Vanvn- Văn hóa ứng xử giữa con người với con người ở Việt Nam là sự tiếp nối, kế thừa những giá trị tốt đẹp trong truyền thống và bổ sung những giá trị văn hóa ứng xử hiện đại. Những khía cạnh đa chiều trong văn hóa ứng xử giữa con người với con người cần được nghiên cứu toàn diện nhằm góp phần xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong bối cảnh mới, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.
1. Văn hóa ứng xử là một phương diện của văn hóa, phản ánh hệ giá trị, chuẩn mực, phương thức sống của con người và trình độ văn minh của mỗi dân tộc. Văn hóa ứng xử của người Việt Nam được hình thành, bồi đắp qua quá trình lao động, sản xuất, dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm trên nền tảng bản sắc văn hóa dân tộc. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” đã xác định bản sắc dân tộc Việt Nam là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân – gia đình – làng xã – Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống… Như vậy, đặc điểm tinh tế trong văn hóa ứng xử của người dân Việt Nam được xác định là một trong những đặc trưng, đặc điểm tạo nên nét đặc sắc trong văn hóa của dân tộc ta.
Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nghị quyết Hội Trung ương 9 khóa XI “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” đã đề ra mục tiêu phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa. Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo. Những đặc tính này quy định, chi phối cách ứng xử giữa người với người trong xã hội. Nghị quyết nhấn mạnh cần xây dựng và phát huy lối sống “Mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”; hình thành lối sống có ý thức tự trọng, tự chủ, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ môi trường; kết hợp hài hòa tính tích cực cá nhân và tính tích cực xã hội; đề cao trách nhiệm cá nhân đối với bản thân, gia đình và xã hội. Khẳng định, tôn vinh cái đúng, cái tốt đẹp, tích cực, cao thượng; nhân rộng các giá trị cao đẹp, nhân văn. Đây cũng chính là những định hướng để mỗi người dân Việt Nam thực hành những ứng xử có văn hóa trong thực tiễn đời sống.
Trong bối cảnh đẩy mạnh hội nhập quốc tế, trước những tác động của thời kỳ mới, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh cần: “Đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ. Từng bước vươn lên khắc phục các hạn chế của con người Việt Nam; xây dựng con người Việt Nam thời đại mới, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại”(1). Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng nhấn mạnh yêu cầu gắn kết xây dựng văn hóa với xây dựng con người Việt Nam thời kỳ mới để hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân một cách toàn diện: “xây dựng con người Việt Nam thời kỳ đổi mới, phát triển, hội nhập với những giá trị chuẩn mực phù hợp, gắn với giữ gìn, phát huy giá trị gia đình Việt Nam, hệ giá trị văn hóa, giá trị của quốc gia – dân tộc; kết hợp nhuần nhuyễn những giá trị truyền thống với giá trị thời đại, như: Yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo(2). Qua đây có thể thấy, những phẩm chất mà con người Việt Nam cần hướng tới để phù hợp với thời kỳ mới là những giá trị vừa mang tính truyền thống vừa mang tính hiện đại, trong đó có những yêu cầu về kỷ cương, trách nhiệm và sáng tạo – những phẩm chất cần bổ sung của thời kỳ mới.

2. Trong cuộc sống, người Việt Nam luôn quan tâm, coi trọng vấn đề giao tiếp, coi đây là thước đo nhận biết và đánh giá bản chất, tri thức và tầm văn hóa của một con người. Với truyền thống vốn trân trọng nghĩa tình nên cách ứng xử của người Việt Nam thường thiên về tình cảm, lấy tình cảm làm nguyên tắc, đề cao chữ tình trong mọi quan hệ ứng xử. Chính vì tư duy thiên về duy tình hơn là duy lý: “Một bồ cái lý không bằng một tý cái tình”, nên có những tình huống trong thực tế, người dân xử lý mọi việc theo chữ tình, dẫn đến đôi khi chưa giải quyết thỏa đáng và chưa thực sự coi trọng pháp luật.
Hiện nay, trong bối cảnh hiện đại hóa và hội nhập quốc tế với sự bùng nổ của khoa học và công nghệ, xã hội Việt Nam có nhiều biến đổi và văn hóa ứng xử cũng có những thay đổi nhất định, vừa có sự tích cực vừa có những nét hạn chế cần khắc phục. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa đã và đang diễn ra nhanh, rộng khắp tại nhiều địa phương đã tác động lớn tới đời sống, sinh hoạt và văn hóa ứng xử của người dân. Bên cạnh sự tích cực, năng động, sự hiểu biết và ý thức pháp luật ngày càng được nâng cao hơn thì cũng có không ít vấn đề đáng phải suy ngẫm. Các đô thị ngày càng mở rộng, dẫn tới sự hình thành những hình thức văn hóa mới (như văn hóa đô thị, công nghiệp), khiến các khuôn mẫu ứng xử cũng như hành vi của người dân nông thôn ngày càng thay đổi, có sự pha trộn hoặc có xu hướng “thành thị hóa”. Về cơ bản, lối sống đô thị có đặc trưng khác biệt so với lối sống ở nông thôn, trong đó, giao tiếp ứng xử giữa cá nhân với cộng đồng có một số hạn chế. Người dân đô thị thường lựa chọn phương thức ứng xử văn hóa trong môi trường hẹp, theo những nhóm riêng, với những “quy chuẩn” riêng, chấp nhận ứng xử nội bộ trong từng nhóm xã hội, ít có sự giao lưu với láng giềng, khác hẳn truyền thống gắn bó kiểu “làng xóm tối lửa tắt đèn có nhau” thường thấy ở khu vực nông thôn nơi còn bảo lưu nhiều nét văn hóa truyền thống…
Bên cạnh đó, ngoài những tác động tích cực thì sự phát triển kinh tế thị trường trong bối cảnh hội nhập quốc tế cùng các phương tiện truyền thông mới cũng có những tác động tiêu cực đến lối sống của một bộ phận nhân dân, đặc biệt là lớp thanh niên sống ở những khu đô thị lớn. Thực tế cho thấy, bên cạnh nhiều tấm gương người tốt, việc tốt luôn biết cống hiến, đồng cảm, chia sẻ, giúp đỡ cộng đồng, thì cũng có không ít người dân, nhất là giới trẻ đang bị ảnh hưởng bởi lối sống thực dụng, ích kỷ, vụ lợi, sính ngoại, lai căng, buông thả, có dấu hiệu quay lưng với những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Thậm chí không ít người trẻ vi phạm pháp luật hoặc sa vào tệ nạn xã hội, vi phạm các chuẩn mực đạo đức trong ứng xử. Nhiều giá trị đạo đức truyền thống, đạo đức trong mỗi gia đình, cũng như văn hóa ứng xử trong xã hội đang có biểu hiện xuống cấp đáng báo động trong xã hội với nhiều hành vi lệch chuẩn trong ứng xử, nhất là ở nơi công cộng thời gian qua. Ngoài ra, trong thời đại số, nhiều người coi các phương tiện truyền thông xã hội là nơi thể hiện sự tự do, là thế giới riêng, khó kiểm soát, nên mặc sức thể hiện quan điểm cá nhân một cách cực đoan, thái quá; lợi dụng các phương tiện truyền thông xã hội để có những hành vi thiếu văn hóa, vi phạm chuẩn mực đạo đức xã hội, xâm phạm danh dự, nhân phẩm của người khác, thậm chí bị các thế lực xấu lợi dụng để kích động, nhằm gây bất ổn chính trị, xã hội,…
Bên cạnh đó, sự phân hóa giàu – nghèo đã làm căng thẳng thêm các quan hệ xã hội, làm xói mòn những gắn kết cộng đồng, truyền thống nhân ái, trọng tình nghĩa, tôn trọng người già… vốn là những giá trị truyền thống trong cộng đồng xã hội. Những mâu thuẫn tranh chấp về kinh tế trong xã hội cũng làm suy giảm sự đoàn kết, gắn bó, tình nghĩa giữa các cá nhân, gia đình, dòng họ, giữa các tầng lớp dân cư với nhau, dẫn tới không ít ứng xử kém hoặc không có văn hóa trong xã hội, thậm chí là những sự thiếu kiểm soát trong ứng xử dẫn tới các hành vi vi phạm pháp luật.

3. Để xây dựng văn hóa ứng xử phù hợp với bối cảnh mới, góp phần phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, cần tích cực thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
Một là, nâng cao nhận thức về vai trò của văn hóa ứng xử và ý thức rèn luyện cách ứng xử có văn hóa cho mọi tầng lớp nhân dân.
Ứng xử có văn hóa không chỉ là hành động cá nhân mà còn thể hiện chiều sâu văn hóa của một dân tộc, một quốc gia. Vì vậy, việc bồi dưỡng văn hóa ứng xử cần thống nhất trong nhận thức của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là giới trẻ về sự cần thiết, vị trí, vai trò của việc ứng xử có văn hóa nhằm giữ gìn hình ảnh đẹp về văn hóa đất nước, để đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển trong thời kỳ mới. Tiếp tục nghiên cứu, quán triệt đầy đủ các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, khơi dậy mạnh mẽ hơn nữa tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, tinh thần đoàn kết, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc của toàn dân tộc; nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về vai trò, tầm quan trọng của văn hóa ứng xử, vì chỉ có thay đổi nhận thức, con người mới có thể thay đổi hành vi để ứng xử đạt chuẩn mực văn hóa.
Hai là, xây dựng văn hóa ứng xử phù hợp với môi trường sống ở đô thị.
Quá trình đô thị hóa đang tác động đến lối sống và đặt ra nhiều vấn đề trong văn hóa ứng xử. Để xây dựng văn hóa ứng xử đô thị, cần tìm hiểu nhu cầu thị hiếu, tần số giao tiếp, xu hướng thực hành ứng xử, lĩnh vực cần tập trung giải quyết, lĩnh vực nên có những tác động gián tiếp hoặc trực tiếp để định hướng, định hình chuẩn mực ứng xử văn hóa. Tăng cường xây dựng lối sống mới, con người mới, văn hóa mới thông qua các phong trào văn hóa. Kết hợp quản lý nhà nước về đô thị với quá trình tự quản của cư dân đô thị phù hợp với điều kiện và môi trường sống ở đô thị hiện nay. Cư dân đô thị cần nâng cao tri thức, hiểu biết, tự chuẩn hóa hình thức, ngôn ngữ và hành vi ứng xử văn hóa phù hợp với môi trường, bối cảnh, chế định xã hội ở đô thị. Tôn trọng những quy chuẩn pháp quy, cơ chế tự quản của nhóm xã hội, gia đình, cá nhân trong ứng xử văn hóa ở đô thị.
Ba là, đẩy mạnh xây dựng môi trường và đời sống văn hóa lành mạnh, gắn với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; phát huy những giá trị tích cực về thuần phong, mỹ tục của dân tộc; nêu cao tinh thần tương thân, tương ái, đoàn kết; trọng tình nghĩa, trọng công lý và đạo lý truyền thống của dân tộc Việt Nam. Tăng cường phối hợp chặt chẽ, hài hòa giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ về tri thức, thẩm mỹ, đạo đức, kỹ năng, văn hóa ứng xử. Tiếp tục xây dựng và nhân rộng các mô hình gia đình văn hóa tiêu biểu, “ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu thảo hiền, vợ chồng hòa thuận, anh chị em đoàn kết, thương yêu nhau”; đồng thời cần tiếp tục nghiên cứu, kế thừa có chọn lọc và vận dụng những truyền thống văn hóa ứng xử tốt đẹp trong gia đình của người Việt Nam. Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, góp phần hoàn thiện nhân cách con người, hình thành văn hóa ứng xử của mỗi cá nhân. Xây dựng và phổ biến các quy tắc ứng xử văn hóa tại công sở, trường học và nơi công cộng. Thực hiện nghiêm các quy định về nêu gương đối với cán bộ, đảng viên, nhất là với cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị, đội ngũ những người làm công tác giáo dục, văn nghệ sĩ và cán bộ lãnh đạo, quản lý văn hóa, lãnh đạo doanh nghiệp và những người có tầm ảnh hưởng quan trọng trong cộng đồng và xã hội, góp phần lan tỏa những hành vi, lối sống, cách ứng xử tốt đẹp theo phương châm “nhân cái đẹp, dẹp cái xấu”, để định hướng hành vi, thái độ đúng đắn cho công chúng, nhân dân.
Bốn là, phát huy vai trò của các phương tiện truyền thông đại chúng và phát huy mặt tích cực của truyền thông xã hội trong tuyên truyền, phổ biến và giáo dục hiệu quả các nét đẹp văn hóa ứng xử; phát hiện, cổ vũ cách làm hay, những gương người tốt, việc tốt điển hình; phổ biến những giá trị văn hóa mới tới người dân một cách nhanh chóng và liên tục; đồng thời phản ánh những thói hư, tật xấu, phê phán những biểu hiện lệch chuẩn về cách ứng xử của con người, nhất là trên không gian mạng. Xây dựng, bổ sung và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật với những điều khoản, quy định chặt chẽ về cách ứng xử của mỗi cá nhân, trong đó có ứng xử trên không gian mạng. Có chế tài xử lý nghiêm những hành vi vi phạm chuẩn mực đạo đức và quy tắc xã hội, tạo hành lang pháp lý đủ mạnh để vừa có tính giáo dục, vừa có tính răn đe, giúp mỗi cá nhân biết tự điều chỉnh hành vi, suy nghĩ của mình, hướng tới những ứng xử văn minh, hiện đại, tốt đẹp.
Năm là, tiếp thu có chọn lọc những giá trị ứng xử tốt đẹp từ các nền văn hóa của nhân loại trong quá trình hội nhập quốc tế.
Quá trình hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng thì việc loại trừ những biểu hiện không phù hợp, tiêu cực của lối sống và văn hóa du nhập trong giao tiếp ứng xử giữa con người với con người là một vấn đề cần chú trọng. Do đó, trong quá trình giao lưu văn hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện, cần tiếp biến một cách có chọn lọc những tinh hoa văn hóa thế giới trên cơ sở giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam, hướng tới sự hình thành các giá trị văn hóa chân – thiện – mỹ, từ đó bồi đắp và làm phong phú thêm các giá trị văn hóa Việt Nam, trong đó có văn hóa ứng xử, trong bối cảnh mới./.
TRƯƠNG THỊ THU THỦY/ TCCS
————————
(1) Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 143
(2) Xem: Nguyễn Phú Trọng: “Ra sức xây dựng, giữ gìn và phát huy những giá trị đặc sắc của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Tạp chí Cộng sản số 797 (2021), tr. 10, 11















