáp hạt xong lại đến những ngày mưa bão. Cứ thế, cuộc sống ở quê theo vòng xoay vật lộn với thiên nhiên. Những ngày mưa bão tháng Bảy, người lớn lo đi chống cây trong vườn, trẻ con đùa nhau trên chiếc giường tre. Đồ vật ở quê chủ yếu là bằng tre nên tre trong làng nhiều lắm.

Tre mọc lên từng búi làm bờ rào. Mỗi lần nhà ai đó chặt búi tre là có việc. Chặt tre đến lứa được thu để dựng nhà cho đứa con sắp lấy vợ,  làm giường mới thay cho chiếc giường cũ đã bị mọt… Tre giữ những chân đê với cụm rễ xù xì kết lại thành búi, đan vào nhau. Nếu tre đứng thành hàng san sát thì gió bão chỉ làm nghiêng ngả chứ ít khi bị đổ rạp. Cái thuở học trò đọc những câu thơ: Tre xanh. Xanh tự bao giờ? Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh. Ở làng quê Việt nào cũng có tre xanh. Những ngày sau mưa bão, đi ngắm những dưới gốc  búi tre sẽ  phát hiện nhiều măng tre mọc lên. Măng tre để ngâm chua nấu cá đồng. Măng tre ngâm ớt chỉ thiên. Vườn quê như cái kho để người ta tha hồ hưởng thức với món ăn dân dã mà không bao giờ cũ. Chỉ có người ở nông thôn mới có món măng tre.

Từ cái thuở nào tre tự dưng ít đi. Giường được đóng bằng gỗ mới là giường sang trọng, hợp thời. Cái giường tre rùng rình, kót két không còn nữa. Tôi không còn nghe âm thanh ấy ở một ngôi nhà nào trong làng nữa. Gỗ trở thành mốt đóng đồ dùng. Tất nhiên là bền, chắc, tiện dụng hơn tre. Cây lấy gỗ ở trên rừng giữ đời sống cho đất không bị lão hóa, cây cắm rễ sâu  giữa cho cấu trúc đất không bị sạt lở. Nhưng từ nhu cầu đời sống, cây rừng, cây lấy gỗ đã về với từng nhà trong hình hài mới mẻ. Một câu nói quặn lòng: Chỉ khi lũ lụt người ta mới thấy nhớ rừng!

Tre không còn nhiều, các vật dụng từ tre cũng mất dần. Đôi tay người ở làng nghề khéo léo vô cùng cũng trở lên vụng về khi không còn tre để đan những chiếc rổ, chiếc giá, chiếc làn tre…

Nỗi nhớ chỉ đến khi có nỗi đau găm vào lòng!

NGUYỄN THỊ THU HÀ

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *