Vanvn- Sơ thảo Lịch sử Báo chí Cách mạng Việt Nam do một nhóm các nhà Khoa học hàng đầu biên soạn từ năm 2000. Nhà báo Phan Quang với cương vị Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam được phân công viết chương mở đầu và chương kết. Theo đó, chúng ta được biết những thông tin sơ bộ về quá trình hình thành cách viết tiếng Việt hiện đại và sự ra đời những tờ báo chữ Quốc ngữ đầu tiên.
Những nhà truyền giáo phương Tây lần đầu đặt chân đến Đà Nẵng năm1516. Do nhu cầu giao tiếp và truyền giáo, họ phải tìm cách ghi lại tiếng nói của người bản địa. Chữ Hán và chữ Nôm mà nhà nước phong kiến sử dụng chỉ lưu hành trong một bộ phận ít ỏi người có học, thường là quan lại. Muốn giao tiếp và truyền giáo đến dân chúng đông đảo, họ phải cùng với những trí thức Việt tìm ra một cách ghi chép khác dễ truyền thụ hơn. Lịch sử chỉ ghi chép tên những người phương Tây có công Latinh hóa tiếng Việt, mà không hề có một người bản địa nào, nên coi là một lỗ hổng của lịch sử. Hơn 100 năm sau, 1651, cuốn Từ điển Việt – Bồ – La tinh mới được xuất bản ở Rôma. Cái tên Alexandre de Rhodes, tác giả cuốn từ điển có phải là tác giả duy nhất và đích thực còn là một tồn nghi, bởi sau nhiều lùm xùm, ông bị giáo hội kỷ luật, phái sang Ba Tư và mất âm thầm ở đó. Lịch sử một thời coi những người truyền giáo này là đội quân tiền trạm cho đạo quân xâm lược có lẽ cũng hơi quá. Từ những phát đại bác đầu tiên trên pháo hạm bắn vào Đà Nẵng 1858, đến Hòa ước năm Giáp Thân 1884, chấp nhận chia cắt nước ta thành ba Kỳ với chế độ cai trị khác nhau, người Pháp phải mất hơn một phần tư thế kỷ mới khuất phục được triều đình nhà Nguyễn. Tiếng Việt ghi theo chữ La tinh cũng mấy trăm năm mới được phổ biến. Trong lịch sử, trước nhiều thời điểm, buộc mỗi người cũng như mỗi quốc gia phải lựa chọn. Rất ít lựa chọn được đời sau coi là hoàn hảo. Thường xuyên hơn là gặp những lựa chọn bất toàn. Việc từ bỏ chữ Hán, chữ Nôm, để sử dụng hệ thống tiếng Việt theo hệ hình mới, vẫn níu theo nhiều tiếc nuối, khi người Việt hiện đại mù tịt trước kho tàng văn hóa truyền thống được ghi chép. Nhưng mặt tích cực là giúp một nước ở phương Đông sớm hòa nhập với văn minh hiện đại của thế giới thì ngày nay ai cũng thấy. Khi người Pháp đặt chân tới Nam Kỳ, chữ quốc ngữ đã ra đời được 200 năm. Tuy vậy phải thêm 100 năm nữa, tờ báo tiếng quốc ngữ mới ra đời. Gia Định báo xuất bản, số đầu tiên ngày15.4.1865 do một người Pháp điều hành. Phải đến năm 1869 mới do Trương Vĩnh Ký làm Chủ bút. Một phần tư thế kỷ tiếp theo, nước ta đã xuất hiện một trăm mấy chục tờ báo. Mỗi tờ một dạng, mục đích, tôn chỉ khác nhau, mỗi cái tên báo là một số phận, tuổi đời ngắn dài không đồng đều, nhưng đều nằm trong sự kiểm soát nghiêm ngặt của giới cầm quyền Pháp. Tạm gác những khuynh hướng chính trị, “Khách quan mà nói, mỗi ấn phẩm, mỗi nhà báo thời ký ấy đều có sự đóng góp nhiều hay ít, ở mặt này hoặc mặt kia vào sự tiến triển của báo chí nước nhà nói riêng và của nền văn hóa dân tộc nói chung, góp phần thúc đẩy xã hội Việt Nam phát triển. Họ rất đáng để hậu sinh chúng ta ngưỡng vọng, tôn vinh”.

Nhưng tiến trình vận động cách mạng ở nước ta cần có những tờ báo theo kiểu mới, nội dung mới. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sau nhiều năm học tập, tham gia hoạt động cách mạng ở nước ngoài, đã sớm nhận thấy sức mạnh vận động quần chúng của báo chí, học cách viết báo, từ những tin ngắn vài dòng, đến những bài dài hơn, rồi lạị rút ngắn cho súc tích những bài viết dài, cùng các đồng chí chung chí hướng ở nhiều nước còn bị đô hộ, Người đã ra chung tờ báo Le Paria (Người cùng khổ). Số đầu tiên ra ngày 1.4.1922 .Năm 1926, khi về hoạt động ở Quảng Châu Trung Quốc, thành lập tổ chức Cách mạng đầu tiên mang tên Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội. Trong một căn gác chật hẹp giữa khu phố buôn bán tấp nập ở trung tâm thành phố Quảng Châu, ngay nơi thành lập tổ chức, Nguyễn Ái Quốc cùng các học trò của mình đã thực hiện tờ báo in sáp mang tên THANH NIÊN. Bằng những đường dây bí mật, các số báo được đưa về trong nước. Số báo đầu tiên ra ngày 21.6.1926. 90 số báo xuất bản đều đặn hàng tuần đã mở đường cho báo chí Cách mạng Việt Nam.
100 năm qua, cùng với những chuyển động lớn lao của đất nước, báo chí đã có những bước phát triển vượt bậc, trở thành một vũ khí sắc bén và hiệu lực trong quá trình đấu tranh cách mạng, trong các cuộc kháng chiến, và càng đặc biệt trong 50 năm từ ngày đất nước thống nhất trong hòa bình và xây dựng cuộc sống mới. Lịch sử 100 năm báo chí cách mạng ghi tên nhiều tờ báo lớn và thời kỳ nào cũng có nhiều nhà báo xuất sắc. Trên đầu nguồn báo chí cách mạng, ngoài vị trí đặc biệt sáng chói của Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh với 175 tên gọi và bút danh, các đồng chí Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Chí Thanh, ..và sau này, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đều là những nhà báo cự phách. Thống kê sơ bộ, 30 năm chiến tranh, có 511 nhà báo là liệt sĩ. Trong hàng ngàn, hàng chục ngàn nhà báo chuyên nghiệp thuộc nhiều tờ báo và nhiều kênh báo chí hiện đại, tên thì nhiều, tiếng cũng lắm, nhưng hoạt động bền bỉ, và tham gia vào nhiều hoạt động văn hóa- xã hội như nhà báo Phan Quang có lẽ không nhiều.
17 tuổi, tham gia công tác Cách mạng, 20 tuổi, 1948, sau khi vỡ mặt trận Trị Thiên, một bộ phận cơ quan lãnh đạo phải chuyển ra vùng tự do Thanh Nghệ Tĩnh, được Đồng chí Nguyễn Chí Thanh, phụ trách công tác Đảng ở Bình Trị Thiên, đưa về báo Cứu quốc liên khu IV, và công tác ở đây suốt 9 năm chống Pháp. Chàng thanh niên từ học việc, tham gia các chiến dịch để viết bài, đưa tin, vẫn nuôi mộng văn chương, và tự trang bị cho mình một vốn văn hóa để khi cuối 1954, sau Hiệp định Genever, được điều ra báo Nhân dân, ông không bị choàng ngợp. Chỉ có bút danh Hoàng Tùng là phải thay mới, bởi nơi đây đã có một nhà báo Hoàng Tùng quá nổi tiếng đang trấn giữ. Trong cuốn bút ký Từ nguồn Thạch Hãn đến bờ Hồ Gươm gần như là nhật ký 6 năm, được coi là tài liệu nguyên thô của nhà báo trẻ ( Nxb Trẻ, 2017 ), với lời giới thiệu tóm tắt : Là bức tranh sống động về cuộc đời trong sáng của cả một thế hệ, từ bà mẹ Việt Nam, anh bộ đội Cụ Hồ, chàng trai bị coi là tiểu tư sản, cô gái dịu dàng dù hơi kiêu ngạo, mấy anh cán bộ ấu trĩ, luôn nghiêm trọng hóa mọi vấn đề, mọi người đều vì nghĩa cả mà hết mình trong công việc…Nhìn lại những năm làm báo, ngoài vô số bài báo kịp thời, Ông đã có bài đủ in được hơn chục tập sách, có truyện ngắn, phóng sự, bút ký, và cả truyện dịch (Từ sông Vônga đến sông Đông của Paustopski). Một mình lội bộ từ miền Trung đang có trận lụt lớn ra, vẫn kịp về cơ quan mới, để ngày 14.10.1954, toàn bộ tòa soạn báo Nhân dân chuyển vào nội thành Hà Nội, buổi đầu ở Nhà thương Đồn Thủy. Từ vị trí là phóng viên báo Nhân dân, từ nay lấy bút danh Phan Quang, ông đã được đi nhiều, tham gia vào nhiều phong trào lớn của tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh cho thống nhất đất nước, tiếp cận nhiều, rất nhiều các các đồng chí lãnh đạọ cao cấp của Đảng và Nhà nước qua các thời kỳ, các văn nghệ sĩ, các nhà báo lớn của quốc tế. Là nhà báo có kiến văn (Tự học) sâu, rộng, thể hiện qua các tác phẩm báo chí thuộc nhiều khu vực, các cuốn sách chuyên sâu nhiều lĩnh vực, mà Ông được tiến cử đảm nhiệm nhiều cương vị công tác: Ban Tuyên huấn Trung ương, Thứ trưởng Bộ Thông Tin, Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt, hai nhiệm kỳ là Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam, ba nhiệm kỳ Phó Ban Đối ngoại Quốc Hội, Thành viên Đoàn Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc, Phó Chủ tịch Tổ chức Quốc tế các Nhà báo OIJ. Những công việc hành chính ấy lấy của Ông nhiều thời gian, nhưng cũng tạo cho Nhà báo nhiều cơ hội để mở rộng đề tài các bài viết, và đem kinh nghiệm nghề nghiệp truyền thụ cho các lớp kế tiếp. Trên cương vị Chủ tịch Hội Nhà báo, Ông đã cùng lãnh đạo Hội đề ra Quy ước đạo đức báo chí, như một chỉ dấu cần thiết cho các nhà báo trong tình hình mới. Theo Ông, cuộc sống hiện đại,có rất nhiều điều kiện cho các Nhà báó hoạt động, báo chí có nhiều phương tiện chuyển tải thông tin, cạnh tranh của các báo, các kênh là không tránh khỏi. Người làm báo luôn đứng trước nhiều lựa chọn, nhiều cám dỗ, nhiều thách thức, nếu không có bản lĩnh vững vàng, đạo đức trong sáng, rất dễ vướng vào những sự lựa chọn không hay. Cán bộ chính trị nhiều cấp được phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, lựa chọn, trước khi cất nhắc vào một vị trí công tác, mà chưa bao giờ có tỉ lệ vi phạm pháp luật, cái gốc là bản lĩnh đạo đức, nhiều như hiện nay. Nhà báo nếu không có bản lĩnh đạo đức, ảo tưởng về quyền lực thông tin của mình, rất dễ bị vật chất chi phối. Số lượng nhà báo giỏi, tài năng ngày nay là một con số nhiều, nhưng nhắc tên những người có uy tín cao trong xã hội thì không dễ.

Gác lại nhiều chức việc hành chính, có những vai khá quan trọng, bạn đọc đông đảo cũng như người gần gửi quen với một nhà báo Phan Quang khiêm nhường, nhẹ nhàng, thong dong trong nếp sống, nhưng không thể không kinh ngạc trước sức học, sức đi, sức viết của Ông. Tuyển tập Phan Quang năm 70 tuổi gồm 3 tập, gần 1.800 trang khổ 16/24, chọn từ bài viết 50 năm làm báo, và 50 đầu sách. Tuyển tập 10 năm 1998-2008 hơn 800 trang khổ 16/24, và giữa đó là 13 đầu sách, một số là tái bản : Về diện mạo báo chí Việt Nam, những người tôi quý mến, phác họa chân dung ( Chân dung trong nước và nước ngoài ), các tập ký Quê hương, Thơ thẩn Paris, Bên mộ vua Tần, Đồng bằng sông Cửu Long, Miền Trung ngày ấy, Du ký, Nghề báo nghiệp văn (Tiểu luận ), Thương nhớ vẫn còn, truyện thiếu nhi: Một mình giữa đại dương, Chinh phục Hymalaya. Phần dịch , có mấy cuốn tái bản đến lần thứ 25( nay đã hơn 30 lần ) : Nghìn lẻ một ngày, Nghìn lẻ một đêm, Những ngôi sao ban ngày ( Onga Bergon ), 12 sử thi huyền thoại, Sử thi huyền thoại Đông Tây. Hơn mười năm qua, hầu như năm nào Ông cũng có vài ba tập sách được in mới và tái bản. Vậy mà Ông luôn nhận mình là nhà báo, chỉ lạc bước vào văn chương.
Thật ra, văn chương và báo chí là anh em có chung một nguồn gốc là ngôn ngữ. Ra đời sau văn chương, nhưng rất nhiều tờ báo đã là nơi chuyển tải văn chương trước khi được in thành sách. Báo chí đông tây xưa nay có nhiều chuyện vui về các tiểu thuyết được in báo. Chẳng hạn, tác giả Những bí mật thành Paris của Eugène Sue đăng báo đang được đông đảo bạn đọc theo dõi. Bỗng một ngày, số báo không có bài đăng tiếp, bạn đọc xôn xao. Viên tướng chỉ huy quân đồn trú thành phố là một người trong số đó. Khi biết tác giả vi phạm kỷ luật, đang bị giam trong hầm tối. Ông đã lệnh phải thả ngay để tác giả viết tiếp! Tác phẩm văn chương ra đời mà không có báo chí chuyển tải và tạo dư luận thì cũng ngậm ngùi. Rất nhiều nhà văn lớn đồng thời là những nhà báo xuất sắc. Ông có một phát hiện thú vị, nhiều văn nghệ sĩ tiền chiến buổi đầu đi theo kháng chiến, không tiếp tục sáng tác được, họ đã tham gia vào các tòa soạn báo. Tô Hoài, Nam Cao, Ngô Tất Tố, Hoài Thanh, các nhà thơ Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Thâm Tâm…đều là những nhà báo đặc sắc. Chế Lan Viên ngày đầu theo kháng chiến, không dám làm thơ, vì cái mạch thơ buồn không thích hợp với kháng chiến. Ông chuyển sang viết báo, và theo nhà thơ, phải là một người làm báo hàng ngày, đáp ứng những đòi hỏi khắt khe của nó mới là một nhà báo thực sự.
Nhân kỷ niệm 100 năm báo chí Cách mạng, mà trên hành trình vinh quang của nó, mỗi thời kỳ đều sáng chói tên tuổi những nhà báo xuất sắc, nhiều bài viết chính luận cũng như các thể loại khác có giá trị như những lời hịch, lời ngợi ca đầy sức cổ vũ toàn dân , tôi thấy hình như Nhà nước còn thiếu một hình thức khen thưởng xứng đáng. 45 nhà nhiếp ảnh, nhiều nhà làm phim tài liệu được nhận Giải thưởng Nhà nước, Giải thưởng Hồ Chi Minh, thì giá trị chính các tác phẩm đó cũng ở tính chất báo chí : Ghi lại những khoảnh khắc đáng nhớ. Nên chăng có một hình thức khen thưởng Nhà nước cho các nhà báo lớn trong cách mạng và kháng chiến?
NGÔ THẢO














