Giọng điệu đặc trưng trong lối kể chuyện của Đinh Su Giang

Vanvn- Sinh năm 1978 ở Nghệ An, nhưng quê cha của Đinh Su Giang lại chính là vùng đất Kon Plong phía tây tỉnh Quảng Ngãi – nơi cả gia đình hiện đang sinh sống.

Cha anh người dân tộc Xơ Đăng, tập kết ra Bắc rồi trở thành công nhân lái máy nông trường Cờ Đỏ (Nghệ An) và kết duyên cùng mẹ người dân tộc Thổ quê huyện Nghĩa Đàn. Sau ngày thống nhất đất nước, năm Đinh Su Giang khoảng 5 – 6 tuổi thì gia đình quyết định trở về quê và định cư tại xã Đăk Pơ-ne ngày nay. Tốt nghiệp Sư phạm, Đinh Su Giang về dạy học ở xã Mang Bút, rồi chuyển về xã Măng Đen và định cư tại đây đến bây giờ.

Nhà văn Đinh Su Giang

Đinh Su Giang bắt đầu cầm bút lúc vừa ra trường làm thầy giáo. Năm 2023 về làm Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Kon Tum. Khi Kon Tum sáp nhập vào Quảng Ngãi thì anh là Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Ngãi.

Vừa là cội nguồn và là nơi đang sinh sống, thiên nhiên hùng vĩ của vùng Bắc Tây Nguyên trở thành nỗi ám ảnh khôn nguôi trong tâm thức người cầm bút. Rừng thiêng ám ảnh một cách toàn diện từ cảnh sắc tự nhiên đến những pho sử thi đẫm chất huyền thoại cùng phong tục, tập quán của người dân thiểu số vùng cao mà anh là người trong cuộc, đã đem đến cho Đinh Su Giang một giọng văn rất đặc trưng. Nếu nhìn từ góc độ phê bình sinh thái hay văn học hậu nhân loại/nhân bản thì toàn bộ truyện ngắn của Đinh Su Giang trong hai tập “Búp thông xanh” (sau đó in lại với tên mới “Trên đỉnh Kíp Linh”) ấn hành năm 2016 và “Người đánh cá trên sông Đăk Bla” (2024) được xem như một gien trội. Ở bài viết này xin được dành để đề cập nét đặc trưng của giọng điệu kể chuyện giàu bản sắc vùng cao của Đinh Su Giang.

1. Giọng văn đẫm chất sử thi huyền thoại

Ai cũng đã biết, Tây Nguyên là chiếc nôi của những trường ca cổ, trong đó, các nhà nghiên cứu, sưu tầm đã phân thành hai hệ thống: Hệ thống trường ca mang tính sử thi và hệ thống trường ca sinh hoạt. Tùy theo từng sắc tộc mà các trường ca này được gọi bởi nhiều tên như Sử thi, Khan, H’ri, H’mon, Amon…

Là người con của núi rừng Tây Nguyên nên khi viết về vùng đất này, truyện ngắn Đinh Su Giang đẫm yếu tố sử thi, huyền thoại như một lẽ đương nhiên. Cứ như chất huyền thoại, sử thi đã thấm vào máu thịt, cầm bút lên là những câu văn bay bổng, đầy tượng hình cứ như từ trong tiềm thức, kể cả vô thức ùa ra trang giấy. Đây là một đoạn trong chuyện kể về sự hình thành vùng đất Măng Đen: “Mọi người lấy chiêng ra đánh, đánh vào bất cứ thứ gì để gây ra tiếng động nhưng đánh mãi đến nỗi bể luôn cả nồi ang lớn bầu trời vẫn tối đen. Mặt đất bắt đầu rung chuyển, rồi một tiếng nổ lớn kèm thèm theo đất đá bắn lên trời. Ngay chỗ mọi người đang đứng đất lún xuống tạo thành một cái hố lớn. Một cột lửa từ lòng đất phun lên thiêu đốt tất cả” (T’ Măng deeng). Rồi cái bóng dáng ảo mờ của người đánh cá dưới ánh trăng đêm trên dòng Đăk Bla hùng vĩ và thơ mộng: “Ánh trăng sáng và thần nước đã hiểu thấu lòng ta, đã nâng con thuyền ta đi đến đây. Cái ánh sáng và mênh mông nước trên kia là thứ ta cần và cả lời nguyền đêm trăng này nữa” (Người đánh cá trên sông Đăk Bla).

Truyện ngắn Đinh Su Giang dù kể về những huyền sử xa xưa hay chuyện của thời nay, vẫn thấy bóng dáng các vị thần linh xuất hiện. Đây là hình ảnh lầm lũi, miệt mài lao động dưới ánh trăng của chàng Hlung: “Ngày qua ngày, Hlung vẫn lầm lũi chất lúa lên kho khi mùa trăng về. Vẫn bắc chiếc cầu bằng một sợi dây căng ngang qua dòng suối đề hồn lúa đi qua, ném một cây lách ngay ngã ba đường để hồn lúa về kho mà không bị lạc” (Thần lúa). Kể chuyện của một cựu binh về lại chiến trường xưa, đi tìm mộ đồng đội của mình hi sinh trong cuộc chiến đấu với quân Pôn Pốt cách đây mới mấy chục năm, mà Đinh Su Giang cứ như thể kể cho ta nghe một câu chuyện xưa cổ đẩm chất huyền thoại của Sử thi. Cho dù “Già làng biết đó là một người lính, một cựu chiến binh. Nhưng đôi mắt của người (…) ấy luôn có điều gì đó giống màu của khói”.

Cái cách so sánh “điều gì đó giống màu của khói” ấy, rõ ràng, nếu không phải là người bản địa thì làm sao nghĩ ra thủ pháp ví von lạ đến bất ngờ này. Dân làng hiểu được cái tình của người cựu binh và muốn giúp chàng, nhưng vào thung lũng ấy ư? Bấy lâu nay, dân làng đã chẳng dám vào vì “cách đây mấy chục năm (…) từ đâu xuất hiện một con cọp lông trắng (…) làm chủ một vùng rộng lớn trên cánh đồng cỏ Ya Bock”. Họ quan niệm “Đó là con cọp do những vị thần trên đỉnh núi Chư Mom Ray đem đến” nên mới có “màu lông trắng như bông lách và khuôn mặt uy nghi như một vị thần”. Khi người cựu binh giáp mặt con cọp trắng và vấp mô đất ngã nhào ra bất tỉnh, mọi người hoảng hốt, thì cọp trắng “không dùng móng vuốt của mình xé xác con mồi” mà “ngửi và liếm lên bộ quần áo bộ đội đã cũ (…) gầm lên một tiếng (…). Toàn thung lũng đồng cỏ như chuyển động. Tiếng ầm ầm của muông thú, tiếng gió rít. Trong rừng cây từng mũi tên đen bay vút lên bầu trời. Một trận gió lớn cuộn đám mây nhỏ trên nền trời tạo thành một đám mây lớn che trên khu rừng. Con hổ quay lại, đột ngột bay lên lao vào khu rừng, trả lại cho thung lũng sự tĩnh lặng như không khí của nhà Rông trong những đêm dài hát kể sử thi”. Và không ai khác, chính con cọp trắng đã dẫn đường để Quang – người cựu binh và dân làng xác định đúng ngôi mộ của Hùng – người bạn đã hi sinh.

Chuyện đi tìm mộ đồng đội trong hiện tại, liên kết với chuyện chiến đấu, hi sinh cách nay mới mấy chục năm, nhưng đẫm không khí huyền thoại và bi hùng đầy chất sử thi. Nhưng thành công của chuyện là huyền thoại không hề tách rời hiện thực. Truyện nối liền sử thi “Dăm Roi” xưa cùng đỉnh Chư Mom Ray xanh như dải thổ cẩm của nàng Blai vướng vào cây sry trong truyền thuyết, sang huyền thoại về con cọp trắng “làm chủ cánh đồng cỏ Ya Bock”. Mà chính nó, chứ không ai khác, đang là người giữ mộ cho Hùng, là con vật báo hiệu và dẫn đường để người hôm nay tìm được mộ người lính đã hi sinh.

Tất cả yếu tố sử thi, huyền thoại ấy được đưa về thực tại và Đinh Su Giang đã kết thúc câu chuyện đầy thuyết phục bằng nội dung bức thư mà Hùng đã gởi cho người bạn gái: Con cọp trắng giữ mộ cho Hùng mấy chục năm nay ấy chính là chú hổ con mà Hùng đã giải cứu khỏi tay quân Pôn Pốt khi mẹ nó bị chúng bắt và ăn thịt. Đó là:“Chú hổ bị gãy một chân, anh băng bó bằng chiếc áo của anh rồi giấu nó trong một cái hang (…) Lông nó trắng như một giấc mơ mầu trắng mà anh từng thấy”. Có thể nói “Thung lũng Ya Bock” là một câu truyện chứng tỏ sự cao tay của Đinh Su Giang trong toàn bộ cách dựng truyện và xây dựng nhân vật. Vừa xáo trộn vừa đan xen không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật một cách tài tình, lôi cuốn và hấp dẫn người đọc từ đầu đến cuối. Đây cũng là một dấu ấn nghệ thuật đặc sắc trong bút pháp của nhà văn dân tộc Xơ Đăng nhánh Ca Dong này.

2. Tiếng nói của rừng thiêng

Búp thông xanh – Tập truyện ngắn của Đinh Su Giang

Tôi không dám nói Đinh Su Giang sáng tác theo lý thuyết của văn học sinh thái (ecological literature/ecofiction) hoặc văn học hậu nhân bản/ nhân loại (posthuman literature), nhưng rõ ràng, chung sống với thiên nhiên gần cả cuộc đời mình, bằng tất cả trái tim yêu dành cho rừng núi Tây Nguyên, chứng kiến tận mắt sự tàn phá dữ dội của con người với môi trường tự nhiên đang kêu cứu; bằng thiên chức của nhà văn, toàn bộ truyện ngắn Đinh Su Giang dường như đã thể hiện đầy đủ những điều mà hai lý thuyết sáng tác trên đưa ra và bàn đến. Đọc Đinh Su Giang, ta nghe vẳng lên trên từ trang sách tiếng gọi vừa thiêng liêng vừa đau đớn của núi rừng.

Lời của cây đa chào “người gác rừng” chẳng khác nào lời của một đại thụ rừng xanh,  một “Cụ Đa”, một “Già Làng”: “Cây đa vặn mình răng rắc, nghiêng mình chào ông: “Chào người gác rừng cần mẫn! Thời gian trôi đi quá nhanh nhưng chúng ta không chia lìa có phải không? Ngươi có thấy không giang sơn của chúng ta ngày càng xanh tốt, màu xanh chạy tận chân trời, sánh ngang với biển!”. Đến đây, không phải “Người gác rừng” là nhân vật trung tâm, mà “Cây đa” mới chính là “đại lão của rừng xanh”, đích thực là “một người gác rừng cần mẫn”: “Chào đại lão của rừng xanh! Ngươi mới đúng là người gác rừng cần mẫn, nhìn thấy ngươi, kẻ thù phải khiếp sợ. Liệu một ngày nào đó ngươi mất đi tình yêu thương của mình không?”. Cây đa lại lắc lư thân mình như nói với ông rằng: Không! sẽ không bao giờ chia lìa” (Người gác rừng).

Vâng, chính Cây đa đã cất lên tiếng nói trung thực, đầy tình yêu thương và lòng thủy chung như nhất, khẳng định về sự gắn bó của mình với đại ngàn: “Rừng vẫn thế, thì thào rất khẽ. Cả người và rừng hòa vào nhau trong âm điệu trầm mặc ngàn đời” (Rừng thiêng). Vậy mà giờ đây, chính con người mà rừng từng chở che, nuôi sống trong màu xanh bao dung và muôn thú của mình, lại nhẫn tâm tự hủy diệt môi trường sống của chính mình đến nỗi Thần Rừng cũng buồn bã lánh đi ngủ yên trong lòng đất cằn khô. Chính vì thế mà rừng đớn đau lên tiếng, người yêu rừng cũng vô vọng chỉ còn biết ngước mắt nhìn trời. Mà trời rất cao, mây lại rất xa: “- Này ông già, con người sao tàn ác thế, sao phá đi rừng già ngàn năm, sao phá đi nơi ở của những loài thú muôn đời. Những con vật đã đưa nhau chạy trốn khỏi những chiếc máy khổng lồ, thần Tu gung cũng buồn bã mà phải đi ngủ trong những mô đất cằn khô. Thần Tu gung than khóc: – Ông già, ông phải làm gì đi chứ? – Ta phải làm gì đây? Mây rất cao và bầu trời rất xa” (Rừng thiêng).

Biết rằng khi Nhà nước mở đường qua núi Ngock Bay sẽ mang ánh sáng văn minh và điều kiện phát triển kinh tế cho dân làng, nhưng khi tận mắt chứng kiến những chiếc máy xúc nối hàng ngoạm vào ngọn núi thiêng liêng, Y Linh không khỏi ngậm ngùi, cứ như núi rừng đang bị máy móc hiện đại chém ngang mình với những vết thương đau: “Y Linh hồi hộp theo dõi từng động tác khỏe mạnh của những chiếc xe lạ. Bất giác nàng nhìn lên núi Ngock Bay. Dãy núi dài như một cánh tay khổng lồ che cho làng từ phía mặt trời mọc, giờ đây, giữa dẫy núi bị một nhát cuốc mạnh xẻ ngang một khoảng lớn. Một vạt đất đỏ kéo dài như một vết thương” (Đường qua núi Ngock Bay). Còn ông Dũng – người gác rừng thì đau đớn nhận ra, những loài vật thân quen của núi rừng đã trốn xa và mãi mãi không về: “Lần thứ ba ông cất tiếng hú gọi. Và ông đau đớn nhận ra rằng: đàn vượn đã mãi mãi không trở về. Vài chiếc lá rơi xuống lặng lẽ như những giọt nước mắt buồn” chỉ sau bốn tháng khi khu rừng của ông giao về cho Huyện khai thác (Người gác rừng).

Và cái gì đến rồi cũng phải đến. Thiên nhiên bị con người tàn phá, hủy diệt, tất sẽ dẫn đến hệ lụy đau lòng như một tất nhiên khi những cơn lũ núi tràn về: “Hôm đó, em và lũ học trò qua sông hái rau dại. Trên đường về không ngờ có một cơn lũ lớn trên thượng nguồn ào về. Giống như nó chờ em đến rồi ầm ầm cuốn em đi mất… Biết tin tôi chạy tới tìm em, ba ngày sau mới tìm thấy em trên một bờ cát… Em nằm đấy, Búp thông xanh của tôi nằm đấy trên cát, giống như đang ngủ, hai tay để trên ngực vẫn đẹp như một búp thông xanh dịu êm”… (Búp thông xanh).

Rừng thu hẹp, không còn đất sống, những con vật trở nên hung dữ khi đối diện với con người: “Bầy heo dừng lại cảm giác phía trước có mối nguy hiểm nào đó chắn lối. Chúng im thin thít và để cho con heo đầu đàn đi lên phía trước. Và thật bất ngờ một tiếng gầm vang vọng. Cây trút lá ào ào như có một trận bão. Từ trên cao, con hổ xám bay vút xuống nhằm vào hướng tôi đang đứng. Tôi chỉ nghe tiếng cha tôi hét lên gọi tên tôi. Cha tôi bay lên hất tôi ra xa, toàn thân ông hứng trọn cú tát của con hổ (…). Linh hồn cha tôi trôi mãi trong âm u của núi đồi Ngọc Linh”. Và đây là lý do người con muốn làm “Người gieo mặt trời” trên đỉnh Ngọc Linh: “Tôi muốn lên nơi đó. Vừa trồng sâm trên núi cao vừa hi vọng nghe linh hồn cha tôi gọi về!” (Người gieo mặt trời).

Nhà văn Đinh Su Giang ra mắt sách

3. Những nét đặc trưng nghệ thuật trong lối kể chuyện

Giọng kể đặc trưng bản sắc tộc người.

Cùng với người Kinh, vùng đất Kon Plong quê cha cũng là nơi Đinh Su Giang và gia đình đã và đang sinh sống, hiện diện rất nhiều sắc tộc người thiểu số. Đây là đặc trưng của lối tả cảnh và người của người Xơ Đăng: “Các cô gái ngực căng, mông nở chắc chắn đang cõng nước. Họ vén cao tà váy, bắp chân trắng chớp sáng. Họ vừa đi vừa nói cười. Các cụ già ngồi hút thuốc và đan rổ, đan gùi. Các em nhỏ nô đùa trên sân nhà rông rộng rãi. Chàng nghe thấy âm vang tiếng cồng, tiếng chiêng. Tiếng chiêng không hề sai nhịp. Âm trầm bay là là sát mặt đất làm cho đám cỏ rung rinh. Âm vang bay vút lên trời cao, đến nơi thần linh đang trú ngụ” (Đi tìm lời ru mặt trời).

Còn đây là cách đối thoại của người Ca Dong: “Già làng bắc hai tay lên miệng gọi lớn: “- Ơi… Hlung, hãy về thôi, ông làm thế này ta cúng làng sao được! Chiếc bè vẫn im lặng, như một ốc đảo nhỏ trong sương. – Ơi… Hlung – già làng bắt đầu gay gắt hơn – ông làm như thế ma quỷ bắt ta đi, ai cùng ta cúng làng mới, ơi, Hlung!” (Chiếc bè trên mặt hồ). Đây là lối nói chân thành trong cách mời rượu của người Xơ Đăng: “- Tốt quá, tốt quá! Uống rượu đi anh, uống cho nóng lỗ tai bên trái, cho nóng lỗ tai bên phải. Uống cho gần nhau hơn!” (Rừng thiêng) cùng lời lẽ rất khiêm nhường khi đưa rượu người nhà ủ ra mời khách của người Jarai: – Ồ…chắc là một người bạn thời chiến tranh người Jarai ta đây? Hãy làm một cang trước đi – Già làng đưa cần rượu cho khách – rượu mới ủ ba ngày thôi. Mong anh đừng chê đàn bà Jarai không biết làm rượu ngon đãi khách! (Thung lũng Ya Bock).

Đặc biệt, ngoài bảy sắc màu phổ biến, Đinh Su Giang đã tìm ra một sắc màu thứ tám rất riêng của vùng đất ấy. Đó là màu “tháng năm Tây Nguyên”: “Tôi đưa quả xoài lại cho Ksa và mỉm cười và Ksa cũng cũng cười. Lúc ấy, tôi biết nụ cười ấy để dành cho riêng tôi. Thế đấy, màu thứ tám của tháng năm Tây Nguyên”. Cái cách tả đôi mắt của nhân vật Ksa trong truyện này cũng vô cùng độc đáo, khiến người đối diện thất lạc hồn vía, không biết là mình đang ở nơi đâu: Ở trong mắt Ksa hay đang vẩn vơ trong bao la vũ trụ và xanh thẳm núi rừng: “Đôi mắt Ksa nhìn lúc nào cũng rộng mở, chứa cả bầu trời, mặt đất, cây lá… quá nhiều, quá nhiều, khiến tôi cứ nghĩ mình không có ở trong đó hoặc cứ mãi vẩn vơ mình ở đâu trong xanh thẳm kia” (Dòng sông bay qua thời gian).

Một điều cũng cần chú ý khi nói về giọng điệu kể chuyện của Đinh Su Giang, đó là khi anh viết về những nhân vật là người Kinh đang công tác ở vùng núi. Cô giáo Liên do đã từng dạy và gần gũi để động viên phụ huynh và học trò vùng cao đi học, vì thế, suy nghĩ và ngôn ngữ của cô cũng đã lơ lớ kiểu “nước chè hai”. Tất nhiên, ở đây có sự đan cài giữa ngôn từ của nhân vật (cô giáo người Kinh) và của chính tác giả: “Nàng nghĩ lại, ai cũng yêu quý mình, coi mình như con, cụ y Chôm, Ông già Ktâu, lũ nhỏ của nàng… nàng đi như vậy ư! không một lời chào, không một cánh tay vẫy, đến ngọn núi cũng quay mặt với nàng. Nàng cảm thấy mình nhỏ nhen và ích kỷ. Bốn tháng gắn bó trên đỉnh Kíp Linh lại kết thúc như vậy sao? Nàng chần chừ nhìn con đường xa mù mịt. Nàng quyết định quay lại, lần này nàng chạy mặc cho những suy nghĩ về Duy bủa vây nàng” (Trên đỉnh Kíp Linh).

Thủ pháp so sánh, chất thơ, tính nhạc đậm dấu ấn sử thi.

Có thể nói rằng, thủ pháp so sánh là một trong những đặc trưng nổi bật về hình thức biểu hiện của Sử thi cổ đại, đặc biệt là Sử thi của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên: “Nơi dựng làng trông như cái mai rùa, rẫy giăng khắp núi, trâu bò lúc nhúc như mối, như kiến. Đường đi bên phải rộng một với giáo, đường đi bên trái rộng một với xagac. Dấu chân ngựa, chân voi như bện thừng. Nô lệ trai ngực đụng ngực. Nô lệ gái vú đụng vú. Cảnh làng chàng Đam San trông thật là vui, là đẹp. Dấu chân ngựa như chân rết, dấu chân voi như trôn cối giã gạo, nồi bung, nồi bảy như ốc sên rừng, nhà dài cả một hơi ching, sàn sân rộng cả một hơi chim bay. Trên cột phơi chỉ thì nào là chim bhí chuyền, nào chim nhồng đậu, nào là các tà vải sọc rằn đủ màu phấp phới bay (Trường ca Đam San).

Khi đọc toàn bộ truyện ngắn của Đinh Su Giang, chúng tôi nhận thấy, so sánh là một thủ pháp được anh sử dụng khá phổ biến. Ngoài lối so sánh thông thường, nổi trội và làm nên nét đặc trưng là lối so sánh mang đậm phong cách Sử thi của các tộc người thiểu số. Một cách tương đối, chúng tôi đã làm phép thống kê hai tuyển tập truyện ngắn của Đinh Su Giang, thì nhận thấy rằng: Ở chín truyện trong tập truyện đầu tay “Búp thông xanh”, anh sử dụng 264 lần biện pháp nghệ thuật so sánh, trong đó có đến 104 lần dùng so sánh mang đặc trưng Tây Nguyên. Ở 11 truyện trong tuyển tập “Người đánh cá trên sông Đăk Bla”, tần số xuất hiện biện pháp so sánh có ít hơn với 246 lần, trong đó so sánh mang tính đặc trưng bản địa là 96 lần. Nhưng tỷ lệ sử dụng biện pháp so sánh bản địa của hai tập là tương đương nhau (39,4% và 39%).

Cũng theo thống kê thì nhận thấy, như một lẽ đương nhiên rằng: cứ nội dung truyện nào đề cập đến huyền thoại, sử thi về sự hình thành các tên đất, tên làng, tộc người, phong tục, lễ hội… thì tỷ lệ sử dụng biện pháp so sánh mang yếu tố đặc trưng Tây Nguyên cao hơn nhiều so với những truyện có nội dung nói về cuộc sống đương đại. Miêu tả “Người đàn bà Ba – na” gắn với nguồn gốc tên gọi dòng sông Đăk Bla, Đinh Su Giang viết: “Ngực nàng để trần, căng như quả cà non. Làn da mịn màng và trắng sáng như một cái liếc mắt”, “tóc đen như đêm tối, mắt nhìn như ánh chớp”, “bọt nước vỡ tung như những bông lách trắng phau ven bờ”. Và chàng trai Ko Pâng hiện lên qua suy nghĩ của chính người đàn bà ấy: “- Ơi… chàng Kơ Pâng! tóc đen như đêm tối, mắt nhìn như ánh chớp, ánh trăng đêm nay là tín hiệu của ta gửi đến cho chàng như bao lần ta hò hẹn. Chàng là chàng trai Bana mạnh mẽ và chung thủy, không đổi thay lòng như ánh trăng” (Người đánh cá trên sông Đăk Bla).

Vâng, sử dụng liên tục nối tiếp nhau, thủ pháp so sánh với sự xuất hiện thường xuyên của từ “như” đã trở thành một điểm nhấn đặc trưng khi mà đối tượng đem ra so sánh không hề có trong cách so sánh của người miền xuôi. Nào là: “như đường viền đỏ trên chiếc váy của các cô gái”, “như  núm chiêng cái”, “như cánh chim cuối mùa rẫy”,…  (T’ Măng deeng); rồi thì: “như sừng trâu đực”, “như đóa reng rê”, “như chiếc lá le, lá lồ ô rơi nhẹ rồi mất dần trong ánh mặt trời buổi chiều”, “như mắt một cô gái Mơ Nâm mới lớn”… (Mùa rảnh rang) vân vân và vân vân…

Đặc trưng thể loại của Sử thi chính là lối kể chuyện (hát kể) đầy chất thơ và giàu tính nhạc để người nghe dễ tiếp nhận. Có lẽ do quê hương, nguồn cội và quá trình sinh sống đã thấm vào máu thịt chàng trai người Xơ Đăng nên truyện ngắn của Đinh Su Giang đẫm chất thơ và giàu tính nhạc:“…chàng mới nhận ra đây là một khu rừng thiêng, khu rừng trong truyền thuyết mà chàng vẫn hay nghe các cụ già hát kể trong những đêm dài hơ- muan” (Đi tìm lời ru mặt trời). Trong quá trình kể chuyện, đến những trường đoạn trữ tình, ngòi bút của Giang như run run khi dòng cảm xúc tuôn ra không cưỡng lại được. Chính lúc đó, giọng truyện của Giang mượt mà như những câu thơ: “Chúng tôi yêu nhau rất lâu trong sự bao bọc của những cây sim đầy hoa và bên trên cao là tán thông tỏa bóng” (Búp thông xanh). Đang kể chuyện say sưa, nhưng khi đến cao trào của nỗi lòng đôi trai gái làng yêu nhau mà tình duyên trắc trở do những luật tục khắc khe, Đinh Su Giang bỗng dưng cắt xuống dòng để trang văn thành những câu thơ nồng say như hơi men bốc lên từ những chóe rượu cần:“Luật tục không cho phép và trái tim họ dù muốn thì cũng đã trao vòng cho người khác, người mà họ đang rất yêu thương.

Vòng xoang cứ đi…

Giàn chiêng cứ gõ đều…

Rượu cứ rót… say!”

(Mùa rảnh rang).

Khi người chồng tương lai của Y Linh xúc phạm thần rừng đã bị rừng thiêng trừng phạt và cái thai bí ẩn trong bụng nàng sau cái hôm Hlung mất tích giữa rừng, nàng đã bị cả làng xua đuổi theo luật tục: “Luật tục Xơ Đăng: Đuổi ra khỏi làng là hình phạt nặng nề nhất đối với những người vi phạm lệ làng; con người không còn ràng buộc với cộng đồng nữa, chỉ như những bóng ma lang thang trong rừng” (Chú thích dưới truyện của tác giả). Y Linh định dùng lá ngón để kết thúc cuộc đời mình, nhưng bỗng dưng, bản năng sống vì đứa con trong bụng đã giúp nàng vượt lên nỗi sợ, chạy thẳng về rừng, chấp nhận sự trừng phạt. Chính từ nỗi đau của nhân vật đã khiến tác giả rung động bằng những trang văn thấm đẫm chất thơ: “Tại sao nàng phải chết chứ, không, không thể! Nàng nhìn chùm hoa Bri trong tay và quay lại nhìn con đường vừa chạy lên. Con đường uốn lượn trên triền núi, hai bên đường hoa mua nở tím ngát. Những câu chuyện ngày xưa lại vọng về.

Câu chuyện cũng trôi theo mùa trăng, mùa con nước vơi đầy” (Đi tìm lời ru mặt trời).

Nhà phê bình Mai Bá Ấn – tác giả bài viết

Đọc truyện Đinh Su Giang, có những lúc, tôi có cảm giác như anh viết trong cơn mê sảng. Cứ như thể, để nói hết cảm xúc lòng mình, đến cảnh huống đó, những giai điệu nhạc, những câu thơ từ trong vô thức hiện lên như một tất nhiên trên trang giấy trắng. Hãy đọc kỹ đoạn văn này, đến hai chữ “khóc, khóc!” cuối cùng, sẽ thấy điều tôi cảm nhận ở trên là không hề khiên cưỡng:

“Khi tiếng đàn và tiếng hát vừa dứt, không gian ngưng đọng lại. Ba ông già nhìn nhau, rồi trên đôi gò má sạm đen, lăn dài dòng nước mắt long lanh tràn đầy niềm hạnh phúc.

Khóc đi cho cơn mưa dài, khóc cho kỉ niệm xa xôi, khóc, khóc!” (Cơn mưa trở lại)…

Vì kể chuyện truyền miệng bằng lời hát nên bản thân lối hát kể của Sử thi các dân tộc Tây Nguyên rất giàu nhạc tính. Viết về rừng núi quê hương mình với những câu chuyện đẫm chất huyền thoại, Đinh Su Giang đã tận dụng lợi thế ấy để làm nên giọng điệu đặc trưng cho truyện ngắn của mình. Các loại nhạc cụ Tây Nguyên được tác giả kể một cách tự nhiên, hấp dẫn và gợi cảm. Mà cũng không đơn thuần là chuyện giới thiệu tên các nhạc cụ mà chính là cái tính nhạc trong từng câu văn, vang lên từ linh hồn của âm thanh từng nhạc cụ mà Giang cảm nhận được:“Tiếng một ai đó đang chơi đàn Tinh ning  buồn buồn, chắn hẳn đang yêu, hòa vào tiếng đàn Coong tak  xa xa dưới bến nước. Tiếng đàn Coong tak đánh bằng dòng nước Ktay ấy sao chàng quên cho được, đến chết chàng cũng không quên. Lúc chàng và Ksao còn yêu nhau, cả hai thường ngồi bên dòng Ktay, cạnh đàn Coong tak nghe đàn cho tới sáng”…  (Mùa rảnh rang). Giàu tính nhạc cũng là một điểm nhấn trong giọng điệu kể chuyện của Đinh Su Giang.

***

Tóm lại, truyện ngắn Đinh Su Giang cuốn hút người đọc không hẳn ở cốt truyện hay nghệ thuật xây dựng nhân vật, mà chính là ở cách dựng truyện và lối kể chuyện. Đó là lối dựng truyện và giọng điệu kể chuyện cứ đan xen giữa sử thi, huyền thoại với hiện thực cuộc sống đương đại; giữa tiếng nói của cây cối, núi rừng, muông thú bí ẩn, thiêng liêng với nỗi dằn vặt, đớn đau, tiếc nuối khi môi trường tự nhiên Tây Nguyên bị lòng tham của chính con người tàn phá. Vì lẽ đó, văn Đinh Su Giang mang hơi thở núi rừng. Có cảm giác, tách khỏi rừng thiêng, văn của anh không còn đặc trưng giọng điệu vì dường như trong máu chàng nhà văn “luôn có một khu rừng thiêng” ngự trị. Tôi xin mượn chính lời văn của anh để làm lời kết cho tiểu luận này: “- Cháu có nghe hơi thở của rừng không – ông già hỏi lại – Trong chúng ta, trong dòng máu người Xơ Đăng ta luôn có một khu rừng thiêng, cháu muốn nghe được hơi thở của nó thì tâm hồn phải rộng rãi như nước” (Rừng thiêng). Vâng, văn Đinh Su Giang khoáng đạt như hơi thở của rừng xuất phát từ một tâm hồn “rộng rãi như nước” của người Xơ Đăng vậy!

Làng Yên Phú, tháng 5.2026

MAI BÁ ẤN

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *