Người “gieo khát vọng” bằng vốn sống và tư duy phản tỉnh

Vanvn- Văn Diên làm thơ giữa “đời sống đang thì”. Không phải nhà thơ nào cũng bước ra từ thực tiễn công vụ, xã hội, chính trị như Văn Diên. Ông là người từng công tác trong ngành công an, tiếp xúc nhiều giai tầng, trải qua va đập của chính trường và đời sống thường nhật. Sự phong phú trong trải nghiệm ấy làm giàu “hạ tầng hiện thực”, điều mà phê bình Mác xít đặc biệt coi trọng như nguồn gốc sinh thành của mọi tư tưởng chân thực. Văn Diên làm thơ không từ xa xôi, mà ngay trên “những nẻo mây” của cuộc đời đang vận động.

Nhà thơ Văn Diên ở Hưng Yên 

Ông viết:

“Từ trên trời rơi xuống vực sâu

Ta bà sinh ra chủ thể quyền tiền…”

(Từ trên trời rơi xuống, tr.19)

Đó không phải hình ảnh siêu hình, mà là sự mô tả lô-gích biện chứng giữa cái lý tưởng và cái thực tế. Văn Diên, như chính ông tự bạch, không mê ảo, mà “gieo khát vọng” bằng vốn sống và tư duy phản tỉnh.

Dòng thơ chính luận. Giọng nói cách mạng giữa thời “loạn thơ”

Giữa một thời đại “lạm phát ngôn từ” và thơ tình cảm lơi lả, thơ thế sự nặng về triết luận, Văn Diên đi theo một hướng khác: chính luận thơ – một thể loại đòi hỏi bản lĩnh và tri thức. Ông dấn thân vào các đề tài gai góc: chống tham nhũng, đại dịch, chiến tranh, giả dối trong chính trị và cả khủng hoảng toàn cầu:

“Lệ thì cũ, luật thì không

Vẫn mong trái đất nổi giông một lần…”

(Ong và kiến nâu, tr.6)

“Toàn cầu viễn cảnh cần thay máu

Nỗi lo đâu chỉ để lo âu…”

(Âu lo, tr.40)

Thơ ông không ngại “gióng chuông cảnh tỉnh”:

“Gióng hồi chuông cảnh tỉnh muôn người

Cá nước trong có giấu quẫy đục?”

(Gióng chuông, tr.57)

Ở đây, ta thấy rõ chức năng “đả phá cái cũ”, “cảnh tỉnh cái sai” và “xây dựng cái đúng”, chính là ba chức năng biện chứng cơ bản của văn học cách mạng theo Marx.

Tư tưởng tích cực; Khát vọng thay đổi và niềm tin hành động.

Dù phản ánh hiện thực nhiều gam tối, thơ Văn Diên không u ám. Ngược lại, thơ ông “ít có cảnh báo, dự báo nhưng gieo nhiều khát vọng”; Những khát vọng ấy không siêu hình, mà gắn với thực tiễn hành động.

Trong bài “Người ngăn giặc lửa vì dân” (tr.22), ông ca ngợi người lính cứu hoả như biểu tượng của tinh thần phục vụ Tổ quốc:

“Người chiến sĩ, Tổ quốc cần không ngại

Anh yêu nghề đâu quản dấn xả thân…”

Hay trong Mẹ thiên nhiên (tr.21), ông viết:

“Ai nghe

Tiếng đất đục trong

Mẹ thiên nhiên khóc

Còn bồng lời ru…”

Đọc thơ này cảm nhận một nỗi đau sâu lắng của thiên nhiên trước sự tổn thương do con người gây ra. “Tiếng đất đục trong” là hình ảnh tượng trưng cho sự gào thét âm thầm, đau đớn của lòng đất bị tàn phá. “Mẹ thiên nhiên khóc” nhân hóa thiên nhiên như một người mẹ đang đau khổ, xót xa. Dù vậy, trong tiếng khóc ấy vẫn vang lên “lời ru” – biểu tượng của tình thương, sự bao dung và khát vọng bao bọc. Bốn câu thơ hàm súc, vừa bi ai vừa chan chứa tình yêu của thiên nhiên dành cho nhân loại. Đó là một thái độ lắng nghe tất cả, thấu hiểu quy luật vận hành của xã hội và vũ trụ. Đó là khởi đầu cho mọi hành động cách mạng.

Bìa tập thơ “Thì thào trên những nẻo mây” của Văn Diên

Cấu trúc: Từ cấu ngữ lạ đến ngôn ngữ ẩn dụ “đậm chất Văn Diên”.

Không chỉ nổi bật về tư tưởng, Văn Diên còn có dấu ấn riêng trong cấu trúc ngôn ngữ. Ông thường sáng tạo từ mới: “nghiệp doanh”, “bính quyền”, “rạng sáng hồng”, “dõi tra”, “lủi luồn” … hoặc đảo ngữ, chuyển cấu trúc câu để tăng hiệu ứng hình ảnh.

Ví dụ trong bài Chung chia (tr.42), sự đan xen giữa cấu trúc văn chương và kinh tế – xã hội tạo cảm giác như một báo cáo hiện thực bằng thi ca:

“Cung cầu

Danh lợi xoắn nghiền

Củi lò lồng nhốt

Đương nhiên bập bùng…”

Hay trong: Đi tìm cái lí thơ nay (tr.58), ông tự vấn về tính chính luận của thi ca thời công nghệ:

“Dập dìu công nghệ tiến nhanh

Con đò nát có vá lành câu thơ?”

Những ẩn dụ như “đò nát”, “muối phơi”, “củi lò”, “trái ngang, ngang trái, chập trùng” không đơn thuần là hình ảnh mà mang chức năng biểu tượng, hàm ý hệ thống xã hội đang vận hành, lệch pha và cần tái cấu trúc.

Thơ chính luận của Văn Diên so với thơ chính luận của Tố Hữu:

Nếu Tố Hữu là nhà thơ của “lý tưởng cộng sản”, thì Văn Diên là nhà thơ của “phản tư dân chủ”. Tố Hữu từng viết:

 “Sống vững chãi bốn ngàn năm sừng sững

Lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa…”

Còn Văn Diên viết:

“Thời giấu ngày vào đêm

Cần thay bằng lòng tin…”

(Xưa rồi ấy ơi, tr.158)

Cả hai đều dùng thơ để kiến thiết lòng tin, nhưng Tố Hữu từ tầm cao lý tưởng Đảng, còn Văn Diên từ va đập thực tiễn xã hội. Một bên “kết luận cách mạng”, một bên “phê phán kiến tạo”.

So với thơ chính luận thế giới, Bertolt Brecht:

Brecht viết trong “Tuyên ngôn”:

“Trong thời đại rối ren này

Thơ sẽ là búa đập vào thực tại”.

Văn Diên cũng có câu thơ như “búa” vào thực tại:

“Cái thời dỡn chữ khát vàng

Chạy khôn chạy dại mua sang bán hèn”.

(Cái thời, tr.39)

Nhưng khác với Brecht mang tính “giải cấu trúc mạnh”, thơ Văn Diên mềm hơn, nghiêng về thức tỉnh và thuyết phục xã hội tự điều chỉnh bằng nhân văn, gần với tinh thần nhân đạo xã hội chủ nghĩa thời đại mới.

Về cấu trúc và ẩn dụ so với thơ W.H. Auden:

Auden từng viết:

“Poetry makes nothing happen… it survives.”

(Thơ không làm nên biến cố, nhưng nó sống sót qua thời gian.)

Thơ Văn Diên có tinh thần này, nhưng không buông xuôi. Ông gợi mở:

 “Tình yêu thì vẫn nên thơ

Câu thơ thì vẫn đang chờ muối phơi?”.

(Đi tìm cái lí thơ nay, tr.58)

Từ “muối phơi” là một ẩn dụ độc đáo, ngụ ý câu thơ cần được “phơi khô” để mặn mòi bằng thời gian và trí tuệ đại chúng. Tư duy ấy tương thích với lối ẩn dụ đa tầng của Auden, người cũng từng dùng thơ để soi chiếu những khủng hoảng nhân loại thế kỷ XX.

Văn Diên, một hiện tượng của dòng thơ chính luận Việt Nam đương đại.

Thì thào trên những nẻo mây không thì thào yếu ớt, mà thì thầm kiên định. Đó là tiếng nói của một người quan sát tỉnh táo, một thi sĩ công dân, một nhà văn hóa phản biện có trách nhiệm. Ở Văn Diên, lý tưởng cách mạng không chỉ là khẩu hiệu, mà là hành trình suy tư – hành động – khai sáng.

Với tinh thần phê bình Mác xít kết hợp nghệ thuật hàn lâm, có thể khẳng định: Văn Diên đang góp phần làm mới thơ Việt Nam bằng tư tưởng dấn thân, cảm xúc hiện thực và kỹ thuật ngôn ngữ sáng tạo. Ông đi tiếp con đường mà thơ chính luận Việt từng khai phá, nhưng mang theo khối lượng hiện thực mới, với tâm thế và nghệ thuật của một người sống trong thế kỷ XXI, thời đại cần cả lương tri và đổi mới tư duy thi ca.

SAO KHUÊ

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *