Vanvn- Khi viết lý luận phê bình văn học, không phải cây bút nào cũng có thể dung hòa được hai yêu cầu tưởng như đối lập: tính khoa học chặt chẽ và cảm xúc nghệ sĩ tinh tế. Với Vẻ đẹp văn chương chuyện của muôn đời (NXB Hội Nhà văn – 2025), nhà lý luận phê bình Đỗ Nguyên Thương người Đất Tổ (Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chứng minh một phong cách riêng: mực thước mà không khô cứng, tài hoa mà không sa đà cảm tính.

Tập tiểu luận phê bình gồm 25 bài viết với đề tài nghiên cứu trải rộng trên nhiều thể loại (lĩnh vực) khác nhau: từ điện ảnh, văn hóa dân gian đến thơ, trường ca, truyện ngắn, tiểu thuyết, chân dung tác giả văn học địa phương và cả những vấn đề lý thuyết phê bình mang tính học thuật cao. Sự đa dạng ấy không chỉ cho thấy bề rộng tri thức mà còn thể hiện một bản lĩnh tiếp cận linh hoạt, nhất quán trong chiều sâu tư duy của chị về văn học nghệ thuật đương đại.
Một trong những điểm đáng chú ý của tập sách là mỗi loại bài nghiên cứu, Đỗ Nguyên Thương đều lựa chọn cách tiếp cận riêng, phù hợp với đặc trưng đối tượng nghiên cứu.
Ở bài nghị luận về điện ảnh, Đỗ Nguyên Thương không dừng lại ở việc thuật kể nội dung hay bộc lộ cảm xúc trực tiếp, mà đi sâu phân tích cấu trúc hình tượng và ngôn ngữ đặc thù của điện ảnh như một chỉnh thể nghệ thuật tổng hợp. Chị đặc biệt chú ý đến nghệ thuật dựng cảnh, nhịp điệu hình ảnh và sự phối hợp đa tầng của âm thanh – ánh sáng, qua đó lý giải sức ám ảnh của tác phẩm.
Khi bàn về Mùi cỏ cháy, tác giả nhận xét: “Nghệ thuật dựng cảnh rất khoa học và khéo léo, khiến người đọc hình dung được cả biên độ rộng lớn, hoành tráng của chiến trường… từ cảnh rộng, khái quát đến cảnh hẹp, cảnh chi tiết về đời tư nhân vật”; đồng thời nhấn mạnh vai trò của âm thanh như một thành tố tạo nghĩa: “tiếng nhạc, tiếng bom, tiếng côn trùng… tiếng khóc, tiếng hát đều rất thật, rất đời và giàu sức gợi, khắc sâu vào tâm khảm người nghe, người xem”. Từ đó, điện ảnh hiện lên như một “văn bản liên ngành”, nơi hình ảnh, âm thanh, cảm xúc và chất thơ hòa quyện, tạo nên “một bộ phim giàu chất thơ… âm nhạc lắng đọng và lan tỏa ý thơ”, làm nên sức sống bền bỉ và chiều sâu thẩm mỹ của bộ phim.
Trong bài nghiên cứu văn hóa dân gian, cách tiếp cận của Đỗ Nguyên Thương mang tính hệ thống, đặt đối tượng trong chỉnh thể đời sống văn hóa – xã hội và tâm thức cộng đồng. Tác giả không chỉ dừng lại ở việc miêu tả một loại hình dân ca, mà còn phục dựng bối cảnh sinh tồn, môi trường diễn xướng và chiều sâu lịch sử của nó. Khi bàn về hát Rang, tác giả chỉ rõ: “hát Rang là một lối hát dân gian của người Mường ở Yên Lập, Phú Thọ, thường được sử dụng trong các dịp lễ hội, sinh hoạt cộng đồng, hoặc các buổi giao lưu văn hóa”, qua đó định vị loại hình này trong không gian văn hóa sống động của cộng đồng.
Đồng thời, tác giả truy nguyên nguồn gốc và sức sống bền bỉ của nó khi khẳng định: “hát Rang ra đời khởi nguồn từ đời sống lao động của người dân, lưu truyền lại theo hình thức truyền miệng, từ đời này qua đời khác, thế hệ này qua nhiều thế hệ khác”. Chính từ cách tiếp cận ấy, bài viết không chỉ dừng lại ở khảo tả mà đã vươn tới nhận thức văn hóa, góp phần khẳng định giá trị bền vững của văn hóa dân gian trong dòng chảy đương đại.
Với tám bài nghị luận về thơ, Đỗ Nguyên Thương thể hiện rõ nhất “chất tài hoa” của mình. Chị đi từ nhạc tính, hình tượng, ngôn ngữ đến chiều sâu tư tưởng, nhưng không áp đặt lý thuyết khô cứng mà luôn gắn với cảm thụ tinh tế. Có thể thấy ở đó sự kết hợp nhuần nhị giữa trực giác nghệ sĩ và tư duy khoa học của một nhà nghiên cứu.
Trước hết, ở bình diện nhạc tính và cảm giác nghệ thuật, Đỗ Nguyên Thương cho thấy một năng lực “nghe” thơ rất tinh tế. Khi đọc Lính râu ria của Quang Dũng, chị không dừng lại ở việc phân tích nội dung mà đi sâu vào “đêm thơ”, xem đó như một không gian thẩm mỹ nơi âm thanh, ánh sáng và tâm trạng giao thoa.
Những nhận định như “đêm thơ là âm nhạc, là thơ, là đèn hoa đăng… ánh sáng sẽ làm ấm không gian, xua màn đêm u tối và thơ nhạc luôn có sức mạnh tinh thần lớn lao” không chỉ là giải thích mà còn là một cách cảm thơ bằng trực giác, bằng trải nghiệm thẩm mỹ sống động. Từ đó, chị lý giải những chi tiết tưởng như đời thường (cà phê, thuốc lá, ly rượu nhỏ) trở thành “nhu cầu, mơ ước” của người lính – một cách đọc vừa giàu cảm xúc vừa có cơ sở hiện thực.

Bên cạnh đó Đỗ Nguyên Thương còn đặc biệt nhạy cảm với hình tượng thơ. Trong bài viết về Tổ chim của Pờ Sảo Mìn, tác giả phát hiện và nhấn mạnh hình ảnh “một mặt trời hồng đỏ” như một điểm tụ của ánh sáng, sự sống và niềm tự hào quê hương. Chị không chỉ miêu tả mà còn lý giải cách nhà thơ tạo dựng hình tượng: từ những chi tiết gần gũi “hai mảnh vườn rau xanh nho nhỏ/ hai ao hồ nho nhỏ/ như hai lá phổi đỏ…” đến sự nâng cấp thành biểu tượng của sự sống, của sinh tồn. Nhận định về cách dùng từ “hai lá phổi đỏ” thay vì “xanh” cho thấy một con mắt phê bình tinh tường: vừa phát hiện cái mới, vừa lý giải vì sao cái mới ấy có giá trị thẩm mỹ và ý nghĩa biểu tượng.
Ở phương diện ngôn ngữ, chất tài hoa của Đỗ Nguyên Thương thể hiện ở khả năng đi sâu vào cấu trúc lời thơ mà vẫn giữ được giọng điệu giàu cảm xúc. Nhà phê bình chỉ ra hiệu quả của điệp từ, từ láy (“rất nhiều”, “đông”, “nho nhỏ”, “vang vang”…), cách tổ chức câu thơ, thậm chí cả logic “phi lý mà có lý” trong những câu như: “Tôi nghèo không có gì/ Nhưng cái gì cũng có”. Không chỉ dừng ở việc nhận diện thủ pháp, chị còn dẫn dắt người đọc hiểu được cơ chế vận hành của chúng trong việc tạo nên hình tượng và cảm xúc – đó chính là biểu hiện của tư duy khoa học trong phê bình văn học.
Đặc biệt, chiều sâu tư tưởng trong các bài nghị luận được khai mở từ chính cảm thụ nghệ thuật. Ở bài viết về Tiếng hạt nảy mầm của Tô Hà, Đỗ Nguyên Thương không sa vào tranh luận khen – chê đơn thuần mà đi thẳng vào bản chất nhân văn của tác phẩm. Từ việc phân tích hình ảnh lớp học trẻ khiếm thính, cách chuyển đổi cảm giác “từ thính giác sang thị giác” (“hót nắng vàng ánh ỏi”), làm nổi bật một thông điệp sâu sắc: âm thanh không chỉ được “nghe” bằng tai mà còn bằng trái tim. Những nhận định như “âm thanh không phải được cảm nhận bằng thính giác mà được cảm nhận bằng trái tim” hay “bài thơ giúp học sinh hiểu sâu hơn về cuộc sống của những bạn trẻ khiếm thính” cho thấy sự kết nối giữa phân tích nghệ thuật và giá trị nhân văn.
Như vậy, qua các bài nghị luận về thơ, có thể thấy rõ một phong cách phê bình giàu cá tính sáng tạo: đi từ chi tiết nghệ thuật cụ thể đến khái quát giá trị, từ cảm thụ trực giác đến lập luận khoa học. Chính sự hòa quyện ấy đã làm nên “chất tài hoa” của Đỗ Nguyên Thương – một người viết phê bình không chỉ hiểu thơ mà còn “sống” cùng thơ.
Ở bài nghị luận về trường ca Bước gió truyền kỳ của Phan Hoàng được tác giả chú trọng đến cấu trúc trường thiên, cảm hứng sử thi, giọng điệu trữ tình – chính luận, qua đó làm nổi bật đặc trưng thể loại. Cũng qua đây nhà lý luận phê bình đã làm sáng rõ những đóng góp và vị thế đặc biệt, riêng biệt của Phan Hoàng trong thể loại trường ca.
Ba bài nghị luận về truyện ngắn: “Chí Phèo” của Nam Cao, “Bến chợ ngày xưa; Tình người thương hồ ở chợ nổi Cái Răng” của Nguyễn Kim Thanh và tiểu thuyết “Bến không chồng” của Dương Hướng chị lại thiên về phân tích tình huống, kết cấu, điểm nhìn trần thuật… vốn là những vấn đề cốt tủy làm nên giá trị tác phẩm văn xuôi mà các nhà văn khi sáng tác rất chú ý. Chính sự tập trung vào tình huống giàu kịch tính, kết cấu chặt chẽ và điểm nhìn giàu ý nghĩa đã giúp chị khám phá được “sức nén” đặc trưng của thể loại – nơi dung lượng hàm chứa những vấn đề mấu chốt, khác biệt làm nên thành công cho tác phẩm.
Đặc biệt, tám bài viết về các tác giả Phú Thọ không chỉ mang ý nghĩa giới thiệu mà còn góp phần định vị giá trị văn học địa phương trong tổng thể văn học dân tộc. Trong các bài viết đầy cảm xúc của Đỗ Nguyên Thương, ta bắt gặp một nhà nghiên cứu văn hóa “lão làng” Nguyễn Khắc Xương với vẻ đẹp “hiểu theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng: đẹp hình thức và đẹp nhân cách – thực tài”, một con người “đứng vững trong ‘làng văn’ bằng thực tài của mình chứ không hề ẩn theo cái bóng người cha vĩ đại”.
