Nhớ mãi nhà văn Hữu Mai

(Kỷ niệm 65 năm thành lập Hội Nhà văn Việt Nam, 1957-2022)

Vanvn- Hữu Mai tên đầy đủ là Trần Hữu Mai, sinh năm 1926 tại Thanh Hóa, quê gốc của ông là thành phố Nam Ðịnh (Nam Ðịnh). Sinh ra và lớn lên vào đúng lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang cần đến sức lực của một thế hệ thanh niên đứng lên cầm súng chiến đấu giải phóng đất nước, và cũng như nhiều nhà văn khác, ông đã tự giác, đã nhiệt tình đáp ứng yêu cầu ấy.

Nhà văn Hữu Mai (1926-2007) 

>> Nguyễn Đình Thi, ngôi sao không tắt

>> Đã cách nhau một tiếng nấc, một thôi đường

>> Nguyễn Công Hoan – Bậc thầy về truyện ngắn châm biếm

>> Nguyễn Trọng Tạo người thơ đa tài

>> Nhà văn Võ Quảng: Những sáng tác thân thuộc cho thiếu nhi

>> Văn Cao – Xanh lá thiên thai

>> Đỗ Chu – Người thích làm việc và thích nói chuyện 

>> Nhà thơ Bế Kiến Quốc: Hãy nhìn anh như nhìn một dòng sông

>> “Núi Đôi” và cô du kích mãi mãi mười bảy tuổi

>> Thanh Tịnh, từ thi sĩ lãng mạn đến nhà thơ – chiến sĩ

>> Nguyễn Khắc Phê: Người “di truyền” chữ

>> Những trăn trở của Nguyễn Minh Châu về vai trò người nghệ sĩ

>> Nhà văn Nguyễn Thi, thân phận và chức năng của người cầm bút

>> Nhà văn Anh Đức như tôi đã biết

>> Nhà văn Vũ Tú Nam và chuyến đi trở về nơi chốn tuổi thơ

>> Về thơ Ngân Giang

>> Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm: “Tôi chọn tự do thi sĩ”

Một đời làm báo

Ông chiến đấu trong tự vệ thành Hà Nội, rồi nhập ngũ, tham gia nhiều trận đánh lớn, trong đó có chiến dịch lịch sử Ðiện Biên Phủ năm 1954, đồng thời với việc làm báo và viết văn – Và càng về sau, viết văn càng trở thành công việc chính của ông.

Tất cả những tác phẩm của Hữu Mai đều gắn liền với những sự kiện lịch sử trọng đại trong những bước thăng trầm của đất nước. Chẳng hạn, về cải cách ruộng đất và sửa sai, ông có tiểu thuyết Những ngày bão táp (xuất bản năm 1957); về kháng chiến chống thực dân Pháp, ông có tiểu thuyết Cao điểm cuối cùng (1960); về kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ông có tiểu thuyết Ông cố vấn, ba tập (1985, 1987, 1990), v.v. Ðó là mới chỉ kể những tác phẩm dài.

Ngay đến cả những truyện ngắn của Hữu Mai như Mất hết (1957) đã một thời gây xôn xao dư luận cũng nóng hổi tính thời sự. Ông còn là tác giả kịch bản của các bộ phim: Hoa Ban đỏ, Ông cố vấn, Cao điểm cuối cùng

Trong sự nghiệp của mình, Hữu Mai chủ yếu là một nhà văn viết về chiến tranh, viết về người lính cách mạng, và ở lĩnh vực này, ông là một cây bút xông xáo. Người đọc cảm nhận rõ sự trung thực dưới ngòi bút của ông: trong bất cứ hoàn cảnh nào, ở bất cứ cương vị nào, người lính, người dân của chúng ta cũng chiến đấu hết mình vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Chẳng hạn, người chiến sĩ không quân trong Vùng trời, truy kích địch, máy bay hết dầu, được phép nhảy dù, nhưng anh đã không tìm cách để thoát chết cho riêng mình, mà quyết tìm cách cứu cho được máy bay… Nhưng những khi cần, nhà văn cũng không né tránh những tổn thất trong chiến đấu, như đề cập sự hy sinh của cả một trung đội, hay phê phán một cán bộ tiểu đoàn đã dao động, sợ chết, bỏ chạy trong một trận chiến đấu Cao điểm cuối cùng…

Một đặc điểm, một sự kiện, và một vinh dự trong đời văn Hữu Mai mà không một nhà văn nào có được: ông đã chấp bút, thể hiện (không phải ghi chép) nhiều tập hồi ký của Ðại tướng Võ Nguyên Giáp: Từ nhân dân mà ra, Những năm tháng không thể nào quên, Chiến đấu trong vòng vây, Ðường tới Ðiện Biên Phủ, Ðiện Biên Phủ – điểm hẹn lịch sử… ở đó, những sự kiện trọng đại của dân tộc, những hoạt động quân sự lớn, với hình ảnh các nhà cách mạng, và cả quần chúng nhân dân trong những tháng năm chiến đấu giành độc lập cho Tổ quốc đã hiện lên trung thực, hấp dẫn, không phải với ngòi bút của một nhà sử học, một nhà quân sự, mà của một nhà văn gần trọn đời là người lính.

Một hiện tượng cũng lý thú là, với thành công của bộ tiểu thuyết Ông cố vấn, Hữu Mai là nhà văn duy nhất của Việt Nam được mời gia nhập Hiệp hội quốc tế nhà văn viết truyện trinh thám (Association Internationale des Ecrivains Policier) thành lập năm 1989 tại Mexico.

Những năm nhà văn Hữu Mai chưa chuyển sang công tác ở Hội Nhà văn Việt Nam, còn ở trong quân đội, tôi may mắn có được một thời gian sinh hoạt cùng một cơ quan, và cùng một chi bộ với ông, được đi thực tế với ông vài ba chuyến. Tôi nhận ra một đặc điểm ở nhà văn Hữu Mai: đặc biệt khiêm tốn.

Với khoảng 60 đầu sách đã in, có thể nói là một khối lượng đồ sộ đối với một nhà văn Việt Nam hiện đại, trong đó có những tác phẩm được giới nghiên cứu và bạn đọc đánh giá cao; lại từng được nhiều giải thưởng: Giải A văn xuôi Hội Nhà văn Việt Nam, Giải thưởng Văn học Bộ Quốc phòng… và đặc biệt là Giải thưởng Nhà nước về văn học, nghệ thuật. Hữu Mai vẫn không hề thỏa mãn, trái lại còn đặt một “yêu cầu văn chương” rất cao cho mình. Ðiều này không chỉ có trong cảm nhận của tôi. Ðã có lúc, Hữu Mai viết nó lên giấy: “Tôi thuộc thế hệ nhà văn – chiến sĩ. Chiến tranh chỉ dành đủ thời gian cho công việc người lính, còn văn chương thì chưa. Tôi mong giữ lại trên trang viết những gì mình đã biết, đã trải, chưa kịp nghĩ gì nhiều tới nghề văn. Nhưng cũng chẳng có gì để rút kinh nghiệm, để nuối tiếc. Là người cầm bút, tôi đã được ưu đãi sống trọn vẹn một thời đại lịch sử của dân tộc có biết bao điều cần ghi lại” (Tổng tập nhà văn quân đội, tập 4, NXB Quân đội nhân dân – 2000).

Trong một lần khác, Hữu Mai còn nói rõ hơn nữa hoài bão của mình: “Tôi chỉ mong ghi lại một cách trung thực, càng nhiều càng tốt, những gì đã biết về một thời kỳ lịch sử hiếm có, rất đẹp, rất phong phú của dân tộc, mà mình đã may mắn, vừa là nhân chứng, vừa là người trong cuộc. Tôi ít có tham vọng văn chương vì thế hệ chúng tôi không đủ thời gian để làm công việc này” (Nhà văn Việt Nam hiện đại, Hội Nhà văn Việt Nam – 2007).

Chúng ta thấy, Hữu Mai ý thức rất rõ về trách nhiệm, về nghĩa vụ và vinh dự của người công dân sinh ra trong thời kỳ đất nước bị xâm lăng; đồng thời cũng thấy ông có một yêu cầu rất cao đối với nghề văn, đối với nhà văn. Ðó là điều rất đáng để cho những người viết văn trẻ của chúng ta suy nghĩ.

Nhà văn Hữu Mai đã ra đi, nhưng tác phẩm của ông thì còn ở lại, cũng ở lại với bạn đọc với đồng nghiệp niềm tiếc thương vô hạn. Các thế hệ hôm nay và mai sau, sẽ nhớ đến ông, khi nghĩ về những tháng năm gian khổ, anh dũng của dân tộc, mà ông đã góp phần xứng đáng ở cả hai tư cách: người công dân và người cầm bút; hay nói một cách khác: ở tư cách một nhà văn – chiến sĩ.

HỒNG DIỆU

Báo Nhân Dân

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *