Chính Hữu – Nhà thơ của các chiến sĩ

(Kỷ niệm 65 năm thành lập Hội Nhà văn Việt Nam, 1957-2022)

Vanvn- Với bài thơ Đồng chí (1948), nhà thơ Chính Hữu đã tạo một dấu ấn sâu sắc về vẻ đẹp bình dị mà cao cả của người chiến sĩ trong kháng chiến chống Pháp. Sau này, Ngọn đèn đứng gác cũng là tuyệt bút  ông sáng tác khi thanh niên cả nước đang trẩy quân vào chiến trường giải phóng miền Nam và được nhạc sĩ Hoàng Hiệp phổ nhạc, càng có sức lay động lớn trong tâm hồn mỗi người…

Nhà thơ Chính Hữu (1926- 2007)

Năm 2006, kẻ hậu sinh là tôi, lần đầu tiên, nhân kỷ niệm 60 năm Toàn quốc kháng chiến, mới được nghe trực tiếp các cựu chiến binh – những chiến sĩ của Trung đoàn Thủ đô năm xưa, huân huy chương lấp lánh trên ngực ca vang bài hát Ngày về tại Nhà văn hóa Thông tin thành phố. Nhạc sĩ Lương Ngọc Trác hứng khởi hát cùng đồng đội. Âm hưởng vừa hào hùng vừa bi tráng của bài hát cuốn tôi vào không khí hào sảng của các chiến sĩ đã từng “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Thật tiếc là nhà thơ Chính Hữu, tác giả của bài thơ Ngày về lúc đó đang phải chiến đấu níu giữ lại cuộc sống trên giường bệnh.

Khi tôi tìm đến ông để viết bài thì ông đã về cõi vĩnh hằng mùa đông năm 2007, để lại bao tiếc thương cho đồng đội và để lại  cho đời những bài thơ rất hàm súc, kiệm lời mà lấp lánh mãi trong lòng độc giả yêu thơ.

Những ngày Hà Nội sôi sục chuẩn bị kháng chiến, ông được trở lại Hà thành, cùng anh em củng cố đại đội tự vệ Hàng Gai thuộc khu Đông Thành của Liên khu I. Nhưng rồi khả năng văn chương của chàng thư sinh đã lọt vào “tầm ngắm” của ông Hoàng Đức Nghi mà anh em ngày ấy gọi thân mật là Nghi “gù”, “duyệt” ngay ông vào Ban Tuyên truyền, làm tờ báo Chiến thắng của Liên khu I. Tờ báo chỉ nhỏ bằng tờ giấy A4 bây giờ, nhưng lại thật sự là người bạn của cán bộ chiến sĩ, nó thôi thúc các chiến sĩ gìn giữ, giành lại từng ngôi nhà, góc phố… Những ai đã quyết tử với quân thù cho đến ngày  17.2.1947 sẽ không bao giờ quên, trong đội hình lui quân, tiểu đoàn 103 đi sau cùng có nhiệm vụ đốt lửa để nghi binh quân địch. Ký ức ấy sống dậy trong ông những ngày Trung đoàn Thủ đô đóng quân ở Đại Từ: “Nhớ biết bao những mái nhà hoang/ Bức tường đổ điêu tàn ta từng trấn giữ/ Đêm ta ra đi đất trời bốc lửa/ Cả kinh thành nghi ngút cháy sau lưng”. Đó là thơ kết tinh những lời gan ruột của người cán bộ  đại đội Trung đoàn Thủ đô đã trải qua 60 ngày  chiến đấu trong vòng vây của kẻ thù, để có những câu bi hùng rung động hồn người đến thế!

Bài thơ đã đi vào trái tim những người con Hà Nội đang xa nhà, xa phố phường thân yêu. Nhạc sĩ Lương Ngọc Trác đã  từng là chiến sĩ của đại đội Hàng Gai kể: Bài thơ gợi lại trong chúng tôi những ngày máu lửa oanh liệt trên từng đường phố thân yêu, giúp chúng tôi khuây quên thiếu thốn. Giữa năm 1947, tôi phổ nhạc và sau đó, tôi thường vừa đàn ac-cooc-đê-ông vừa hát.  Năm 1948, độc giả biết đến Chính Hữu với bài thơ Đồng chí, cho đến nay, vẫn là một trong số những bài thơ hay nhất viết về người lính thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp. Một lần nữa, ông đã cho thấm vào tác phẩm cái hồn của phố phường Hà Nội để có những câu thơ xuất thần “Mái buồn nghe sấu rụng”. Đó là thời gian các văn nghệ sĩ sáng tác phục vụ cho chủ trương tổng phản công, chuẩn bị tiến về giải phóng Thủ đô: Nguyễn Đình Thi có Hà Nội đêm nay, Văn Cao có Tiến về Hà Nội. Nhưng ông đã tạo được nét thơ riêng của mình với cảm xúc dồn nén mà vẫn đẹp trong hình tượng thơ. Sau này, ông tâm sự với bạn đọc: “Tôi thích những câu thơ hàm súc, nói rất ít nhưng gợi rất nhiều những ý tưởng… Tôi tự xác định mình chỉ nên là một người làm thơ nghiệp dư, để có thể  chỉ viết những điều nội tâm mình thôi thúc phải viết!”.

Điều đó càng đúng với nhiệm vụ ông phải đảm đương: công tác quản lý tuyên huấn trong quân đội và Ban Chấp hành Hội Nhà văn, thật khó để có giờ phút dành cho thơ.”

Những năm chống Mỹ, Chính Hữu lại xuất thần với chùm thơ, trong đó nổi bật là Ngọn đèn đứng gác, in đậm dấu ấn trong lòng bạn đọc. Hồn thơ của ông vẫn chung thủy với mạch nguồn kỷ niệm về đồng chí, đồng đội Trung đoàn Thủ đô. Trò chuyện với tôi trong buổi chiều đông cuối năm, bà Nguyễn Thị Xuân Lịch, vợ nhà thơ cho biết: “Cuốn  nhật ký của Chính Hữu đã giúp nhà văn Nguyễn Huy Tưởng tìm hiểu thực tế chiến đấu của Trung đoàn với những cán bộ có tài như Vũ Yên, Vũ Lăng, Siêu Hải, Hoàng Phương và xây dựng nhân vật Loan trong tác phẩm Sống mãi với Thủ đô. Với việc sáng tác thơ, ông không bao giờ vội vàng công bố mà thường  chỉnh sửa rất lâu cho hoàn thiện, khi nào thật vừa ý mới cho đăng”.

Ông về cõi vĩnh hằng với tâm thế thanh thản của người đã dâng hiến hết mình cho sự nghiệp văn học nghệ thuật và thống nhất đất nước. Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt hai), năm 2000 cho tác phẩm Đầu súng trăng treo, Huân chương Độc lập hạng Nhì của Đảng và Nhà nước trao tặng là phần thưởng cao quý cho nhà thơ. Một phần thưởng vô giá nữa là độc giả không bao giờ quên thơ ông.

***

Nhà thơ Chính Hữu, tên thật là Trần Đình Đắc, quê gốc ở huyện Lộc Hà (nay là huyện Can Lộc), tỉnh Hà Tĩnh. Ông chào đời ở Vinh năm 1926 và gắn bó với Hà Nội khi học trường Văn Lang, phố Lý Quốc Sư. Đỗ tú tài phần thứ nhất, ông tiếp tục học trường Lu-i Patxtơ, lấy bằng tú tài toàn phần. Tham gia khởi nghĩa, ông đảm trách nhiệm vụ Bí thư Thanh niên Cứu quốc thành phố Vinh.

PHẠM KIM THANH

Báo Sức khỏe và Đời sống

>> Dũng Hà: Nhẫn để đứng dậy, vượt qua và đi tới!

>> Lê Đạt tư duy về thơ

>> Đọc lại Trần Dần, nghĩ về thơ hiện nay

>> Nhớ mãi nhà văn Hữu Mai

>> Nhà thơ Hải Đường: Cây hạnh phúc nắng chưa tròn bóng

>> Nguyễn Đình Thi, ngôi sao không tắt

>> Đã cách nhau một tiếng nấc, một thôi đường

>> Nguyễn Công Hoan – Bậc thầy về truyện ngắn châm biếm

>> Nguyễn Trọng Tạo người thơ đa tài

>> Nhà văn Võ Quảng: Những sáng tác thân thuộc cho thiếu nhi

>> Văn Cao – Xanh lá thiên thai

>> Đỗ Chu – Người thích làm việc và thích nói chuyện 

>> Nhà thơ Bế Kiến Quốc: Hãy nhìn anh như nhìn một dòng sông

>> “Núi Đôi” và cô du kích mãi mãi mười bảy tuổi

>> Thanh Tịnh, từ thi sĩ lãng mạn đến nhà thơ – chiến sĩ

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *