Dấu chân người lính – Bản khắc lịch sử bằng thơ của Trần Tấn

Vanvn- Hình ảnh “Bụi đất chiến trường trên nhung lụa” vừa tả thực vừa là một sáng tạo, nghệ thuật đầy ấn tượng. Nó là biểu tượng của quá khứ và hiện tại, gian khổ và vinh quang…

Đại tá – nhà thơ Trần Tấn

Trần Tấn – cựu Đại tá công an nhân dân – Giám đốc khu sinh thái Công ty Vĩnh Phúc rộng vài trăm ha đa dạng, phong phú và giầu đẹp. Nhiều người gọi ông bằng cái tên trân trọng “Người cựu chiến binh Vàng” của thế hệ những người lính cụ Hồ thời chống Mỹ. Song hành cùng những thành tựu trong sự nghiệp chính trị, sự nghiệp kinh tế, Trần Tấn còn là một tâm hồn thơ đắm sâu, giầu chiêm nghiệm, một nhạc sỹ với nhiều tác phẩm thơ được ông phổ nhạc. Thơ ông giản dị mà ý nghĩa. Nhiều bài thấm đẫm ký ức chiến tranh, sâu nặng tình yêu quê hương đất nước. Ở ông và thơ ông luôn là sự hòa quyện độc đáo của chất chiến sĩ kiên cường, chất trí tuệ của nhà quản lý, chất nhân văn, giầu cảm xúc của một nhà thơ. Đặc biệt là bài thơ “Dấu chân người lính” viết vào ngày 30.4.1975 lịch sử đã thực sự là một bản khắc lịch sử bằng thơ của Trần Tấn trong thời khắc lịch sử vĩ đại của dân tộc Việt Nam.

Trong dòng chảy thơ ca viết về chiến tranh và người chiến sĩ, biết bao kiệt tác đã ra đời. Biết bao hình tượng bình dị mà cao đẹp của người chiến sĩ đã được tạc bằng thơ. Dấu chân của người chiến sỹ đã từng được nhà văn Nguyễn Minh Châu viết trong tác phẩm “Dấu chân người lính”, hoặc nhà thơ Thanh Thảo khắc họa trong “Dấu Chân Qua Trảng Cỏ”. Tuy vậy hình tượng “Dấu chân” đầy bụi đường kháng chiến bước trên thảm nhung đỏ thắm trước cửa Dinh Độc Lập vào thời khắc vĩ đại chỉ có trong bài thơ này của Trần Tấn. Nó là một hình tượng độc đáo. Trong ngày vui chiến thắng, người ta say sưa viết về lá cờ giải phóng tung bay.

Về những con người làm nên lịch sử. Có mấy ai để ý đến dấu chân? Nhưng Trần Tấn – người chiến sĩ cùng đồng đội của mình – những người trực tiếp tiến vào dinh Độc Lập trong buổi trưa lịch sử ấy đã đặt những bước chân dép lốp dính bụi trường chinh lên thảm đỏ, đã vô cùng xúc động viết về dấu chân người lính trên thảm đỏ Dinh Độc lập với những liên tưởng mới mẻ và sâu sắc. Với ông, đó không chỉ là dấu chân người chiến sĩ bình thường, đó là dấu chân lịch sử. Bởi thế bài thơ “Dấu chân người lính” đã hiện lên như một chứng tích vừa cụ thể, vừa khái quát, vừa chứa chan cảm xúc riêng tư, vừa mang chiều sâu của lịch sử dân tộc. Đây là tiếng nói của người lính trực tiếp có mặt trong buổi trưa lịch sử 30.4.1975 đồng thời là tấm gương phản chiếu cả một thế hệ, một thời đại khốc liệt nhưng hào hùng của dân tộc Việt Nam.

Trần Tấn chọn “Dấu chân” làm biểu tượng trung tâm cho thi phẩm. Dấu chân trong bài vừa là dấu vết của hành trình kháng chiến, vừa là biểu tượng của ký ức, của lịch sử và của sự bất tử. Những câu thơ của ông giản dị như người lính mà thật giầu sức gợi.

“Người lính ấy đi qua chiến tranh

Vượt đỉnh Trường Sơn lội khắp bưng biền.

Dấu chân anh, dấu chân đồng đội

Tạo thành muôn lối tiến về Sài Gòn”.

Câu thơ mở ra không gian sử thi hào hùng nơi từng bước chân của người chiến sĩ đã đồng hành đưa dân tộc đến ngày toàn thắng.

Dấu chân ở đây không chỉ là vết tích vật chất trên thảm đỏ, nó đã được nâng lên tầm biểu tượng của lịch sử, của ký ức và sự bất tử.

Nhà văn Bùi Thị Biên Linh – tác giả bài viết

Mỗi bước chân của người lính không chỉ là bước đi của cá nhân, nó đã hòa nhịp vào bước đi của cả những binh đoàn, của đồng đội, của cả dân tộc trên con đường giải phóng. Có sự tiếp nối tinh thần của thơ ca sử thi. Nếu Tố Hữu viết về những bước chân “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” với sức mạnh phi thường của nhân dân thì Trần Tấn giản dị hơn. Chính sự giản dị ấy làm nên chiều sâu của hình tượng thơ. Đồng thời mở ra sự kết nối giữa dấu chân chiến trường và dấu chân đời thường, vừa hào hùng vừa gợi cảm giác gần gũi thân thương. Người lính “Anh chẳng bao giờ để ý dấu chân mình” mà bồi hồi.

“Anh nhớ dấu chân son cô gái làng gánh nước

In lên ngõ gạch đường quê”.

Cái nhìn trở về với dấu chân son của cô gái làng gánh nước khiến cho lời thơ thêm mềm mại đồng thời gợi nhắc về cội nguồn gốc rễ của người chiến sĩ. Họ ra đi từ những làng quê nơi “giếng nước gốc đa” luôn “nhớ người ra lính”. Người chiến sĩ mang trong tim hình bóng quê hương ra trận. Trong văn học viết về đề tài chiến tranh cách mạng, có nhiều tác giả tác phẩm như Hữu Loan với Màu Tím Hoa Sim, Vũ Cao với Núi Đôi… và Trần Tấn đã kế thừa mạch thơ trữ tình quen thuộc ấy bằng sự gợi nhắc “Dấu chân son cô gái làng gánh nước/ in lên ngõ gạch đường quê”, chút tâm tình ngọt ngào ấy góp phần làm nổi bật giá trị nhân bản của bài thơ. Người lính chiến đấu vì một đời sống thường nhật bình dị mà thiêng liêng, sâu nặng. Chính điều đó đã trở thành sức mạnh của bước chân muôn lối tiến về Sài Gòn.

Cao trào của bài thơ chính là thời khắc lịch sử – thời khắc người chiến sĩ đặt dấu chân mình trên thảm đỏ trước dinh độc lập. Thần kỳ và kiêu hãnh, hào hùng và xúc động biết bao, cái thời khắc mà cả dân tộc đã đổ biết bao máu xương, mồ hôi và nước mắt mới làm nên.

Rồi trưa ấy 30/4

Ào ào! Thần tốc

Anh để lại dấu chân trên thảm đỏ

Trước thềm Dinh Độc Lập.

Trong ký ức của dân tộc Việt Nam, trưa 30.4.1975 là một thời khắc chói sáng kiêu hãnh, vỡ òa hạnh phúc của khát vọng hòa bình. Sau 30 năm chiến tranh, Tổ quốc đã độc lập thống nhất. Đoạn thơ của Trần Tấn ngắn gọn nhưng dồn chứa cả một thời khắc rạng ngời của lịch sử huy hoàng mà chỉ có người trong cuộc mới đủ trải nghiệm và tinh tế, đủ rung động ghi lại bằng những rung cảm từ trái tim qua những thanh âm nhanh mạnh “ào ào”! qua ảnh hình “Thần tốc” và “dấu chân” lấm bụi đường in trên thảm đỏ. Người đọc như được cuốn đi cùng cơn lốc của biến số lịch sử, cuốn đi cùng khí thế hào hùng và cảm xúc dâng trào. Nghệ thuật tương phản giữa một bên là “Dấu chân” gắn với bùn đất mồ hôi của hành trình gian lao vượt bao núi thẳm đường dài. Một bên là “Thảm đỏ” – biểu tượng của quyền lực, nghi lễ và chiến thắng.

Dấu chân anh đã trở thành chứng tích lịch sử. Tác giả không dùng dấu chân “Tôi” mà là dấu chân Anh. Từ anh là đại từ ngôi thứ hai, đặt trong ngữ cảnh của đoạn thơ cho thấy sự khái quát của ý thơ. Đây là dấu chân của những người chiến sĩ – dấu chân vừa mang ý nghĩa cá nhân vừa mang ý nghĩa tập thể cộng đồng của hàng ngàn, hàng vạn chiến sĩ vô danh. Nó chính là biểu tượng của hy sinh và chiến thắng. Đó là đích đến của cuộc hành quân gian khổ, máu và nước mắt. Để rồi, phần cuối bài thơ, người anh hùng trong kháng chiến lại trở về bình dị, giữa đời thường. Nguyễn Đình Thi từng viết: Đạp quân thù xuống đất đen/ súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa”. Và Trần Tấn viết nhẹ nhàng “Hết chiến tranh anh lại trở về với bản làng ngõ gạch đường quê”. Đó là khát vọng bình dị và thiết tha của người chiến sĩ. Nhưng dấu chân anh in trên thảm đỏ đã mãi in vào lịch sử, bởi đó là dấu chân mở ra:

“Dấu chấm hết một chương dài lịch sử

Bụi đất chiến trường vương trên nhung lụa

Tạo thành bức tranh lịch sử máu và hoa”

Hình ảnh “Bụi đất chiến trường trên nhung lụa” vừa tả thực vừa là một sáng tạo, nghệ thuật đầy ấn tượng. Nó là biểu tượng của quá khứ và hiện tại, gian khổ và vinh quang. Hai hình ảnh tương phản, máu biểu tượng cho gian khổ hy sinh. Hoa biểu tượng của vinh quang tươi đẹp và chiến thắng. Hình tượng thơ giàu ý nghĩa: Vinh quang chiến thắng của dân tộc được dệt nên từ sự hy sinh vĩ đại của nhân dân. Dấu Chân Người Chiến Sỹ trong khoảnh khắc lịch sử này đã chấm hết chương dài lịch sử mở ra dấu ấn của một thời đại mới – thời đại hòa bình. Bài thơ mang vẻ đẹp của một bản hùng ca như câu thơ cuối được viết bằng phép điệp cấu trúc, điệp hình ảnh gợi nhiều xúc động, tự hào và bay bổng.

“Lung linh một bản hùng ca

Lung linh một bản hùng ca”

Có thể xem “Dấu chân người lính” của Trần Tấn là lời chứng thực từ chính người lính – người đã đặt dấu chân lên thảm đỏ Dinh Độc Lập trưa 30.4.1975. Đó là bản khắc lịch sử bằng thơ thấm đẫm giá trị văn chương và sáng ngời giá trị lịch sử. Tác phẩm thấm vào ta lời tri ân những ngày “40 thế kỷ cùng ra trận” tri ân những con người đã “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, “Dấu chân người lính” của Trần Tấn – khúc thi ca bi tráng vừa đau thương vừa rực rỡ sẽ mãi bất tử trong cảm thức của người yêu bài thơ này, sẽ mãi trường tồn và “lung linh một bản hùng ca” cùng dân tộc.

Năm 2015 trong náo nức của toàn quân toàn dân chuẩn bị 40 năm giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước, Trần Tấn đã tự phổ nhạc bài thơ của mình, sau đó nhờ bạn bè biên tập chỉn chu. Đài truyền hình HTV9 (truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh) đã đưa vào chương trình ca nhạc: Thành Phố Bốn Mươi Mùa Hoa. Chương trình cũng có sử dụng nhiều tác phẩm của các nhạc sỹ tên tuổi như Lưu Hữu Phước, Trịnh Công Sơn, Xuân Hồng. Bài hát ấy vẫn được vang lên trên nhiều sân khấu, nhiều chương trình nghệ thuật, phát trên đài phát thanh, đài truyền hình của cả nước vào những ngày kỷ niệm giải phóng miền Nam – thống nhất đất nước hàng năm. Đó là vinh quang của lịch sử, đó cũng chính là vinh dự của nhà thơ – chiến sĩ Trần Tấn – người chiến binh Vàng của hôm qua và hôm nay.

BÙI THỊ BIÊN LINH

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *