“Một đời An, ngàn kiếp Thuận” khơi dậy ký ức văn hoá làng quê

Vanvn- “Tôi sinh ra ở An Thuận, một làng nhỏ nép mình bên dòng sông Bồ hiền hoà. Tuổi thơ tôi trôi qua ở đó, bình dị như câu ca dao, như chiếc áo mẹ may, như tiếng gà gáy vọng từ đầu xóm đến cuối làng mỗi sớm mai. Khi ấy, tôi chẳng hề biết mình đang sống giữa thiên đường, vì trẻ con thì đâu có hiểu giá trị những điều mình đang có, cho đến khi đi mất hoặc đi xa…”

Tác giả Nguyễn Duy Tổng

1. Đọc tản văn Một đời An, ngàn kiếp Thuận1 qua giọng kể nhẹ, lặng mà thấm sâu của tác giả Nguyễn Duy Tổng đi từ những quan sát rất đời thường để khẽ khàng mở ra những miền suy tưởng về Làng An Thuận – một không gian của ký ức chung, biểu tượng chung và những chuẩn mực cộng đồng được lưu giữ qua đình, chùa, miếu, nghĩa địa, họ tộc, lễ hội, và lớp lớp chuyện kể dân gian. Không gian làng An Thuận trong tập tản văn không đơn thuần là phông nền hồi ức mà là một chỉnh thể văn hoá lưu giữ nếp sống, tập quán và căn tính cộng đồng. Nhìn từ phương diện thẩm mĩ thì tác phẩm lắng vào lớp cảm thức an nhiên, tĩnh tại, nơi cuốn sách nhẹ nhàng mở ra một triết lý sống.

“Nhưng nếu hỏi đến sông Bồ thì không phải ai cũng biết tên. Có lẽ vì sông Bồ thẹn thùng không muốn bước lên sân khấu của thi ca nhạc hoạ, không khoác lên mình những vần thơ kiêu sa, trữ tình. Nhưng sông Bồ vẫn chảy một cách từ tốn ¬¬¬và miệt mài qua thời gian như tính cách của con người miền Trung: Lặng lẽ mà sâu sắc, chịu thương chịu khó” (Có một dòng sông ký ức, sđd, tr.33).

Sự mộc mạc, lặng lẽ, không phô diễn của sông Bồ cũng phản chiếu phần nào con người viết ra nó – một Tiến sĩ ngành năng lượng tái tạo từ đại dương – vốn thuộc lĩnh vực công nghệ kỹ thuật, chứ không phải văn chương. Tản văn của Nguyễn Duy Tổng cuốn hút bởi người viết không cố cắt nghĩa, chỉ đang sống và nghĩ, để người đọc cũng lặng lẽ đồng hành. Điều làm nên nét riêng của tác phẩm không chỉ nằm ở những hồi ức được kể lại, mà còn ở khả năng lưu giữ hồn cốt của một không gian văn hoá qua ngôn ngữ, ký ức cộng đồng.

2. Mạch văn hoá về phong tục, tập quán, sinh hoạt đời thường như Lễ Tết, bữa cơm gia đình, cách ứng xử giữa các thế hệ, nếp sinh hoạt thường nhật, lao động, học tập, canh tác, buôn bán… hiển hiện trên mỗi khúc tản văn, ngân lên những thanh âm của ký ức và hoài niệm, đọc khúc nào cũng muốn dừng lại, lắng trên từng câu chữ: Tuổi thơ, Trường làng, Tám xóm… rưỡi, “Hu ba hồn, chín vía”, Con khiết bông, Lễ tế Xuân – Tảo mộ, Lá rụng về cội, Ra huyện đi thi…

“Tôi sinh ra ở An Thuận, một làng nhỏ nép mình bên dòng sông Bồ hiền hoà. Tuổi thơ tôi trôi qua ở đó, bình dị như câu ca dao, như chiếc áo mẹ may, như tiếng gà gáy vọng từ đầu xóm đến cuối làng mỗi sớm mai. Khi ấy, tôi chẳng hề biết mình đang sống giữa thiên đường, vì trẻ con thì đâu có hiểu giá trị những điều mình đang có, cho đến khi đi mất hoặc đi xa…” (Tuổi thơ, sđd, tr.7,8)

Những câu văn đọc lên ngân nga như một tứ thơ, bởi phép lặp và phép so sánh giàu hình ảnh, gợi ra một miền quê êm ả, thanh bình. Chừng đó thôi cũng đủ khơi dậy trong lòng người đọc nỗi nhớ về tuổi thơ (cái nghịch lý của tuổi thơ là khi đang sống trong hạnh phúc, ta không biết đó là hạnh phúc), về những tháng ngày an nhiên mà khi đi xa, con người mới nhận ra giá trị.

“Tôi vẫn còn giữ nguyên vẹn cảm giác lần đầu ấy. Khi giám thị đọc tên, từng đứa tìm đúng bàn, ngồi lặng im chờ đề được mang đến. 15 phút chờ phát đề là 15 phút dài nhất của tuổi thơ, dài hơn cả những buổi trưa tháng Sáu đợi hết thời sự để xem phim Bao Công, dài hơn cả những chiều ngủ dậy muộn ngồi ngóng mẹ đi chợ về…” (Ra huyện đi thi, sđd, tr. 55).

Có những câu văn nhẹ như nắng mai, đọc xong khiến người ta chợt tự hỏi: mình đã từng như vậy chưa? Đó cũng là cách văn chương khẽ vẫy gọi người đọc trở về với miền ký ức của chính mình. Chỉ bằng lối so sánh giản dị giữa thời gian chờ mở đề thi với niềm mong ngóng xem phim hay đợi mẹ đi chợ về, tác giả đã chạm đến miền ký ức rất đỗi quen thuộc của mỗi người. Bởi ai rồi cũng đi qua cái tuổi học trò với những hồi hộp, chờ đợi, để rồi nhiều năm sau nhớ lại vẫn thấy lòng khẽ rung lên. Lối viết từ cái riêng đến cái chung, nghệ thuật so sánh, giản dị mà gợi nhiều liên tưởng là thế mạnh của thể tản văn, Nguyễn Duy Tổng đã làm được điều đó.

Ngay từ nhan đề Một đời An, ngàn kiếp Thuận, tác giả đã hé lộ tầng nghĩa cơ sở của tác phẩm “Một đời An, trăm vạn ngày ý nghĩa/ Ngàn kiếp Thuận, làm cát bụi quê hương” (Mở đầu, sđd, tr.6). An Thuận không chỉ là tên làng, mà còn trở thành biểu tượng cho một nếp sống thuận hoà, nghĩa tình, bền bỉ. An Thuận với lối sống trọng tình, gắn bó cội nguồn, biết tiết chế, nhẫn nại, sống hài hoà với thiên nhiên, biết nâng niu cái bình dị. Qua các khúc tản văn: Miếu – hồn thiêng làng An Thuận, Dồn la dồn! Tiến lên phía trước hỡi anh em, Dưa chuối muối chua, “Mình từ nhỏ bé mà lên!”… tác giả đã khơi mở chiều sâu văn hoá tinh thần của làng quê, nơi lưu giữ ký ức cộng đồng và những giá trị sống bền vững qua bao thế hệ.

Khác với tiểu thuyết hay truyện ngắn, nơi tác giả có thể ẩn mình sau nhân vật, cốt truyện, tình huống; tản văn là thể loại mà dấu ấn chủ thể hiện lên rất rõ. Tản văn cũng là nơi nhà văn “giữ lại” những gì đang phai nhạt. Người đọc không chỉ tiếp nhận điều được kể, mà còn chạm vào cách một con người cảm, nghĩ, và đối thoại với đời sống. Bởi thế, đọc những khúc tản văn viết về làng An Thuận, người đọc dễ dàng nhận ra một cái nhìn thấm đẫm tình người. Đó là không khí rộn ràng của hội đua thuyền, là đám tang có cả cộng đồng cùng tiễn biệt, là những mùa lũ lụt cả xóm làng cùng nhau vượt qua; là tuổi thơ ngủ nướng dưới cột cờ sân trường, lắng nghe ông nội kể chuyện đêm trăng, và chi tiết “con khiết bông” – cách gọi mộc mạc của “con không biết” – theo tác giả suốt hành trình năm tháng. Chính những chữ tưởng như nhỏ nhoi ấy lại cất giữ hồn vía của một miền ký ức.

“Hằng Mô nghe ấm áp, rặt âm địa phương, không trúc trắc như Lư Môn, cũng không khuôn phép như Hàng Môn. Nó là danh từ riêng đã thấm vào từng lời ru, từng câu chuyện kể bên bếp lửa, từng tiếng gọi nhau về nhà mỗi độ chiều buông của người An Thuận…” (Hằng Mô, sđd, tr. 14).

Nguyễn Duy Tổng cảm nhận tên làng không chỉ bằng nghĩa mà còn bằng âm sắc – thứ âm thanh đã ngấm vào ký ức cộng đồng. Từ sự cẩn trọng trong tra cứu cho đến cảm xúc trữ tình dạt dào, tác giả đã khiến tên gọi Hằng Mô không chỉ hiện lên như một địa danh, mà còn như một miền ký ức văn hoá. Cùng với đó, đình làng, miếu mạo – (Văn Chỉ, Miếu – Hồn thiêng làng An Thuận, sđd) tín ngưỡng và phong tục thấm đẫm trong từng trang viết, góp phần khắc hoạ chiều sâu văn hoá của quê hương An Thuận.

Bìa tập tản văn “Một đời An, ngàn kiếp Thuận” của Nguyễn Duy Tổng

Viết về quê hương, tác giả không chỉ chìm trong hoài niệm mà còn suy tư về những biến động của đời sống hiện tại. Trong cái nhìn ấy thấp thoáng nỗi trăn trở trước những chuyển dịch giữa quê và phố, giữa nếp cũ và cái mới. Đáng chú ý, ý thức ấy đã manh nha từ rất sớm. Trong Ra huyện đi thi (sđd, tr.51), tác giả từng ghi lại cái ngơ ngác của học trò làng trước sự bề thế của chốn thị thành. Chính trong những va đập âm thầm ấy, tình yêu quê hương trong trang viết Nguyễn Duy Tổng không chỉ là nỗi nhớ, mà còn là một cách gìn giữ và đối thoại với những giá trị đang đứng trước thử thách của thời gian.

“Trường làng không dạy tôi cách sống giữa lòng phố thị, không dạy tôi lối đi đứng ở nước ngoài… Nhưng đó là nơi cho tôi những bài học dài nhất, dài đến nỗi vài chục năm sau tôi mới có thể hiểu được một cách trọn vẹn” (Trường làng, sđd, tr.29).

Khúc tản văn là một sự chiêm nghiệm về hành trình từ làng ra phố, từ ngây thơ đến từng trải. Chỉ sau bao thăng trầm của cuộc sống, con người mới thật sự hiểu hết giá trị của những bài học đầu đời và nhận ra điều sâu xa mà ngôi trường quê lặng lẽ trao gửi. Nhà văn không né tránh những giới hạn của trường làng, không tô hồng hay thiêng hoá. Chính vì thế, sự nhận ra ấy tuy muộn mà sâu “Nhưng đó là nơi cho tôi những bài học dài nhất…”. Đây cũng là cái nhìn khá thống nhất trong tập tản văn Một đời An, ngàn kiếp Thuận: nhìn về ký ức không bằng hoài niệm đơn thuần, mà bằng độ lùi của trải nghiệm.

“Ngày đó tôi nghĩ quê hương chỉ là một vùng đất cằn cỗi, một nơi mà người ta phải rời đi để tìm cơ hội. nhưng càng đi xa, tôi càng nhận ra rằng quê hương không chỉ là một nơi để từ đó ra đi, mà là một chốn để thấy mà trở về. Ra đi là lựa chọn, trở về là thiêng liêng! Và trên hết, quê hương là tình người, là cái tình đùm bọc, yêu thương” (Lá rụng về cội, sđd, tr.203)

Giọng thủ thỉ tâm tình, da diết, và đậm chất hoài niệm của tác giả đã khơi dậy trong người đọc tình cảm thiêng liêng với quê hương. Tình làng nghĩa xóm muôn đời không phai trong tâm thức người Việt, qua văn của Nguyễn Duy Tổng càng thêm đằm sâu. Qua đó, tác giả không chỉ nhắc nhở về cội nguồn mà còn khơi dậy trong người đọc sự nâng niu đối với tình cảm đùm bọc, yêu thương – cốt cách bền lâu của làng quê Việt.

Nhà phê bình Hoàng Thị Thu Thuỷ

3. “Rồi tôi đi. Đi xa hơn cánh đồng làng, xa hơn cả bến đò ngang trên dòng sông quê… Thành phố sáng đèn nhưng không có ánh sáng nào ấm bằng ngọn đèn cũ trên bàn học ở quê. Đường phố đông người nhưng không có ai gọi tên tôi bằng cái giọng quê nhà thân thuộc nữa!” (Tuổi thơ, sđd, tr.10, 11).

Đi xa không chỉ mở rộng không gian sống, mà còn mở ra khả năng thấu hiểu những giá trị tưởng như bình dị của quê nhà. Chỉ khi rời xa, những điều tưởng như bình dị như như “ngọn đèn trên bàn học cũ” hay “giọng quê” mới hiện lên da diết đến thế. Tản văn của Nguyễn Duy Tổng lắng đọng ở chất trữ tình đằm sâu; từ vài chi tiết rất đỗi đời thường, tác giả đã khơi dậy những dư ba cảm xúc trong lòng người đọc.

Dẫu xa quê, lời ăn tiếng nói của quê nhà vẫn in đậm trên những trang tản văn: “Tao rấn cho một đạp”, Khổ quá ôn ơi, Bài Tới, “Hu ba hồn, chín vía”, “Mi thấy con rồng thiệt chưa mà biết không giống?”, Con khiết bông… sđd. Ở đây ngôn ngữ không chỉ là phương tiện biểu đạt mà còn là ký hiệu của bản sắc văn hoá. Từ phương ngữ, cách xưng hô, thành ngữ, tục ngữ, đến lối nói dân dã đều thấm vào từng câu chữ, làm nên giọng điệu riêng cho tác phẩm. Chính những chữ nghĩa mộc mạc, đôi khi đậm sắc thái địa phương ấy đã góp phần lưu giữ hồn vía quê nhà. Bởi vậy, như TS. Trần Đức Anh Sơn đã viết: “Đọc xong cuốn sách, có thể độc giả không nhớ hết từng chi tiết, nhưng chắc chắn sẽ giữ lại trong lòng một cảm giác ấm áp…” (Lời bạt, sđd, tr.239).

Giá trị của Một đời An, ngàn kiếp Thuận không chỉ nằm ở những thông điệp được bày tỏ trực diện, mà còn ở lớp mĩ cảm âm thầm lắng dưới bề mặt của câu chữ, nơi cảm xúc được biểu đạt bằng tiết chế hơn là phô bày. Với tác phẩm này, làng An Thuận đã có thêm một dấu ấn văn chương để gìn giữ ký ức và hồn cốt văn hoá của mình – điều thật đáng trân trọng.

Huế ngày 17.5.2026

HOÀNG THỊ THU THUỶ

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *