Ba nhà văn, ba thể loại ở ba thành phố

Vanvn- Khi giới thiệu tập bút ký Hoa trái quanh tôi của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường (Báo Văn nghệ, số 25, ra ngày 24.6.1995), nhà văn Tô Hoài đã có phép so sánh khá thú vị về văn chương của ba nhà văn thuộc ba thành phố Hà Nội – Huế – Thành phố Hồ Chí Minh rằng: “Nếu có thể so sánh thì tôi nghĩ rằng Sơn Nam thuộc đến ngóc ngách những sự tích xưa sau của Sài Gòn – Bến Nghé; tôi thì nhớ ít nhiều tên phố, tên làng Hà Nội; Hoàng Phủ Ngọc Tường thì trầm cả tâm hồn trong khuôn mặt cuộc đời cùng với đất trời, sông nước của Huế”.

Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường tại Hội Nhà văn Việt Nam lúc sinh thời. Ảnh: Tư liệu

Ba nhà văn ở ba thành phố, đều có nhiều bước thử nghiệm và đã thành công với nhiều thể văn khác nhau, nhưng am hiểu đến mức tường tận và thăng hoa một cách trực tiếp, sinh động các vỉa tầng đời sống vào trong tác phẩm, mỗi người đều có một sở trường và thành công bởi một thể văn khác nhau.

Từ góc nhìn thể loại và sự nghiệp sáng tạo

Hoàng Phủ Ngọc Tường (1937-2023) là người thành công nổi bật ở thể ký, mà chủ yếu là bút ký. Khi nói về thể ký trong nền văn học hiện đại nước ta, có lẽ Hoàng Phủ chỉ xếp sau cây “đại thụ” Nguyễn Tuân. Ông từng có vài tập thơ (Những dấu chân qua thành phố 1976, Người hái phù dung 1992), từng với tay làm “người hái phù dung”. Thơ ông hay, cũng nặng đầy cảm xúc và kiêm ái với nỗi đau của phận người, nhưng không thành công chói lọi như bút ký.

Ngoài hàng trăm bài báo nghị luận, ông sáng tác gần 30 tác phẩm với nhiều tiểu loại như bút ký, ký sự, hồi ký, tản văn, nhàn đàm… thậm chí có cả truyện dài, nhưng ông viết cái gì cũng mang hơi ấm nồng nàn của bút ký, cái “tạng” trong cách diễn ngôn của ông thuộc về bút ký.

Đó là sự hòa quyện, xuyên thấm một cách nhuần nhuyễn giữa trí tuệ và trữ tình, giữa tư duy nghiên cứu, ngổn ngang sự kiện và tình cảm, cảm xúc trào dâng, chồng lên từng lớp sóng ngôn từ, luôn có sự xuyên thấm giữa giọng điệu nghị luận sắc bén và chiều sâu suy tưởng một cách đa chiều kích, là kết quả của sự tổng hợp vốn tri thức phong phú về triết học, văn hóa, lịch sử, địa lý… thông qua cảm thức sáng tạo, hiện lên trong từng câu chữ đầy khúc chiết và riết róng.

Sơn Nam (1926-2008) cũng bắt đầu con đường văn chương bằng thơ, nhưng hai tập thơ viết về đề tài địch vận trong kháng chiến chống Pháp (Lúa reo 1948, Cho lòng em vui 1950) không thành công. Từ đó ông chuyển hẳn sang lĩnh vực văn xuôi, là tác giả của gần 50 đầu sách, trong đó bao gồm biên khảo, truyện dài, hồi ký, bút ký, tùy bút… Ông viết biên khảo khá nhiều (đến 22 tác phẩm) nhưng thành công nổi bật của ông là ở thể loại truyện và truyện ngắn.

Các tác phẩm văn chương của ông vốn là truyện kể, lại mộc mạc chân chất, nên tuy đậm nhạt khác nhau, trong biên khảo của ông luôn có yếu tố của ký và truyện, bên cạnh các dữ liệu được khảo tả một cách chính xác. Cũng trong mạch cảm xúc và lối diễn ngôn đó, có thể nhận ra trong ký của ông cũng luôn có truyện và trong truyện của ông lại ít nhiều có phẩm chất của ký. Nhưng chỉ với truyện và truyện ngắn, với giọng điệu giản dị, rỉ rả, điềm tĩnh không bao giờ được đẩy đến mức cao trào của ông, mới trở thành lối văn chương Sơn Nam theo kiểu của Sơn Nam.

Nhà văn Sơn Nam được mệnh danh “Ông già Nam Bộ”. Ảnh: Tư liệu

Trong ba tác giả thì Tô Hoài (1920-2014) có một sự nghiệp lẫy lừng với hơn 100 tác phẩm, gồm tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện và tự truyện, truyện thiếu nhi, truyện dài kỳ, ký sự, hồi ký, bút ký, nhật ký, tạp văn, kịch bản phim, tiểu luận, kinh nghiệm sáng tác… Trong đó, ông có đến hàng chục tập truyện ngắn, 6 tập ký sự, 2 tập hồi ký và 1 tập bút ký, nhưng đóng góp lớn nhất của ông là ở tiểu thuyết – cũng là thể văn choán chật tâm hồn, thu hút tâm thức sáng tạo của ông.

Ngay cả những trang hồi ký, theo lối viết dựng truyện bằng các chi tiết chân thật như trong Cỏ dại (1944), Cát bụi chân ai (1992) cũng đầy tính truyện, có vóc dáng của những trang tiểu thuyết, gắn liền với những sự kiện lịch sử của đất nước và số phận từng con người. Ba người khác (viết 1992, in 2006) là tiểu thuyết cuối cùng của ông viết về cải cách ruộng đất, được coi là “tác phẩm làm thay đổi diện mạo văn học Việt Nam” hiện đại.

Pho sử sống, tự điển sống, bách khoa thư về văn hóa bản địa

Đó là các khái niệm mà người đọc suy tôn chung cho cả ba nhà văn, điều đó không phải là ngẫu nhiên. Hoàng Phủ Ngọc Tường là người sinh ra ở quê hương Triệu Phong, Quảng Trị, nhưng trưởng thành gắn bó với Huế và trở thành người phát ngôn cho bản sắc/ văn chương/ văn hóa xứ Huế.

Như dòng máu nóng chảy trong huyết quản, cái tâm thức Huế trở nên thường trực trong đời sống con người và sáng tạo của ông. Với trữ lượng tri thức đồ sộ, sự am hiểu đến tường tận về thiên nhiên cây cỏ, con người với cuộc sống vốn có của nó ở bản địa, nên khi nói đến đời sống tinh thần, văn chương và văn hóa Huế, không thể không nói đến Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Trong khi đó, Sơn Nam được coi là “cuốn tự điển sống của Sài Gòn – Gia Định”. Ông nổi tiếng là người đọc nhiều, đi nhiều và viết được nhiều. Lối viết của ông thiên về khẩu ngữ, kể nhiều hơn tả, nhưng ít dùng phương ngữ và mọi điều đều tiếp cận đến ngọn ngành.

Chưa kể đến các thể văn khác, chỉ mỗi biên khảo ông đã có đến hơn hai mươi công trình nghiên cứu tỉ mỉ, cẩn trọng và đầy tâm huyết về Sài Gòn – Gia Định và miền Tây Nam Bộ, cũng đủ để cho những người cùng giới phải ngưỡng mộ. Đó là chưa tính đến truyện ngắn, thể loại văn học mà ông có đóng góp một cách đặt sắc, góp phần mở ra và khơi thông nguồn mạch văn chương Nam Bộ cho các tác giả trẻ sau này như Vũ Hồng, Nguyễn Ngọc Tư…

Nhà văn Tô Hoài trong góc làm việc của ông ở nhà riêng năm 2010. Ảnh: Tư liệu

Ào ạt, mạnh mẽ, cuồn cuộn là thế giới của hàng ngàn con chữ đang tuôn chảy như dòng sông Tô Lịch, sau khi đã lắng đọng, được chưng cất trong ngôi nhà tâm hồn của nhà văn như phủ Hoài Đức xa xưa, đã dựng nên tòa “lâu đài” văn chương mang tên Tô Hoài, khiến cho người đọc phải ngưỡng vọng.

Cả ba tác giả văn xuôi tài hoa của ba thành phố, nay đều đã đi xa, nhưng không hề khuất bóng. Bởi vì văn chương đậm đặc chất liệu mỹ cảm ở vùng đất mà họ gắn bó máu thịt sẽ còn vang vọng, gọi mời nhiều thế hệ người đọc.

Các nhà văn hình như ai cũng lo xa, luôn nghĩ đến “bách dư tam bách…”, nhưng không phải lo, cho đến nay người ta vẫn nhớ vóc dáng ông Hoàng Phủ gầy gò cong mình trên chiếc xe đạp, ông già Sơn Nam suốt đời đi bộ, hoặc nụ cười mà như không cười của người sinh ra bên dòng sông Tô Lịch. Quan trọng hơn, vóc dáng tâm hồn, gương mặt tinh thần của các ông còn cuốn hút nhiều thế hệ sau, trên từng trang sách.

PHẠM PHÚ PHONG

Báo Đà Nẵng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *