Vanvn- Ở tuổi 78, đôi mắt đã rạn chân chim của ông ánh lên niềm vui khôn tả, bởi đã “trả nợ”, đã thể hiện được tình yêu với Hà Nội, với Hồ Tây – mảnh đất phồn thịnh, giàu đẹp cùng bao sự tích, linh thiêng bao đời nay; vui vì đã nói lên được cảm xúc khát khao của mình trước cuộc sống còn nhiều gian khó, bộn bề nhưng vẫn phơi phới, lạc quan. Vì luôn có lúa – biểu tượng của cuộc sống ấm no và luôn có hoa – biểu tượng của cái đẹp, của đời sống tinh thần người Hà Nội.

“Lúa ơi thơm ngát cho em hát cùng người/Bởi lúa yêu cuộc đời nên xanh thắm tươi ruộng đồng/Sóng lấp lánh mặt hồ cho hoa em ngào ngạt/Hương hoa bay dào dạt/Làng hoa em gọi mùa – Mùa xuân….”
Khi những ca từ và giai điệu đó cất lên trên sóng phát thanh – Truyền hình, trong các chương trình ca múa nhạc…khắp từ Trung ương đến địa phương trên cả nước, công chúng yêu âm nhạc dễ dàng nhận ra đó là ca khúc “nằm lòng”: Mùa xuân, làng lúa, làng hoa của Đại tá, Nhạc sỹ Ngọc Khuê. Nói “nằm lòng” bởi “Bài ca đi cùng năm tháng” này đã có 44 mùa xuân (sáng tác 1980) và 12 năm kể từ khi được vinh danh Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật (2012).
Với 44 mùa xuân qua ấy, tôi từng nghe, xem trực tiếp và gián tiếp nhiều tên tuổi thế hệ ca sĩ thể hiện, đặc biệt là hơn 10 năm trở lại đây từ khi tác phẩm được vinh danh Giải thưởng Nhà nước, “tần suất” xuất hiện trên các phương tiện truyền thông đại chúng của Nhạc sĩ Ngọc Khuê càng dày đặc, kể cả trả lời phỏng vấn – trò chuyện trên báo chí; Nhưng đến nay – vào một buổi chiều cuối năm áp Tết Ất Tỵ (2025), lần đầu tiên tại nhà riêng Nhạc sĩ (Khu đô thị Royal City, quận Thanh Xuân) tôi mới cùng ông trò chuyện mà “điểm nhấn” là hoàn cảnh sáng tác, cảm xúc trước tác phẩm “đóng đinh” vào công chúng âm nhạc khi mùa xuân đang hối hả về.
Bên ấm trà nóng hổi, xôn xao giữa cái lạnh cắt thịt da của Hà Nội, ông cùng tôi ngược dòng thời gian điểm lại quá trình sáng tác: Trước năm 1981, trong gia tài âm nhạc của mình, ông đã có hơn 300 tác phẩm. Nhưng vẫn chưa có sáng tác nào về Hà Nội, về Hồ Tây – nơi ông sinh sống và theo con đường binh nghiệp (Quân chủng Phòng không – Không quân). Điều đó làm ông đau đáu mãi. Có lẽ, xuất phát từ tình yêu Hà Nội, yêu những làng hoa Nghi Tàm, Ngọc Hà – nơi ông có những người bạn thân yêu, trong đó có bạn cùng quân ngũ mà ông từng qua lại. Riêng ở Ngọc Hà, ông được chứng kiến những trận chiến đấu ngoan cường của quân dân Hà Nội chống trả những trận bom kinh hoàng của Đế quốc Mỹ làm những “pháo đài bay rụng đỏ mặt hồ” trong chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng 12.1972.
Tiếp thêm nước trà nóng cho tôi, ông kể tiếp: Vào một ngày cuối đông năm 1980, ông lang thang đạp xe vòng quanh Hồ Tây, mới phát hiện ra rằng, khi đi qua đoạn đường từ dốc Bưởi trở lên thì gặp Hồ Tây, phía bên trái con đê là cánh đồng lúa của các xã Xuân La, Xuân Đỉnh; bên phải Hồ Tây là các làng hoa Nghi Tàm, Nhật Tân…Vậy là ý tưởng Hồ Tây bên lúa, bên hoa đã trào dâng trong ông. Ngay lập tức câu hát “Lúa ơi thơm ngát cho em hát cùng người – Bởi lúa yêu cuộc đời nên xanh thắm tươi ruộng đồng/ Sóng lấp lánh mặt hồ cho hoa em ngào ngạt, hương hoa bay dào dạt, làng hoa em gọi mùa/ Mùa xuân”… ra đời. Và cái “tứ” của bài hát xuất hiện từ đó. Về nhà rồi ông mới “gia công” đoạn đầu và khúc kết. Ở tuổi 78, đôi mắt đã rạn chân chim của ông ánh lên niềm vui khôn tả, bởi đã “trả nợ”, đã thể hiện được tình yêu với Hà Nội, với Hồ Tây – mảnh đất phồn thịnh, giàu đẹp cùng bao sự tích, linh thiêng bao đời nay; vui vì đã nói lên được cảm xúc khát khao của mình trước cuộc sống còn nhiều gian khó, bộn bề nhưng vẫn phơi phới, lạc quan. Vì luôn có lúa – biểu tượng của cuộc sống ấm no và luôn có hoa – biểu tượng của cái đẹp, của đời sống tinh thần người Hà Nội.

Khi hỏi thêm ông về chuyên môn, nhạc sĩ tuổi Đinh Hợi (1947) cho biết: “Tôi đã thử bằng nhiều cách khác nhau để mở đầu bài hát (Bên lúa, anh bên lúa, Cánh đồng làng ven đê/Hồ Tây xanh mênh mông trong tươi thắm nắng chiều/Làng em làng hoa, hoa thơm ngát bốn mùa), cuối cùng thấy hợp lý khi lấy âm hưởng của một điệu hò (ở điệu hò tiết tấu 4 nốt móc kép nhịp 2/4, trong bài này biến thành 4 chùm móc đơn nhịp 6/8 và nhóm này được duy trì đến hết bài) để thể hiện sự lấp lánh của mặt gương Hồ Tây, sự dào dạt êm ả của sóng nước, sóng lúa. Còn đoạn kết của bài hát đồng thời là điệp khúc (đôi lứa/Tình yêu/Mùa xuân/Làng lúa/Làng hoa/Mùa xuân) vừa là cao trào của âm nhạc, vừa là tình cảm như đột ngột bừng dậy của tình yêu đôi lứa. Đến đây chỉ còn lại như cái cớ, như điểm tựa để nhường chỗ cho tình yêu và hạnh phúc con người”- nhạc sĩ cắt nghĩa.
Với 78 tuổi đời, 42 tuổi quân, 58 tuổi sáng tác qua một khối lượng tác phẩm âm nhạc đồ sộ gần 400 ca khúc đủ các đề tài (chủ yếu là về các quân, binh chủng, quân khu, quân đoàn…); với vô số giải thưởng lớn về âm nhạc, Huân, Huy chương các loại…, nhưng chỉ bằng một Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật cho cụm tác phẩm: Mùa xuân làng lúa làng hoa, Tình yêu với người chiến sĩ và Hạt nắng hạt mưa, đã định danh và khẳng định “thương hiệu” Ngọc Khuê trong nền Âm nhạc Cách mạng Việt Nam. Chỉ riêng Mùa xuân làng lúa làng hoa, ông vinh dự nhận được hàng loạt phần thưởng, danh hiệu cao quý khác: Giải thưởng Bộ Văn hóa – Thông tin (1983); Cúp Vàng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2010) và được bình chọn là một trong những bài hát hay nhất Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; Được Bộ Thông tin và Truyền thông bình chọn là một trong mười bài hát hay nhất về Hà Nội. Đối với cuộc đời người làm sáng tạo nghệ thuật, không hạnh phúc nào lớn lao và thiêng liêng hơn thế.

Cuộc trò chuyện của chúng tôi gần đến phần kết thúc thì chuông điện thoại của ông đổ dồn: Lại có báo, đài “đăng ký” với nhạc sĩ “gặp gỡ cuối năm”. Ngoài kia, nắng nhạt chiều đông Hà Nội choàng xuống dòng đời nhộn nhịp và vạn vật với những “hợp âm” sôi động của thành phố khi tết đã cận kề. Và nghe đâu đây, âm hưởng mùa xuân đang dập dìu, náo nức với những giai điệu xuân tươi xanh và bất tận của các nhạc sĩ tên tuổi trên mọi miền đất nước. Mùa xuân làng lúa làng hoa lại góp cùng bản “đại hòa ca” khi điệp trùng, hùng vĩ, khi sâu lắng, thiết tha với những Mùa xuân đầu tiên của Văn Cao; Mùa xuân nho nhỏ, Tình ca mùa xuân của Trần Hoàn; Mùa xuân đến rồi đó của Trần Chung; Mùa xuân trên quê hương của Hoài Mai; Mùa xuân đi chợ Bắc Hà (đặc trưng cho Tây Bắc) của Phùng Chiến; Sông Đakrông mùa xuân về (đặc trưng cho Tây Nguyên) của Tố Hải; Mùa xuân trên Thành phố Hồ Chí Minh của Xuân Hồng. Rồi những cung bậc, sắc thái của mùa xuân như tình yêu lứa đôi, tình yêu thiên nhiên, quê hương và không gian xuân đất nước, như: Mùa xuân gọi (Trần Tiến), Cung đàn mùa xuân (Cao Việt Bách) Lời tỏ tình của mùa xuân (Thanh Tùng), Anh cho em mùa xuân (Nguyễn Hiền), Thì thầm mùa xuân, Chiều xuân (Ngọc Châu), Hoa cỏ mùa xuân (Bảo Chấn), Đoản ca xuân (Thanh Sơn) Mưa xuân (Đức Trịnh), Hạt mưa mùa xuân (Trương Ngọc Ninh), Nắng có còn xuân (Đức Trí), Mùa chim én bay (Hoàng Hiệp), Một nét ca trù ngày xuân (Nguyễn Cường), Lắng nghe mùa xuân về (Dương Thụ) và Phút giao thừa lặng lẽ (Huy Tuấn)…
Xin khép lại bài viết này bằng lời của chính tác giả ca khúc bất hủ Mùa xuân, làng lúa làng hoa qua bài viết “Những khúc ca xuân còn xanh tươi mãi” in trong Tổng tập “Ngọc Khuê – tác giả và tác phẩm”: “Mùa xuân. Đã đành rồi. Nhưng đâu chỉ mùa xuân, những giai điệu ấy chỉ bắt đầu từ mùa xuân, cũng như đời người bắt đầu từ tuổi trẻ vậy. Không biết tự bao giờ, mỗi lần mùa xuân gõ cửa là tâm hồn của biết bao người lại rung lên những cảm xúc lạ lùng. Đó là mùa của chồi non lộc biếc, mùa của những khoảnh khắc ý nghĩa, những phút giây đoàn tụ, những ước vọng, hoan ca…”!
NGUYỄN ĐỨC DŨNG















