Vanvn- Hơn 50 năm rời xa quê hương, người Việt ở hải ngoại đã tạo dựng nên một đời sống văn học riêng, lặng lẽ nhưng bền bỉ. Trong những trang viết ấy, tiếng Việt được gìn giữ như một phần máu thịt, chở theo ký ức về quê nhà, về gia đình, về những mùa Tết đã xa. Dù viết từ nhiều phương trời khác nhau, văn học Việt ngữ hải ngoại vẫn gặp nhau ở một điểm chung: nỗi nhớ cội nguồn và khát vọng giữ lại hồn Việt giữa cuộc sống xa xứ.

Mỗi độ Tết đến, khi năm cũ khép lại và năm mới còn ở ngưỡng cửa, nỗi nhớ quê nhà của người Việt xa xứ lại trở nên rõ rệt hơn bao giờ hết. Ở nơi đất khách, Tết không chỉ là một mốc thời gian theo lịch âm, mà là khoảnh khắc ký ức thức dậy, kéo theo những hình ảnh đã xa: gian bếp cũ, mâm cơm cúng, mùi nhang trầm, tiếng gọi nhau đầu năm. Chính trong những ngày ấy, văn học Việt ngữ hải ngoại trở thành nơi nương náu của nỗi nhớ Tết nhà.
Trong nhiều truyện ngắn Việt ngữ ở hải ngoại, Tết hiếm khi hiện ra trọn vẹn như một lễ hội. Ngược lại, Tết thường xuất hiện trong trạng thái thiếu vắng, lỡ dở, hoặc chỉ còn tồn tại như một ký ức được gọi tên. Ở truyện Tết này chưa chắc em về được của Kiệt Tấn, Tết là một lời hẹn luôn bị trì hoãn. Người di dân không dám hứa với quê nhà, bởi thân phận nhập cư, mưu sinh và khoảng cách địa lý khiến việc “về” trở thành điều mong manh. Tết vì thế không còn là ngày đoàn viên, mà là một nỗi ngậm ngùi kéo dài từ năm này sang năm khác.
Với Lê Minh Hà, trong truyện ngắn Tết, không khí xuân nơi đất khách hiện lên lạnh lẽo và tĩnh lặng. Không pháo, không chợ hoa, không nhộn nhịp thăm viếng. Chính sự im ắng ấy làm bật lên nỗi nhớ về một cái Tết cũ – nơi từng có cộng đồng, có gia đình, có cảm giác thuộc về. Tết ở đây không nằm trong hiện tại, mà tồn tại như một đối trọng tinh thần với đời sống xa quê. Có khi, Tết chỉ cần một chi tiết rất nhỏ cũng đủ đánh thức cả một miền ký ức. Trong Những cánh mai trong tách trà của Trần Mộng Tú, hình ảnh cánh mai – biểu tượng của Tết phương Nam – không còn nở trong vườn nhà, mà nằm lặng lẽ trong một tách trà nơi xứ lạ. Khoảnh khắc ấy mở ra cuộc đối thoại thầm lặng giữa người sống và ký ức, giữa hiện tại và quá khứ, giữa người ở lại và những “hồn tha hương” đã vĩnh viễn không thể trở về. Tết trở thành thời điểm linh thiêng nhất để ký ức lên tiếng.
Trong Nhật ký cuối năm của Túy Hồng, cảm thức Tết gắn liền với sự mỏi mệt và mặc cảm của đời sống nhập cư. Cuối năm cũng là lúc giáp Tết nhân vật nhận ra mình đang đứng giữa hai thế giới: tiếng Việt và tiếng bản xứ, phong tục cũ và nếp sống mới. Tết ở đây không chỉ là nỗi nhớ quê, mà còn là câu hỏi về căn tính: giữ gìn hay buông bỏ những giá trị đã theo mình suốt hành trình lưu lạc. Nỗi nhớ Tết nhà trong văn học hải ngoại còn gắn chặt với ký ức gia đình và tổ tiên. Trong Rau răm ở lại của Cao Vị Khanh, quê hương được đồng nhất với hình ảnh người bà, người mẹ – những người gắn với bếp lửa, mâm cúng và nhịp sống Tết cổ truyền. Viết về Tết cũng là viết về đạo hiếu, về nỗi day dứt của người đã ra đi, bỏ lại sau lưng không chỉ một mái nhà, mà cả một trật tự văn hóa gia đình.

Trong văn học Việt ngữ hải ngoại, nỗi nhớ Tết thường khởi đi từ những chi tiết rất đời thường: món ăn quê nhà và tà áo dài truyền thống. Ở nhiều truyện ngắn của Nguyễn Mộng Giác, Võ Đình, Võ Kỳ Điền, Trần Vũ, Mai Ninh, Miêng,… bánh chưng, bánh tét, nồi thịt kho, dưa hành hiện lên không trọn vị nơi đất khách – thiếu nguyên liệu, thiếu khói bếp, và nhất là thiếu bàn tay “những người muôn năm cũ” trong bối cảnh quê nhà. Chính sự thiếu vắng ấy làm cho ký ức Tết trở nên day dứt hơn bao giờ hết.
Cùng với ẩm thực, áo dài xuất hiện như một biểu tượng ký ức giàu xúc cảm. Trong các truyện ngắn của Trần Diệu Hằng, Nam Dao, Phùng Nguyễn, Hồ Đình Nghiêm, Túy Hồng, Dương Như Nguyện,… áo dài không còn là trang phục thường nhật, mà là vật lưu giữ một cái Tết đã xa: gắn với người mẹ, người chị, khoảnh khắc đêm giao thừa, buổi sáng mùng Một và cảm giác thuộc về quê hương. Qua nỗi nhớ về hương vị món ăn quê nhà, về hình ảnh và cảm xúc về tà áo dài, hình ảnh biểu tượng và phong vị hồn Việt, văn học hải ngoại đã giữ lại Tết nhà bằng những chi tiết nhỏ bé mà bền lâu, để nỗi hoài hương được neo lại giữa đời sống xa xứ.
Không chỉ nhớ Tết bằng món ăn hay tà áo dài, nỗi nhớ da diết nhất, độc đáo nhất của những nhà văn hải ngoại là nỗi hồn Việt qua giọng Việt, chữ Việt. Viết văn bằng tiếng mẹ đẻ nơi trú xứ, nơi không gian ở giữa các lằn ranh văn hoá là cách nhà văn Việt chiêu tưởng vẻ đẹp văn hoá Việt. Có thể thấy, trong những trang viết Việt ngữ ở hải ngoại, Tết không còn là hiện tại sống động mà trở thành một ký ức được tái tạo bằng ngôn ngữ. Viết về Tết là một cách trở về tượng trưng, nơi người di dân giữ lại quê hương trong tiếng mẹ đẻ. Những truyện ngắn ấy không chỉ giúp cá nhân nguôi ngoai nỗi nhớ, mà còn góp phần hình thành một ký ức cộng đồng về Tết Việt nơi xa xứ.
Trong các trang viết của họ, tiếng Việt được nâng niu như một thứ đặc sản quê nhà: mộc mạc, tinh tế và giàu dư vị. Những từ ngữ gợi Tết – mùng Một, giao thừa, hương trầm, nắng xuân,… được đặt vào trang viết như cách người xa xứ nếm lại hương vị cũ. Viết bằng tiếng Việt, trong hoàn cảnh lưu vong, vì thế trở thành một hành vi hoài hương: thưởng thức lại quê nhà qua ngôn ngữ, để giữ Tết còn sống trong từng con chữ ngoài quê hương. Giữa nhịp sống toàn cầu hóa, khi nhiều giá trị truyền thống đứng trước nguy cơ phai nhạt, văn học Việt ngữ hải ngoại vẫn lặng lẽ gìn giữ Tết nhà qua từng con chữ. Để mỗi độ xuân về, dù không thể trở lại quê hương, người Việt xa xứ vẫn còn một nơi để trở về – trong ký ức, trong ngôn ngữ, và trong những trang viết mang hồn Tết Việt.
Và rồi, giữa khoảnh khắc giao mùa, khi nơi xứ người chỉ là một ngày bình thường, Tết vẫn lặng lẽ trở về trong tâm tưởng người Việt xa quê. Tết trở về bằng tiếng mẹ đẻ được thì thầm trong trang sách, bằng một cánh mai gợi nhớ, một mùi trà quen, một nén nhang thắp muộn. Những trang viết Việt ngữ ở hải ngoại, vì thế, không chỉ kể lại nỗi nhớ, mà còn giữ hộ một cái Tết đã xa – để mỗi mùa xuân đến, dù không thể bước qua ngưỡng cửa quê nhà, người Việt vẫn còn biết mình thuộc về đâu.
ĐỖ THỊ PHƯƠNG LAN















