Thơ Phùng Văn Khai trong cảm hứng lịch sử – văn hóa qua tâm thức Á Đông – Kỳ 1

Vanvn- Gia tài chữ nghĩa của Phùng Văn Khai (tạm tính đến thời điểm hiện tại, chưa kể bản thảo) gồm: 02 tập bút ký, 04 tập tiểu luận phê bình, 07 tập truyện ngắn, 10 tập tiểu thuyết (trong đó có 08 tiểu thuyết lịch sử) và bốn tập thơ đang nằm trên bàn tôi đây: Lửa và hoa (Nxb Hội Nhà văn, 2000); Thơ Phùng Văn Khai (Nxb Văn học, 2023); Thơ danh nhân, chân dung văn nghệ sĩ (Nxb Hội Nhà văn, 2025); Thơ viết cho mình (Nxb Hội Nhà văn, 2026).

Nhà thơ Phùng Văn Khai

I. Phùng Văn Khai đã gieo những gì trong Mùa màng

1.1. Từ hình ảnh quê hương thấm đẫm lịch sử – văn hóa 

Phùng Văn Khai sinh tháng 10.1973 tại thị trấn Như Quỳnh (huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên cũ), nay là xã Như Quỳnh, tỉnh Hưng Yên. Ông nhập ngũ tháng 2.1994 vào Trung đoàn 421, Sư đoàn 306, Quân đoàn 2; tháng 2.1997 được điều động về Phòng Truyền hình (thuộc Cục Tư tưởng Văn hóa) nay là Cục Tuyên huấn – Tổng cục Chính trị; tháng 6.2006 được điều động về Tạp chí Văn nghệ Quân đội, công tác liên tục đến nay (6.2026).

Từ một anh “lính tò te” với Khúc dạo đầu của binh nhì (tập truyện ngắn, Nxb Quân đội Nhân dân, 1998), Phùng Văn Khai đã trưởng thành qua các cương vị phóng viên, biên tập viên, Trưởng ban Thơ, Phó Tổng Biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội và đã nhận được nhiều hình thức khen thưởng, giải thưởng của Ban Tuyên giáo Trung ương, Hội đồng Lý luận Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, Bộ Công an, Hội Nhà văn Việt Nam…

Gia tài chữ nghĩa của Phùng Văn Khai (tạm tính đến thời điểm hiện tại, chưa kể bản thảo) gồm: 02 tập bút ký, 04 tập tiểu luận phê bình, 07 tập truyện ngắn, 10 tập tiểu thuyết (trong đó có 08 tiểu thuyết lịch sử) và bốn tập thơ đang nằm trên bàn tôi đây: Lửa và hoa (Nxb Hội Nhà văn, 2000); Thơ Phùng Văn Khai (Nxb Văn học, 2023); Thơ danh nhân, chân dung văn nghệ sĩ (Nxb Hội Nhà văn, 2025); Thơ viết cho mình (Nxb Hội Nhà văn, 2026).

Mùa màng là tên một phần trong tập Thơ Phùng Văn Khai. Và những hạt giống nào đã được gieo xuống?

Thế hệ chúng tôi, cứ suy bụng ta ra bụng người, có nhiều ký ức với cái chợ quê thơ ấu lắm:

Ngày con năm tuổi mong bà

Chợ Ghênh về sớm chia quà giữa sân

Bỏng ngô, kẹo lạc, kẹo vừng

Nậm rượu quê để phần ông khề khà.

(Chợ Ghênh)

Cái chợ ấy cách làng Phùng Văn Khai quãng vài ba cây số, và cách làng tôi chừng mười lăm cây. Khai chắc hẳn đã quen ngóng bà, nhất là vào bao dịp trọng trong năm, nào là Đoan Ngọ với những món quà trừ sâu bọ, nào là Trung thu với tò he phỗng giấy thị thơm, nào là tết nhất áo mới pháo tranh…

Người về trong bức tranh xưa

Vai thơm thiếu nữ núm dừa ngậm hương

Ôm đôi cá chép bé cười

Cưỡi con gà trống trông trời nắng mưa

Lưng trâu ngọn sáo gió đùa

Sân đình lân múa sân chùa thơm sen

Qua bao năm tháng lửa đèn

Chỉ mơ nâng vạt áo em hứng dừa

(Cảm tác tranh Đông Hồ)

Biết ngắm tranh là đã lớn khôn hơn tháng ngày ham vòi quà “vật chất”. Là đã biết gieo sâu hơn hạt giống “văn hóa” vào tâm hồn mình. Cơ mà đa đoan quá. Rồi sau chẳng thành nhà thơ thì cũng chết đuối ái tình mất. Đã có bao gương bắt chuồn “ngã” ở cầu ao.

Chuồn chuồn khâu áo thân dài cánh mỏng

Cỏ mật hát tìm nhu nhú cau non

(Mùa màng I)

Nhưng mà Phùng Văn Khai đã chọn trở thành nhà thơ (còn chuyện ái tình của ông tôi không rành) – một nhà thơ áo lính.

Những người con Hà Nội đến Trường Sa

Mang hạt mướp, hạt dền, mùng tơi, rau sam, rau muống

(Người Hà Nội ở Trường Sa)

Phùng Văn Khai đã mang cả một đồng quê lầm lụi tuổi thơ đi xa đến thế. Nhưng còn hơn nhiều như thế, ông đã tải được cả chiều sâu của hạt giống văn hóa cội nguồn – điều cực kỳ thiêng liêng để neo hồn bờ cõi:

Cây cau mẹ trao anh trồng góc sân chùa Nam Yết

Hoa nở trắng thì thầm lá xanh giữa trời xanh

(Người Hà Nội ở Trường Sa)

Từ điểm tựa văn hóa vững trãi, Phùng Văn Khai đã thêm một bước gieo mầm cảm hứng lịch sử. Mà bắt đầu từ những nhân chứng trong cái làng nhỏ bé của ông.

Nghè Khoai – nơi làng quê Khai – mà sau này ông mới thấm những “trường văn trận bút”:

Nghè Khoai nức tiếng người hay chữ

Chữ cũng như người cũng bể dâu

Bát cơm thơm ứa hai hàng lệ

Thương mùa giáp hạt cánh đồng sâu.

Nhưng may mắn thay, Phùng Văn Khai cũng biết tự thanh lọc hồn mình trước mái đình quê hương:

Ta đi khắp nẻo muôn vùng đất

Chiều nay hoa nở trước đình làng

Hàng bia đá thơm hương đại trắng

Ta dường như thể cũng sang trang.

(Viết trước đình làng)

Để đi xa hơn, mang những hạt giống tâm hồn dấn thân cùng cao vọng văn chương đầy vinh quang thấp thỏm bất trắc:

Hạt mẩy cựa mình thơm giếng cổ

Chồi non tí tách bóng trăng loang

Ta từ buổi biệt tường rêu cũ

Hạt giống gieo xa mở mùa màng

(Hạt giống)

Các tập thơ Phùng Văn Khai

1.2. Đến thôn nữ, người thương của liệt sĩ trong hình tượng SEN

Bây giờ nhà thơ của chúng ta đã “lớn” rồi, có thể tự “bật mí” được rồi:

Sen ơi sen bao nhiêu tuổi

Mãi thơm sâu nụ hôn đầu

(Hỏi sen)

Và còn “oanh liệt” hơn thế nhiều. Nào lũ choai choai hãy tránh ra, để nhà thơ ngắm… thơ:

Hé chồi nghiêng lưng

Mưa mừng chấp chới

Chúm chím hương bung

Xanh ngần tơ tuổi

 

Bung biêng đá sỏi

Thắm thẹn then xanh

Lụa gầy thức nhụy

Chớp lóa gõ cành

 

Riết phồng ngát giọt

Gió nhức mùa non

Trăng mưng tở mở

Núm thơm nghiên son

 

Nhiên trong tơ tóc

Buông cởi sơ sương

Ngực hoan khỏa khép

Muốt bờ mây vương

(Sen cởi áo)

Tôi nói Phùng Văn Khai “ngắm thơ” là không sai.

Phê bình ở thế kỷ trước của chúng ta, không thể khác, chịu ảnh hưởng của lối Thực chứng và Lịch sử, rất xem trọng tiểu sử tác giả, đến nông nỗi coi tác giả chính là nhân vật [ở đây là nhân vật trữ tình]. Phê bình Ý thức của Marcel Proust đã chỉ ra một tác giả/ cái-tôi-bên-trong là khác với tác giả/ cái tôi tiểu sử/ cái-tôi-bên-ngoài.

Vậy nên, tôi vẫn nhắc lại, rằng “chuyện ái tình của ông tôi không rành”. Ông ở đây tức là tác giả Phùng Văn Khai tiểu sử. Nhưng tôi rất biết ông – tức Phùng Văn Khai bên-trong, được thể hiện rất trác tuyệt qua văn bản “Sen cởi áo”. Tôi không ngần ngại khẳng định luôn: đóa sen trong văn bản này đã vượt qua mức độ một hình ảnh, để gieo vào mỹ cảm một hình-tượng-văn-học. Và ngắm hình tượng này đương nhiên là ngắm một nàng thơ!

Với hạt giống lịch sử-văn hóa trong tâm hồn, Phùng Văn Khai tiếp tục đẩy hình tượng sen tới một tầm mức “quyết liệt” hơn:

Mười ba tuổi

tắm ao sen

em ửng áo cầu ao

sen nghiêng bẽn lẽn

 

Mười tám tuổi

tạ sen vào tiếng súng

em hẹn dấu chim trong

lấm tấm cau mừng

 

Mười năm

đằng đẵng sen khuya

đợi thức

xanh hương nhụy

 

Anh về

tấm giấy

tiếng mõ chùa tự bấy thơm sen

(Thơm sen)

Ở sắc thái nghiêng về cảm hứng “bi ca” này, Phùng Văn Khai đã không bi lụy hóa hình tượng sen, mà gợi lên cho người đọc một vẻ đẹp khác của một giai đoạn lịch sử – văn hóa dân tộc.

Một giai đoạn lịch sử bi nhưng tráng, đã được kể ngay trong nhà Phùng Văn Khai, đã được ông hình tượng hóa rất đạt:

Nội kể ngày xưa hai chú

toàn những bị người ta trêu

chắc gì đến khi nằm xuống

môi hồng được một lần yêu

 

Nội kể ngày xưa hai chú

lũ cồn bơi vượt sông Lăng

đêm đêm sân đình đập lúa

thì thùm tan cả vầng trăng

 

Thế rồi vào cơn binh lửa

một đi biền biệt không về

hòa bình vàng hai tấm giấy

sông Lăng lầm lụi ngoài kia

(Nhắn tìm đồng đội)

Cảm hứng bi tráng về lịch sử này đã theo Phùng Văn Khai đi khắp văn chương, đất nước:

Những gạch đá đền đài đã cũ

Mây trắng bay ngang cũng cũ rồi

Duy máu đỏ của người trung nghĩa

Mãi tươi hồng trong sắc hoa sen

(Đêm sen Gò Tháp)

Tác giả bài viết: Nhà thơ Nguyễn Thành Tuấn nguyên Phó Chủ tịch Hội VHNT tỉnh Hưng Yên, nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Phố Hiến, hiện sống ở Đồng Nai.

1.3. Người mẹ, người cha trong hình tượng SONG THÂN đáng kính 

Hiếm có nhà thơ nào không viết về mẹ – người mẹ của chính mình. Phùng Văn Khai cũng không ngoại lệ:

Mẹ tám mươi

tóc đen, răng khít

tối muộn nằm

tinh sương chốt cửa khẽ khàng

sương mùa đông chưa tan

Đó dường như là một người mẹ bình thường như bao bà mẹ nông thôn khác. Cái khác ở đây lại là chính “ông” con của mẹ:

Con lấp xấp năm mươi

khù khờ, ngộ nhận

bị lừa tiền, tình, danh, phận…

toàn yêu mây, cỏ, trăng, hoa, bướm, đình, chùa…

toàn chơi với các nhà thơ

Hai mươi năm say toàn nói to

Cũng đôi khi ông con đôi chút tỉnh ngộ (?):

Có phải mẹ Phật, Tiên

có phải con cóc nhái

thơ khượt văn rỗng oang oang

vấp sưng mặt rớm máu hòn sỏi đỏ

cỏ mềm bầu vú tám mươi

buông rễ đa làng

Sự ra vẻ “khôn lớn, chín chắn” ấy của người con có làm mẹ vui không?

Bà không nói gì. Chỉ lặng lẽ hành động, sau những ngông cuồng của con:

Con toàn chộ quan

mẹ bênh vực ăn mày

ngày thịt cá đổ đi

đêm hẩm hiu hạt nhặt

văn rỗng thơ khượt khuya đứt tóc

muộn mằn chốt cửa sương đông

im lặng con, im lặng chồng

Và sau hành động nhân hậu với ăn mày, bà mẹ lại càng hiện rõ hơn. Hiện rõ hơn bao giờ hết trong sự “im lặng” được người con “điệp khúc”:

mẹ im cười sương đông mờ mịt

tóc đen, răng khít

im lặng con, im lặng chồng

lặng im cỏ ngải

Lặng im – là rất gần với Thiền. Mẹ có biết Thiền không? Ta không biết. Nhưng ta biết: những bà mẹ Việt Nam là những người rất sùng Phật.

Mẹ của Phùng Văn Khai chắc hẳn cũng là như vậy. Và chắc hẳn mẹ đã “chân truyền” cho nhà thơ một tâm thế sống át qua hẳn những “bến mê”:

Lặng im

đêm đêm hạt móc

ngẩng cầu trời tóc mẹ ta xanh

(Thơ về mẹ)

Vâng, mẹ của Phùng Văn Khai không phải Phật, Tiên. Và Phùng Văn Khai cũng không phải con cóc nhái.

Họ đã độ bến giác trong cõi tâm thức “lặng im”.

Cõi lặng im của người cha lại xảy ra trong một khung cảnh thật đặc biệt:

Cha mới vừa đây bàn tay nắm

Mẹ vẫn chung chăn ủ ấm người

Mười tám ngày liền cha không nói

Đến lúc người đi chẳng biệt lời

(Thơ viết cho mình)

Trước sự im lặng vĩnh hằng của người cha, nhà thơ “tài tật” thẳm ngẫm:

Ta sao có lúc hung hăng quá

Vung tay, to tiếng với tượng đài

Tranh khôn với khắp người thiên hạ

Nào biết kiêng dè với một ai

Rồi tự mình ta trên đường lớn

Tiền hô hậu ủng cũng vui tai

Ti vi phát biểu càng hăng lắm

Cha vẫn lặng thầm bóng hôm mai

(Thơ viết cho mình)

Để rồi ngộ ra:

Bài học lặng im cha truyền lại

Từ ngọn nguồn bãi bể nương dâu

Oan khiên dễ gì đâu tháo cởi

Căn dặn gì đây với muôn sau

Ai cũng vậy thôi riêng thân phận

Ai mà thay được kiếp ai đâu

Cha im lặng thế, con biết thế

Vôi trắng ngang từng những thân cau

(Thơ viết cho mình)

“Im lặng/lặng im” ở ngữ cảnh này vốn là một thủ pháp dùng “chi tiết” để tạo hình tượng nhân vật. Nó cũng đã được dùng trong văn bản Thơ về mẹ ở bên trên. Nhà thơ Phùng Văn Khai vốn cũng là nhà-văn-xuôi chắc chắn không lạ gì thủ pháp quen thuộc này trong truyện ngắn – tiểu thuyết.

Quan trọng là ông đã khá thành công trong việc xây dựng hình tượng song thân đáng kính của mình. Ông cũng đang lui về một cõi lặng im trong trưởng thành tâm tưởng:

Cha nằm yên đó, trong im lặng

Từng dòng thơ con khóc riêng mình

(Thơ viết cho mình)

Thực ra Thơ – một thể loại ngôn chí, một tiếng nói độc bạch – lúc nào cũng là để viết cho mình.

Để mà chiêm ngẫm, để mà linh ngộ. Nhất là trong những tột cùng đau đớn, tột cùng lặng im:

Và ta càng hiểu trong gió lạnh

Cây đã vì đâu chịu tang mình

Hiểu lặng im mới là vô tận

Hiểu suốt đời cha chỉ lặng thinh

NGUYỄN THÀNH TUẤN

(Còn nữa)

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *