Cuộc tình bí mật – Truyện ngắn của An Bình Minh

Vanvn- Đang đánh nhau nảy lửa, một ngày bắn bốn năm trận vào lũ giặc lái Mỹ trên bầu trời Uông Bí thì bỗng nhiên đầu tháng 11 năm một chín sáu tám, Hoa Kỳ đơn phương ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở ra. Chuyện gì thế này, mưu mô gì thì chưa biết, nhưng lính pháo ngơ ngác trước một bầu trời trong xanh bồng bềnh những bông mây trắng, bảng lảng bình yên.

Cảnh mới khác lạ không tưởng. Nhất là lúc này. Lính Đại đội 3 vẫn đang bộn bề với hình ảnh oai hùng của trận bắn máy bay Mỹ hôm qua. Đậm đặc nhất là chiếc F.8E của Hải quân Mỹ vừa bị bắn rơi và cảnh dân quân xúm xít quanh tên phi công núc ních to lớn, như bầy kiến tha con sâu rau muống về tổ. Nhưng bây giờ thì không rồi. Không còn cảnh những viên đạn trung cao được cắt ngòi nổ bắn ra hàng nghìn mảnh đạn, nở bung như bông hoa lửa vây quanh lũ giặc trời. Lính đang canh trời thì nay chuyển sang canh pháo. Không đánh nhau lính cao xạ trở nên vô dụng, buồn chân buồn tay. Giặc Mỹ ngừng bắn từ vĩ tuyên 20 trở ra, có nghĩa chiến trường miền Trung vẫn còn nguyên đó. Làng mạc và các con đường vào Nam vẫn ngày đêm bị giặc tàn phá, reo rắc đau thương. Mong ước duy nhất của lính phòng không lúc này là được tiếp tục ra mặt trận chiến đấu.

Nhà văn An Bình Minh

Thế rồi cầu được ước thấy. Ngay tháng sau, Đại đội 3 có 9 người được lên đường vào miền Nam đánh giặc. Chưa chi đại đội đã như vắng đi một nửa, ai cũng nao nao vui buồn. Vui vì đồng đội được lên đường đi chiến đấu còn buồn là không biết bao giờ mình được đến lượt. Chỉ có anh Huỳnh Lúa chắc là “yên chí lớn”. Một niềm vui “hết lớn” vừa đến với anh.

Anh Huỳnh Lúa là người miền Nam duy nhất còn sót lại ở Đại đội 3. Gọi sót lại là nói cho vui, chứ anh Huỳnh Lúa là con út trong gian đình 3 chị em ở Cần Thơ gạo trắng nước trong. Tập kết ra Bắc, anh Tư có mặt ở đại đội pháo 37 ly ngay từ ngày thành lập quân chủng Phòng không Không quân. Hai mươi nhăm tuổi, dạo đóng quân ở Sóc Sơn, anh Tư Lúa cưới được một cô thôn nữ cực kỳ xinh đẹp mà lính vẫn đùa là ở trong một ngôi làng không có trẻ con, được suy ra từ câu thơ nổi tiếng bảy năm về trước em mười bảy/ Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng. Chắc có lẽ vì chuyện này mà bao lần anh Tư xin vào Nam chiến đấu vẫn chưa được trên chuẩn y, hẹn khi có thời cơ sẽ cho anh lên đường. Và bây giờ thời cơ đã đến. Anh Tư được thỏa nguyện về quê hương chiến đấu.

Biết anh Tư Lúa đang vui, Thịnh Quang “nhóm trưởng” của 4 thằng “tên phố” khu Đống Đa là Cát Linh, Thái Hà, Nam Đồng liều mạng lên xin anh Tư cho vào làng mua con gà về làm bữa tiệc chia tay với Thái Hà cũng được vào Nam đợt này. Nhưng vào miền Nam là đi chiến đấu, không việc gì phải chia tay chia chân, nhất là bịn rịn ảnh hưởng cả người đi lẫn kẻ ở là chuyện này bất thành văn – Cấm.

Lúc nghe Quang báo cáo, anh Tư bảo: “Tớ bàn giao công tác rồi. Cậu xin chính trị viên phó đi”. Nhưng nghĩ thế nào, anh gọi Quang lại dặn: “Thôi được. Cậu đi đi. Anh em làm với nhau gọn gọn thôi. Không cần kêu tớ. Hỉ”. Hiểu rồi, tội nghiệp. Chính trị viên Huỳnh Lúa sợ mang tiếng đây. Song có lẽ đây là lần đầu tiên anh vượt nguyên tắc.

Nhưng hơn hẳn chuyện này là một bất ngờ ngay sau đó. Lúc Thái Hà đang làm gà cho bữa ăn tươi thì anh Huỳnh Lúa đến bảo: “Này! Cho em một tiếng vào chia tay, ôm hôn người yêu nhé. Nhớ về đơn vị đúng giờ”. Sao. Sao? Thái Hà lại được đối xử tốt đến thế? Nhất lại là một tình yên bí mật, chưa được đơn vị cho ý kiến. Đi là để cắt đứt quan hệ yêu đương với Yến Nhi à? Không. Bậy. Nhóm lính Đống Đa gạt ngay. Giờ này mà còn cho con chim sổ lồng là đủ biết thằng Hà được tin tưởng thế nào rồi. Hơn nữa lại là “hôn người yêu” thì không ai nỡ đùa với người lính ra mặt trận cả. Hơn nữa đây lại là vượt – nguyên – tắc – lần – thứ – hai của anh Tư Lúa. Thái Hà được nghe lời bình của nhóm, vội bật dậy liều mình như chẳng có, lao thẳng ra đường không kịp rửa tay. Chính trị viên Huỳnh Lúa trông thấy phì cười, nói với theo: “Ấy… từ từ kẻo té”. Lần đầu tiên được nghe tiếng “té” lạ tai. Sao mà yêu thương đến thế.

* * *

Gọi là tình yêu bí mật vì Thái Hà phạm vào điều cấm kỵ, nằm trong một quy định mà lúc đến Uông Bí, đại đội đã được quán triệt. Đó là, năm một chín năm tư, trong khi miền Bắc được hòa bình thì Quảng Ninh và Hải Phòng là khu vực tập kết 300 ngày của quân Pháp trước khi rút khỏi miền Bắc Việt Nam. Với đặc thù đó nên tình hình an ninh trật tự vô cùng phức tạp. Tại đây, bộ máy ngụy quyền và tay sai của Pháp tận dụng tối đa thời gian tập kết để thiết lập hệ thống tình báo gián điệp, gieo rắc tâm lý hoang mang lo sợ trong nhân dân. Lúc Đại đội 3 đến Quảng Ninh là đã 10 năm sau giai đoạn 300 ngày, tình hình chính trị xã hội đã được vãn hồi và ổn định, nhưng trong kỷ luật dân vận hơn đâu hết vẫn cần được giữ nghiêm, mọi quan hệ đều phải thông qua tổ chức.

Chiểu điều này vào mối quan hệ của hai người thì Thái Hà đã bị vướng vào điều cẩm thứ nhất. Yến Nhi là con gái của một nhà may khá giả có cửa hàng lớn giữa thị xã đã khất lần không chịu vào hợp tác xã. Cũng vì thế, Nhi chưa phải là đoàn viên. Cô trở thành thợ may lành nghề “cha truyền con nối” ngay từ khi mới mười lăm tuổi. Tốt nghiệp lớp 10, tự nghĩ khó có khả năng xuống Hải Phòng thi vào đại học vì lý lịch, cô được bố mẹ đã cho ở nhà mở một cửa hiệu may riêng. Hà gặp Nhi trong một hôm lần đến căn nhà tranh của cô ở nơi sơ tán để sửa quần áo. Lính Hà Nội là thế. Quân phục phát đúng số nhưng vẫn cứ phải sửa lại để mặc vừa cho khít với người cho nó đẹp và khỏe mạnh. Lần ấy Khánh chỉ ngồi nán lại đúng 5 phút, nói dăm ba câu nhát gừng, thế mà cũng đủ để bùng lên ngọn lửa tình le lói. Và tình trong như đã, hứa hẹn ngày gặp lại.

Nhưng cả tuần sau đã quá ngày hẹn lấy quần áo mà Hà vẫn không có dịp nào được ra ngoài. Trận chiến diễn ra liên miên, lính trực máy đo xa giữa trời giá lạnh ở vùng đất “quê hương” gió mùa Đông Bắc khắc nghiệt, mà trong lòng Hà lại rừng rực, cồn cào nỗi nhớ Yến Nhi. Cuối cùng thì, may quá Thịnh Quang vốn được anh Thành, Trung đội trưởng B chỉ huy chiều chuộng như em trai, dù chưa đến lượt vẫn linh động cho Quang đi chặt lá ngụy trang. Thế là Quang được giao nhiệm vụ đi lấy giúp quần áo và quan trọng hơn cả là chuyển một bức thư của Hà viết cho Yến Nhi.

Tranh của họa sĩ Lê Trần Thanh Thủy

Được Hà cho đọc bức thư ngỏ vài dòng, cộc lốc đến mức vô lý, Quang góp ý thẳng thừng: “Ba chấm là tình trong như đã tức là yêu rồi đấy. Nhưng yêu rồi thì cứ viết mẹ nó ra, “Yến Nhi yêu quý” hay Yến Nhi yêu thương đi. Đằng này… việc gì mà phải trống không thế”. Lại nữa, “Thư tình thì cứ phải dán kín để em nó thấy đây là riêng tư, là rất thiêng liêng và trân trọng. Hiểu chưa?”.

Hiểu rồi. Nhưng nghe xong lời cố vấn tỷ mỷ của bạn, Hà ái ngại vò giấy vài lần, cuối cùng vẫn chỉ dám viết Yến Nhi… (ba chấm) và nói lý do mong ngóng ngày ra lấy quần áo nhưng còn bận chiến đấu, vân vân… Rồi dán kín phong bì. Quang bực lắm, lẩm bẩm: “Bố khỉ. Nói mãi mà vẫn ba chấm. Thôi được. Để tao”.

Thực ra, “ba chấm’ cũng đã từng là ước mơ của Thịnh Quang. Cũng như Thái Hà, Nam Đồng và cả Cát Linh nữa đều đi bộ đội lúc đang mười bảy tuổi. Nhưng Quang có vẻ khá hơn Hà cái khoản văn vẻ lưu loát, dù chính anh cũng chưa hề một lần được lấy cớ nắm tay một em nào. Cũng giống như Hà, trong sổ lưu niệm của Quang chỉ có mỗi một mống bạn nữ cùng lớp. Nhưng được cái đặc biệt hơn là sau mấy dòng chúc tụng “chân cứng đá mềm” chung chung, Quang đã được đính hẳn chiếc ảnh 3×4 của một cô gái xinh xắn tết hai bím tóc đuôi sam dán cuối trang viết. Vào bộ đội, Quang đã bóc ra để hy vọng ở đằng sau tấm ảnh sẽ có dòng chữ Quang…  (và ba chấm). Nhưng tại đó trắng tinh, khiến anh đành lấy bút giả nét viết của con gái ghi vào đó chữ “Quang…” – có ba chấm. Để rồi sau đó, hơn một chục lần Quang đã khoe với đồng đội về sự thầm kín ý tại ngôn ngoại của dòng ba chấm này.

* * *

Quang đến nhà Yến Nhi lấy quần áo giúp bạn. Tưởng “ông mối” phải nói năng khéo léo ngọt ngào thế nào, hóa ra Quang cũng chỉ là thằng bạo mồm trong công sự. Chưa đến nỗi phải gãi đầu bẻ khục tay, nhưng anh chẳng biết nói gì đành vào thẳng vấn đề: “Thái Hà nó nhớ em lắm. Kể về em suốt. Nhưng không dám viết gì đâu, chỉ có ba chấm thôi. Thế tức là yêu đấy. Em viết gì cho nó đi. Anh chờ”. Ấy vậy mà vừa nghe xong, Nhi đã bật dậy chạy vào buồng lục bút, xé tờ giấy ở cuốn sổ tay viết ngay cho Hà một lá thư rồi dán kín. Ra ngoài đồi vắng, Quang bóc trộm thư ra xem thấy cũng “Anh Hà…” – ba chấm, xuống dòng. Nhưng nội dung thì tuy ngắn gọn song chứa đựng tình cảm… cực kỳ, khỏi chê: “Em cũng nhớ anh nhiều lắm, nhưng không có cách nào gặp được anh. Anh đừng buồn nhé. Lúc nào em cũng nghĩ đến anh. Nhất định anh em mình sẽ gặp được nhau, anh à”. Thế này là được quá rồi. Quang khoái chí, trên đường về rẽ vào bếp anh nuôi xin cơm nguội dán lại, đến tiểu đội đưa bức thư cho Hà. Như vừa lập được chiến công lớn, Quang vênh mặt lên, giọng tỉnh queo: “Này. Mở ra đọc tao nghe. Chắc là ngon đấy”.

Nhưng mối tình đầu của đôi uyên ương còn non nớt, chưa đủ sức cất cánh bay đã bị cơn cuồng phong dữ dội như vòi rồng ở cửa sông Bạch Đằng hút lên vùi dập quăng quật. Đơn vị chưa biết, nhưng ngoài thị xã thì dư luận đã chín nẫu với những lời dèm pha đâm bị thóc chọc bị gạo, biến họ thành những kẻ tội đồ. Đầu tiên là gia cảnh của Yến Nhi. Cô là con gái của một nhà may gia truyền khá giả có cửa hàng lớn giữa thị xã từ hồi còn Pháp chiếm đóng, mà như thế thì có khi còn may quần áo cho cả lính Pháp nữa. Vậy là tư sản rồi, có khi còn dính líu cả với địch. Gia cảnh như vậy là lạc hậu rồi, có đơn vị nào lại cho bộ đội của mình yêu một cô gái như thế.

Cuối cùng là đến hoàn cảnh bản thân của Hà cũng chẳng có yếu tố nào tốt đẹp, thuận lợi cho cuộc tình mỏng manh. Trai Hà Nội, phổ cổ đấy em ơi. Nó khéo miệng lắm, chót môi đầu lưỡi thôi. Gái Hà Nội xinh xắn mỹ miều thiếu gì, chưa kể đời lính thì nay đây mai đó, nó sẽ còn gặp biết bao cô gái trẻ đẹp khác, dại gì lại đi yêu gái phố núi. Yến Nhi đẹp thì có đẹp thật, nhưng cũng chỉ là con cá vàng trong bể kính ở tỉnh lẻ thôi em ơi. Tưởng thế đã hết chuyện dèm pha nhưng đến cả cái họ tên của hai người cũng là cái cớ để những tọc mạch chia duyên rẽ thúy. Trịnh Thái Hà và Nguyễn Thị Yến Nhi tức là Trịnh Nguyễn phân tranh đấy. Làm sao mà yêu nhau cho được.

Sau rồi thì đơn vị cũng biết, nhưng không thấy các thủ trưởng nhắc nhở nói gì. Nhưng gay go nhất là việc Thị đội trưởng vào đơn vị phản ánh với cấp ủy Đại đội 3 về chuyện Thái Hà “luyến ái yêu đương không lạnh mạnh” với con gái một gia đình thành phần bất hảo, từng giúp tây đánh ta, từ lâu đã bị chính quyền địa phương “gạch đít”. Chuyện này đúng là oan ức ngút trời. Thực chất thì là chính tay Thị đội trưởng này đã yêu Yến Nhi nhưng bị cô từ chối. Nghe nói có lần Yến Nhi đã thổ lộ với bạn bè, cái lão mặt rỗ ấy tấn công cô không được, đã dọa cả bố mẹ cô nếu không cho con gái yêu mình thì sẽ bị tố cáo chuyện trước kia thân thiết với lính Pháp, may cả quần áo cho giặc.

Nhưng chuyện ấy ai mà thành minh với chi bộ cho được. Chi bộ Đại đội 3 có 11 người, mọi chuyện sinh hoạt nội bộ của họ với quần chúng tất nhiên đều là những điều bí mật. Đã mấy lần, Quang dựa vào tình thân với anh Thành, Trung đội trưởng B chỉ huy, đã mạnh dạn thăm dò về chuyện của Thái Hà đã được chi bộ đánh giá như thế nào, nhưng anh Thành không nói. Chỉ một lần, nhân lúc hai anh em vui vẻ tâm sự chuyện quê hương, anh Thành nhân thể bảo: “Em dặn bạn, làm gì thì làm đừng để ảnh hưởng đến chiến đấu”. Lời khuyên dễ dãi của anh Thành được hiểu đơn giản là đơn vị không đánh giá gì, nhưng không được như lần trước, xin phép một đằng lại đi làm một nẻo – Xin ra ngoài cắt tóc, nhưng lại dấu quần áo đem đi sửa. Sửa quần áo là cấm đã đành, nhưng tội nặng hơn là Hà đã dám “làm chuyện đã rồi” mà Quân đội thì chúa ghét điều ấy.

Thế rồi. Sau chuyện cản phá khốc liệt của thị đội trưởng là đến chuyện mấy anh thợ mỏ ở Vàng Danh. Có thể nói họ là đối thủ nặng kỳ nhất. Chủ nhật nào họ cũng dập dình quanh cái cửa hàng không dán bảng hiệu của Yến Nhi ở vùng đồi sơ tán vắng vẻ. Sửa quần áo chỉ là cái cớ để họ ngồi lại hàng giờ bên cô tán chuyện. Họ khỏe mạnh, thẳng thắn, tương lai của họ với lương thợ mỏ cộng phụ cấp độc hại cao chót vót. Đến ngay cả quần áo bảo hộ lao động cũng được nhập từ nước ngoài; tiêu chuẩn nhu yếu phẩm đường sữa, thịt cá của họ được ưu tiên chỉ dưới mức chuyên gia Liên Xô ở nhà máy điện Uông Bí. Họ mạnh bạo với lời hứa có độ chênh lệch một trời một vực so với anh binh nhất Thái Hà, mặt non choẹt chẳng biết trói gà có chặt không, chưa kể – không biết họ có độc miệng không – đời lính sống chết cũng chẳng biết thế nào. Tương tự, ngoài chuyện ấy ra thì cũng có mấy đồng đội biết cuộc tình của Hà, họ suy bụng ta ra bụng người chẹp miệng dèm pha. Yêu thì cứ yêu thôi, nhưng họa có là điên mới bỏ hộ khẩu đàng hoàng thủ đô để lên tít Uông Bí thâm sơn cùng cốc mà lấy vợ đất rừng phố núi.

Ôi… chỉ như thế thôi đã cho thấy cuộc tình của Nhi và Hà xa vời, eo le cách trở, đủ để viết thành thiên tình sử lâm ly bi đát.

* * *

Hòa Bình. Lúc Thái Hà đang chiến đấu trong một đơn vị pháo 37 ly ở mãi tít tận Tây Nguyên. Không lâu sau, anh được giải ngũ, về Hà Nội với bố mẹ.

Hà ở nhà với mẹ hai ngày, đến ngày thứ ba anh tức tốc lên thị xã Uông Bí cưới Nhi làm vợ. Công khai một cuộc tình bí mật khó hiểu, không lời thề non hẹn biển, thời gian được gặp nhau tính bằng phút còn xa nhau là những tháng ngày không bấm đủ đốt ngón tay. Vậy mà bây giờ họ đã mãi mãi bên nhau.

Tháng 5.2026

AN BÌNH MINH

(Rút từ tiểu thuyết đang viết Hoa Lửa)

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *