Vanvn- Đêm đã về khuya. Cả xóm nhỏ ven sông đã chìm vào giấc ngủ từ lâu, chỉ còn vài ngọn nến leo lét bên linh cữu dượng. Ánh lửa gầy guộc run rẩy hắt lên bức tường những mảng bóng chập chờn, hư ảo. Khói trầm bảng lảng bay thành một dải mỏng manh, cứ quẩn quanh mãi trong căn nhà đặc quánh mùi tang tóc. Ngoài sân, gió tháng Chạp lùa qua vườn chuối, những tàu lá khô cọ vào nhau xào xạc, nghe như tiếng ai đó vừa khẽ thở dài vào thinh không.

Mọi người trong gia đình sau một ngày lo toan tang lễ đều đã thấm mệt, mỗi người tản mát một góc trên manh chiếu nhàu nhĩ nằm thiếp đi. Mẹ nằm trong buồng trong, thi thoảng lại trở mình khẽ khàng, tiếng giường tre kẽo kẹt xoáy vào lòng tôi một nỗi xót xa. Ngoài sân kia, mấy bác phường kèn trống ngồi co ro trong cái lạnh, rì rầm những câu chuyện đứt quãng về nhân tình thế thái, câu được câu chăng giữa hơi men cay nồng.
Tôi ngồi bó gối nơi bậc cửa, nhìn ra khoảng sân quen thuộc mà bỗng thấy lòng trống trải, mông lung đến lạ. Tôi đứng dậy trở về phòng, ngả lưng định chợp mắt một lát, nhưng đầu óc cứ quay cuồng trong bóng tối không sao ngủ nổi. Hễ cứ nhắm mắt lại, gương mặt dượng lại hiện lên – hiền lành, ít nói, thân thuộc như một cái bóng thầm lặng đã đi tới đi lui trong ngôi nhà này suốt mấy chục năm qua. Cái bóng ấy dường như đã hòa tan vào từng kẽ gạch, vào từng viên ngói, vào cả hơi thở phả ra từ đất mẹ phù sa.
Tôi ngồi dậy, bước chậm về phía chiếc quan tài lạnh lẽo. Dượng nằm đó, gương mặt thanh thản sau ô kính nhỏ, trông như vừa chìm vào một giấc ngủ dài không mộng mị. Những nén hương trên quan tài đã tàn, chỉ còn sót lại đoạn chân nhang ngắn ngủi. Tôi run run rút mấy thẻ hương mới, châm lửa, rồi lặng lẽ cắm vào từng bát hương đặt trên nắp quan tài.
Người đàn ông này đã sống cùng mẹ con tôi gần hết cuộc đời tôi. Vậy mà… suốt từng ấy năm dài đằng đẵng, tôi chưa một lần gọi người là “Bố”.
Mẹ kể rằng, ngày xưa bà nội và bà ngoại tôi mâu thuẫn gay gắt, không ai chịu ai, đến mức những định kiến và lòng tự trọng cũ kỹ đã đẩy bố mẹ tôi phải chia lìa khi tôi còn nằm trong bụng mẹ. Sau khi rời xa mẹ con tôi, bố nhập ngũ rồi hy sinh nơi chiến trường B sau mười năm ròng rã chiến đấu. Hình bóng bố trong tôi chỉ là một vầng hào quang xa xăm qua những tấm bằng Tổ quốc ghi công và lời kể nhạt nhòa như khói sương của mẹ.
Tôi lớn lên trong căn nhà nhỏ bên bờ sông Hồng chỉ có mẹ và ông bà ngoại an ủi, vỗ về. Những đêm gió sông thổi về lạnh buốt, tiếng mẹ ru hời khàn đục cứ buồn thương như chạm vào tận đáy lòng non nớt của tôi. Dòng sông mùa lũ nước đỏ ngầu phù sa, cũng giống như cuộc đời mẹ tôi, cứ cuộn sóng và đầy rẫy những ghềnh thác nhọc nhằn. Tôi đã từng ghét dượng – người đàn ông lạ mặt bước vào cuộc đời mẹ con tôi, vì tôi không muốn dượng đến để thay thế vị trí của người cha mà tôi vẫn hằng tưởng tượng và xây đắp…
Năm tôi lên năm, mới bắt đầu học lớp vỡ lòng. Chiều hôm ấy đi học về, vừa bước vào sân tôi đã thấy ông ngoại tất tả từ nhà hàng xóm đi về, tay xách chiếc đèn Măng xông vừa mượn được. Ông tỉ mẩn mang cả chiếc đèn dầu hỏa cũ của nhà ra lau chùi, ánh mắt lấp lánh một niềm vui kín đáo mà tôi chưa từng thấy trước đó. Tôi tò mò hỏi:
– Ông chuẩn bị đèn làm gì thế ạ?
Ông chỉ thủng thẳng bảo:
– Nhà mình có việc con à.
Bước vào nhà, tôi lại thấy một thúng to đựng đầy cau trầu và những bao thuốc lá thơm đặt ngay ngắn trên phản. Tôi cứ ngây ngô ngỡ rằng nhà sắp có giỗ chạp gì lớn, nên chẳng hỏi thêm mà lẳng lặng đi cất cặp sách.
Nhưng khi chiều tà buông xuống, họ hàng kéo đến đông đủ, tiếng cười nói bắt đầu râm ran cả một khoảng sân nhỏ, tôi mới bàng hoàng hiểu ra sự thật: họ đang chuẩn bị đám cưới cho mẹ tôi. Nhìn nét mặt hớn hở, rạng ngời của mọi người, lòng tôi lại trĩu nặng một nỗi buồn không sao tả nổi. Giữa cái náo nhiệt ấy, tôi thấy mình lạc lõng đến tội nghiệp.
Tôi lủi thủi chui vào xó bếp – nơi duy nhất lúc này tối đen như mực và yên tĩnh tuyệt đối. Chỉ có ánh trăng đêm ấy nhạt nhòa, lọt qua tấm vách nứa thủng lỗ chỗ, hắt những vệt sáng xanh xao xuống nền đất ẩm. Qua khe hở nhỏ bé ấy, tôi lặng lẽ quan sát người ta đến chúc phúc cho mẹ, nghe tiếng cười của họ át cả tiếng gió thổi ngoài vườn. Đêm ấy, tôi đã khóc cạn nước mắt trong bóng tối mịt mùng của gian bếp ám mùi khói lâu ngày. Cơn ghen tị trẻ con cứ thế dâng lên như sóng trào; tôi vừa chạnh lòng, vừa sợ hãi cái cảm giác mẹ rồi sẽ thuộc về một người đàn ông khác. Tôi nơm nớp lo sợ rằng tổ ấm mới của mẹ sẽ chẳng còn chỗ cho mình, và tôi sẽ trở thành kẻ thừa thãi trong chính cuộc đời mẹ.

Có lẽ chính từ khoảnh khắc ấy, một vách ngăn vô hình đã dựng lên trong lòng tôi, khiến tôi chẳng thể cất lời gọi dượng là “Bố”, dù sau này dượng đã dốc hết lòng dạ để chăm chút cho tôi, chẳng khác gì những đứa em con chung của mẹ và dượng sau này.
Dượng bước vào đời tôi bằng một sự nhẫn nại hiếm thấy. Dáng dượng cao gầy, nước da sạm màu nắng gió nơi chiến trường và đôi mắt lúc nào cũng ánh lên vẻ hiền từ đến lạ. Dượng vốn là lính chiến, sau vài năm phục vụ trong Quân đội thì chuyển ngành về làm giáo viên trường làng. Có lẽ vì đã đi qua lằn ranh của cái chết nên dượng quý trọng sự bình yên hơn bất cứ ai; dượng nói năng nhỏ nhẹ, đi đứng chậm rãi, như thể sợ từng bước chân hay tiếng động của mình sẽ làm xáo động cái thế giới vốn dĩ đã quá mong manh của hai mẹ con tôi.
Cuộc đời dượng cứ thế lặng lẽ trôi đi, nhịp nhàng giữa hai mảng màu đối lập. Mỗi sáng dượng là ông giáo nho nhã đạp chiếc xe cũ kỹ đến trường; chiều về dượng lại tất tả xắn quần quá gối, trở thành người nông dân cần mẫn giữa đồng sâu. Dượng gánh trên vai cả con chữ cho học trò làng lẫn những nhọc nhằn đồng áng để vun vén cho mẹ con tôi một mái ấm vẹn tròn.
Ngôi trường nơi dượng dạy nằm nép mình dưới những tán xà cừ cổ thụ, chỉ cách nhà một con đê dài hun hút. Những buổi chiều tan học sớm, tôi thường thơ thẩn đứng nhìn qua khung cửa sổ cũ kỹ, tôi thấy dượng đứng trên bục giảng, vạt áo sơ mi tuy đã sờn vai nhưng luôn được ủi phẳng phiu. Tay dượng cầm viên phấn trắng nắn nót từng chữ trên bảng đen; giọng dượng trầm ấm vang vọng giữa không gian tĩnh mịch, giảng giải về lòng nhân nghĩa, về những trang sử hào hùng của dân tộc mà dượng từng gửi lại một phần xương máu nơi chiến trường.
Học trò trong làng đứa nào cũng kính trọng dượng. Bởi dượng không chỉ dạy chữ nghĩa, mà còn chỉ cách cầm cán cuốc sao cho chắc. Có những hôm, tôi thấy dượng nán lại tỉ mẩn sửa chiếc bàn gãy chân cho học trò. Sự tận tụy ấy dường như đã vận cả vào cách dượng đối đãi với tôi. Ở trường, dượng uốn nắn những nét chữ đầu đời cho bao thế hệ; còn ở nhà, dượng lặng lẽ làm một “người thầy không đứng trên bục giảng”, mà dùng chính sự kiên nhẫn để xoa dịu những gồ ghề, gai góc trong lòng tôi.
Bàn chân dượng bấm sâu xuống bùn lầy, đôi vai gầy cùng mẹ gồng gánh qua những mùa vụ thất bát để chị em tôi có bữa cơm ấm bụng, có manh áo mới mỗi độ Tết đến xuân về. Dưới ánh đèn dầu hắt hiu, dượng thường cặm cụi chấm bài xong, dượng lại lụi cụi gọt giũa gỗ làm đồ chơi cho tôi.
Tôi nhớ mãi mùa lũ năm ấy, nước sông Hồng dâng cao mấp mé bờ đê, tiếng sóng gầm gừ đe dọa cả làng. Dượng thức trắng đêm cùng dân làng hộ đê, bùn đất lấm lem từ đầu đến chân. Vậy mà sáng ra trước khi về nhà, dượng vẫn không quên ghé tiệm tạp hóa mua cho tôi một xấp giấy màu để gấp máy bay. Lại có lần đi học về, tôi thấy trên bàn một chiếc hộp bút còn thơm mùi gỗ mới, nắp khắc bông hoa cúc nhỏ xinh xắn. Dượng bảo:
– Dượng làm cho con đấy.
Tôi mỉm cười:
– Đẹp quá, con cảm ơn dượng.
Dượng không nói gì, chỉ cười – nụ cười hiền hậu như đất, ấm áp như nắng hanh mùa thu.
Nhưng cũng chính sự hiền hậu ấy đôi khi lại khiến một đứa trẻ nhạy cảm như tôi nảy sinh những hiểu lầm đau đớn. Tôi nhớ mãi một buổi chiều dẫn em gái ra đê thả diều, mải mê nhìn theo cánh diều chao lượn trên nền trời xanh thẳm mà quên cả giờ cơm. Lúc hai chị em lếch thếch dắt nhau về thì trời đã sập tối, gió sông thổi lạnh buốt. Vừa thấy bóng hai đứa, dượng đã nghiêm mặt quát mắng em gái, thậm chí dượng còn vớ chiếc roi mây đét nhẹ vào mông em một cái rõ đau:
– Lần sau nhớ đến bữa là phải về, nghe chưa!
Tuyệt nhiên, dượng không hề quát tôi một lời, dù tôi là chị đáng ra phải có lỗi hơn. Lúc ấy, thay vì thấy may mắn, tim tôi lại thắt lên một nỗi tủi thân cay đắng. Tôi tự nhủ: “Phải rồi, vì mình không phải con đẻ, nên dượng mới khách sáo, mới giữ kẽ với mình như người dưng thế đấy”. Sau lần đó, tôi bắt đầu để ý và nhận ra sự khác biệt ấy lặp lại rất nhiều lần. Càng được dượng đối xử nhẹ nhàng, tôi càng lún sâu vào ý nghĩ mình chỉ là một kẻ ngoài lề.
Mãi sau này, mẹ mới khẽ khàng giải thích:
– Con đừng trách dượng không nghiêm khắc với con. Dượng bảo dượng thương con chịu nhiều thiệt thòi từ bé, dượng lại là người đến sau, nên chẳng đành lòng nặng lời, sợ con lại nghĩ ngợi, tủi thân…
Câu nói của mẹ khiến tôi bàng hoàng. Hóa ra, cái khoảng cách mà tôi ngỡ là sự thờ ơ, thực chất lại là cách dượng nâng niu tôi bằng tất cả sự tinh tế và nhẫn nại của một người làm cha. Tôi lặng người xa xót nhìn ra phía triền đê, gió thổi lồng lộng qua những rặng phi lao, bỗng thấy lòng mình chông chênh trước một tình yêu thương lặng lẽ như phù sa sông Hồng, cứ âm thầm bồi đắp, bồi đắp mãi mà chẳng bao giờ đòi hỏi một lời ghi nhận.
Vậy mà, ở trường, khi bạn bè hỏi:
– Bố mày làm nghề gì?
Tôi thường ngập ngừng:
– Bố tao… hy sinh rồi.
Rồi tôi nói thêm:
– Còn dượng tao là giáo viên.
Tôi gọi dượng là dượng, xưng con – một cách gọi vừa đủ lễ phép nhưng cũng đủ để tạo ra một lằn ranh lạnh lẽo mà tôi chưa bao giờ can đảm vượt qua. Tôi cứ cố chấp giữ cái lằn ranh ấy, dẫu cho tôi nhớ như in những lần mình sốt cao li bì lúc mẹ đi vắng, dượng đã cõng tôi chạy bộ mải miết ra đường lớn để tìm xe. Đêm ấy lạnh căm căm, tôi mê man trên lưng dượng, chỉ còn cảm nhận được hơi thở dồn dập của người và lưng áo dượng ướt đẫm mồ hôi dù trời đang rét đậm. Hay như ngày tôi đi thi đại học, dượng dậy từ tinh sương chở tôi lên thị xã bằng chiếc xe đạp cọc cạch. Con đường đá dăm xóc nảy, dượng cứ lầm lùi đạp, mồ hôi chảy ròng ròng trên gò má sạm đen, bết vào mái tóc đã lấm tấm muối tiêu.
Tất cả những nhọc nhằn đó dượng đều nhận lấy về mình, lặng lẽ và bao dung, còn tôi thì vẫn cứ đứng bên kia lằn ranh do chính mình dựng nên, đón nhận tình thương của dượng như một lẽ đương nhiên mà chưa bao giờ thốt ra một lời cảm ơn trọn vẹn.
Có buổi tối sau bữa cơm, dượng uống vài chén rượu nhạt, nhìn tôi bằng đôi mắt đượm buồn:
“Từ bé đến giờ… con vẫn gọi dượng là dượng nhỉ?”
Tôi lúng túng cúi mặt, giả vờ thu dọn bát đũa thật nhanh để lảng tránh. Dượng cười buồn:
– Thôi… con cứ gọi thế cũng được. Dượng không trách con đâu.
Đêm đó tôi trăn trở mãi, một tiếng “Bố” cứ nghẹn ứ nơi cổ họng, muốn bật ra mà không sao thốt nên lời. Cái danh xưng thiêng liêng ấy đối với tôi lúc đó như một pháo đài khó lòng công phá.
Năm tháng vô tình trôi, dượng già đi theo quy luật nghiệt ngã của thời gian. Lưng dượng còng xuống dưới gánh nặng của bao mùa vụ nhọc nhằn, mái tóc trắng xóa như hoa lau ven sông dập dềnh trong gió. Khi chị em tôi lớn lên, mỗi đứa một phương đi công tác cả, mỗi lần về thăm nhà tôi chuyển sang gọi dượng là “ông”, xưng “con” nương theo cách gọi của các cháu ngoại. Tôi ngỡ rằng cách gọi đó đã là một sự gần gũi nhất có thể, mà không hay biết rằng, thẳm sâu trong lòng dượng, một tiếng “Bố” trọn vẹn dành riêng cho mình mới là điều dượng hằng mong đợi.
Chiều hôm qua, dượng trút hơi thở cuối cùng, bình thản rời xa nhân thế. Nắng chiều buông xuống mặt sông Hồng vàng võ, như một lời từ biệt không thanh âm của người dành cho cõi tạm.
Đêm nay, đứng trước linh cữu người, tôi thấy lòng mình vỡ vụn. Tôi đặt tay lên thành gỗ lạnh buốt, cổ họng nghẹn thắt. Một tiếng gọi từ sâu thẳm tâm can bấy lâu bỗng dâng lên, vỡ òa giữa không gian tĩnh lặng đặc quánh mùi trầm hương:
– Bố ơi…
Hai chữ ấy vừa thoát ra, nước mắt tôi đã tuôn rơi lã chã, ướt đầm cả vạt áo tang trắng muốt.
– Bố ơi… con xin lỗi…
Con đã có một người bố nằm lại nơi chiến trường xa xôi, và một người bố sống cạnh con suốt cả cuộc đời, bao bọc con qua bao mùa nắng lửa… vậy mà con lại hẹp hòi đến mức không dám gọi người một tiếng Bố!
Tôi áp trán mình vào thành gỗ lạnh, khóc nấc lên cho sự bướng bỉnh và ích kỷ của chính mình. Ngoài sân, gió lại thổi qua vườn chuối, những tàu lá xào xạc như bàn tay gầy guộc của dượng đang khẽ vuốt tóc vỗ về đứa con dại khờ. Ngọn nến trên quan tài rung lên một cái rồi đứng yên. Trong khoảnh khắc ấy, tôi bỗng cảm nhận được một hơi ấm quen thuộc, dường như dượng đang đứng đó, nhìn tôi bằng ánh mắt hiền từ và nụ cười bao dung như người đã chờ đợi tiếng gọi này từ lâu lắm rồi. Bố nghe thấy rồi, phải không bố?
Đêm dài lê thê. Tôi ngồi bên dượng cho đến khi gà cất tiếng gáy canh năm, xé tan màn sương mờ đục đang bao trùm lên xóm làng. Bác thợ kèn nhà hàng xóm đã đứng bên tôi từ lúc nào, bác vỗ nhẹ lên vai tôi khẽ nói:
– Cháu đừng khóc nữa, đứng dậy vào phòng chợp mắt một lát đi, còn lấy sức sáng ra đưa bố cháu ra đồng.
Câu nói của bác làm tôi bừng tỉnh. Tôi đứng dậy, cảm giác nỗi nghẹn ngào bấy lâu như dòng nước tràn bờ, cuốn trôi đi những ngăn cách cuối cùng để lòng nhẹ tênh. Nhưng cái nhẹ nhàng ấy cũng đau đớn đến xé ruột gan, vì từ nay về sau, dù con có gọi bao nhiêu tiếng “Bố”, thì căn nhà này cũng chỉ còn lại tiếng gió vọng vào từ vườn chuối sau nhà và tiếng sóng vỗ bờ xa xăm thôi bố à! Tôi thì thầm nói với dượng vài câu cuối cho lòng nguôi ngoai, rồi khẽ thở hắt ra một hơi dài nhẹ nhõm nhưng xót xa.
Ngoài kia, trời đã lờ mờ sáng. Tiếng kèn trống lại cất lên, bản nhạc buồn da diết như một đường cày cứa vào lòng đất mẹ, tiễn đưa một người thầy, một người nông dân, và một người Bố… đã lặng lẽ yêu thương tôi bằng cả một đời im lặng. Phù sa sông Hồng vẫn đắp bồi nên những bãi bờ xanh mướt cho đời sau, lòng người vẫn chảy, chỉ có tiếng “Bố” là mãi mãi nằm lại với ký ức của một đêm mùa đông buốt giá. Và dòng sông hàng ngày vẫn đỏ nặng phù sa, vẫn lặng lẽ chảy như tình người suốt một đời âm thầm bồi đắp đời con…
NGUYỄN THỊ BÍCH VƯỢNG