Ta gặp một Nguyễn Đình Ảnh – nhà thơ từng giữ cương vị Chủ tịch Hội VHNT của một tỉnh – nhưng hiện lên không phải ở chức danh mà ở “phong cách giản dị, phong thái tự tại, ung dung”, ở sự “thân thiện, hòa đồng” khiến đồng nghiệp yêu quý. Ta gặp người thầy Dương Huy Thiện – “một đời đi tìm ngọc” – lặng lẽ, bền bỉ với đam mê nghiên cứu văn hóa dân gian, suốt đời “tâm huyết, trách nhiệm với nghề”.
Ở đó còn có nhà thơ Nguyễn Hưng Hải với hành trình sáng tạo bền bỉ, “trên 20 tập thơ” như minh chứng cho một đời say mê thi ca của thi sĩ; có Cầm Sơn với tiểu thuyết Khói đỏ được nhìn nhận từ chiều sâu lao động nghệ thuật “viết với tâm huyết, công phu, mỗi trang viết đều chứa chan cảm xúc”; có Nông Thị Ngọc Hòa – tiếng thơ dân tộc thiểu số mang theo “những âm thanh ngọt thấm tình người”, neo giữ hồn quê trong ký ức và hiện tại. Đó là Đỗ Xuân Thu với những trang văn “giản dị, gần gũi, mộc mạc mà thấm thương”; và Vũ Thanh Thủy – một giọng thơ nữ giàu cảm xúc, tinh tế trong biểu đạt đời sống tâm hồn.
Ở mỗi chân dung, chị vừa trân trọng, nâng niu, vừa tỉnh táo nhận diện giá trị, không sa vào ngợi ca dễ dãi. Chính vì thế, những bài viết ấy không chỉ là những phác thảo chân dung văn học, mà còn là những “định vị học thuật” âm thầm nhưng chắc chắn, góp phần khẳng định rằng văn học Phú Thọ đang hòa vào, đóng góp và làm giàu thêm diện mạo văn học dân tộc.
Cuối cùng, ba bài lý thuyết phê bình cho thấy tác giả không chỉ là người “đọc và cảm” mà còn là người “nghĩ và luận”, có ý thức hệ thống hóa, góp phần làm sáng tỏ những vấn đề căn cốt của lý luận văn học. Từ việc xác lập vai trò của lý luận phê bình trong đời sống văn học như một lực lượng “định hướng và điều chỉnh dư luận”, đến việc chỉ ra thực trạng “trầm lắng”, thiếu đội ngũ “có nghề, có bản lĩnh, có kinh nghiệm”, tác giả đã đặt vấn đề trong một cái nhìn vừa khái quát vừa gắn với thực tiễn.
Đồng thời, tác giả cũng nhấn mạnh tính hệ thống của văn học như một chỉnh thể, đòi hỏi việc tiếp cận phải đặt tác phẩm trong quan hệ với bối cảnh lịch sử, với phong cách tác giả và với các chức năng nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ. Chính từ những luận giải đó, có thể thấy rõ một tư duy phê bình không chỉ giàu trải nghiệm mà còn có chiều sâu lý thuyết, góp phần khơi mở, định hướng và nâng cao chất lượng tiếp nhận cũng như sáng tạo văn học trong bối cảnh hiện nay.
Trong các bài lý luận phê bình của Đỗ Nguyên Thương, điều dễ nhận ra trước hết là khả năng xác lập luận đề một cách dứt khoát, mạch lạc. Chị không đi theo lối nói vòng vo mà thường trực tiếp chạm tới “hạt nhân vấn đề”, từ đó triển khai hệ thống lập luận có định hướng rõ ràng. Bên cạnh đó Đỗ Nguyên Thương không sa vào diễn giải lý thuyết thuần túy mà luôn được nâng đỡ bởi hệ thống dẫn chứng xác thực. Chị thường xuất phát từ chính văn bản tác phẩm, từ câu chữ cụ thể, chi tiết nghệ thuật cụ thể để triển khai lập luận.

Một đặc điểm đáng chú ý trong phê bình của Đỗ Nguyên Thương là không dừng lại ở việc phân tích tác phẩm như một “thế giới khép kín”, mà luôn đặt nó trong những mối quan hệ rộng hơn. Từ một vấn đề của tác phẩm, chị liên hệ đến bối cảnh lịch sử, đến đặc điểm của một giai đoạn văn học, đến thực tiễn giảng dạy trong nhà trường, thậm chí đến cơ chế hoạt động của các hội nghề nghiệp. Những liên hệ này giúp văn chương hiện ra không phải như một thực thể tĩnh, mà như một bộ phận sống động của đời sống xã hội. Nhờ đó, người đọc không chỉ hiểu tác phẩm mà còn thấy được vị trí, vai trò và ý nghĩa hiện thời của nó.
Không những vậy, Đỗ Nguyên Thương còn luôn thể hiện một quan niệm phê bình khá rõ ràng: phê bình là sự kết hợp giữa “khen” và “chê”, nhưng cả hai đều phải dựa trên cơ sở khoa học và thái độ công tâm. Chị phê phán lối phê bình cực đoan – chỉ ca ngợi một chiều, “chê cho mạnh” để tạo ấn tượng. Theo chị, mỗi tác phẩm cần được nhìn nhận trong tính chỉnh thể, trong giá trị cụ thể của nó; có tác phẩm đáng khen nhiều, có tác phẩm cần chỉ ra hạn chế, nhưng tất cả phải “hợp lý, hợp tình”. Chính vì vậy, giọng điệu phê bình của chị thường điềm tĩnh, có độ lùi cần thiết. Ngay cả khi chỉ ra những bất cập của đời sống phê bình, chị vẫn giữ được sự ôn hòa, tránh quy kết thái quá, qua đó tạo nên một phong thái phê bình vừa nghiêm cẩn vừa giàu tính nhân văn.
Ngôn ngữ trong các bài viết của Đỗ Nguyên Thương mang đậm tính học thuật nhưng không khô cứng. Câu văn rõ ràng, mạch lạc, giàu tính lập luận, song vẫn giữ được độ mềm mại của một người sáng tác văn chương. Chị có khả năng chuyển hóa những vấn đề lý luận phức tạp thành những diễn đạt gần gũi, dễ tiếp nhận. Điều này rất phù hợp với người đọc là các học sinh, sinh viên và các thầy cô giáo đang giảng dạy ngữ văn tại các trường phổ thông. Những khái niệm như “tính chỉnh thể của tác phẩm”, “chức năng nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ”… được trình bày bằng một giọng điệu vừa giải thích vừa gợi mở. Đặc biệt, trong nhiều đoạn viết, chất cảm xúc vẫn hiện diện: đó là sự trăn trở trước thực trạng phê bình, là niềm tin vào vai trò của lý luận, là sự thiết tha với việc nâng cao chất lượng dạy và học văn. Chính điều này tạo nên một thứ “hơi ấm” riêng cho văn phong nghị luận của chị.
Với Vẻ đẹp văn chương chuyện của muôn đời, Đỗ Nguyên Thương không chỉ xuất hiện như một người đọc tinh tường mà còn như một chủ thể tư duy lý luận có ý thức hệ thống và trách nhiệm nghề nghiệp rõ rệt. Qua các bài viết, có thể thấy một phong cách phê bình dung hòa giữa tri thức và cảm xúc, giữa phân tích khoa học và trải nghiệm thực tiễn. Ở đó, lý luận không tách rời đời sống, còn phê bình không rơi vào lý thuyết lan man.
Chính sự mực thước trong tư duy, cùng với độ nhạy cảm và chiều sâu học thuật, đã làm nên một giọng điệu riêng: điềm đạm mà sắc sảo, chừng mực mà vẫn giàu sức gợi của Đỗ Nguyên Thương trong đội ngũ những người làm lý luận phê bình văn học đương đại.
LÊ GIA HOÀI















