Khách của quê nhau rún – Tiểu thuyết của Khôi Vũ – Kỳ 1

Vanvn- Nhà văn Khôi Vũ – Nguyễn Thái Hải là cây bút kỳ cựu ở Đồng Nai. Tiểu thuyết Khách của quê nhau rún là tác phẩm mới nhất vừa xuất bản của ông viết về một đoạn đời của Lý Văn Sâm – một nhà văn và nhân vật lịch sử quan trọng không chỉ của Đồng Nai mà năm nay kỷ niệm 100 năm ngày sinh.

Chuyên đề Văn học Đồng Nai của Vanvn.vn trân trọng giới thiệu một phần tiểu thuyết Khách của quê nhau rún đến bạn đọc.

Nhà văn Lý Văn Sâm – nhân vật trong tiểu thuyết

Chuyên đề Văn học Đồng Nai:

>> Trở lại Đắc Lua – Bút ký của Lê Đăng Kháng

>> Thơ Trần Ngọc Tuấn: Tôi ngồi vẽ núi lạnh mười ngón tay

>> Má Năm – Truyện ngắn của Nguyễn Trí

>> Chuyện tình ở Hầm Hinh – Tiểu thuyết Trần Thu Hằng – Kỳ 1

>> Chuyện tình ở Hầm Hinh – Tiểu luận của Bùi Công Thuấn

>> Thơ Đàm Chu Văn: Ngọn nguồn nối mạch ca dao

>> “Lửa cháy” ngoài nhà thờ Đức Bà Paris – Truyện ngắn của Khôi Vũ

>> Những tác phẩm viết cho thiếu nhi của nhà văn Hoàng Văn Bổn

>> Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Còn lại thiên thu một chút tình

>> Bút ký của Hoàng Ngọc Điệp: Sóng gió hồ Trị An

>> Chùm thơ Đỗ Minh Dương: Mượn câu thơ phú trải lòng cùng ai

>> Truyện ngắn Dương Đức Khánh: Khăn rằn vắt vai

>> Lý Văn Sâm từ nhà văn đường rừng đến hiện thực và cách mạng

>> Chuyên trang Chi hội Nhà văn Việt Nam trên Văn Nghệ Đồng Nai

 

Phần 1

Vị ngọt của mía

 

1

Ông là một tên tuổi lớn. Ấy là người đời đánh giá. Phần mình, ông thích là một người bình thường, sống lẫn vào những con người bình thường chung quanh. Mà ông cũng thường “lẫn” vào họ thật. Cái dáng mảnh khảnh, nhỏ con của ông trông giống như một cậu học trò, một viên thư lại trẻ, làm sao nổi bật lên được giữa những người dân lao động văm vở hoặc ngay cả đám công chức văn phòng. Ông cũng trang phục giản dị, sơ mi trắng thường ngắn tay, bỏ trong quần, lẹt đẹt đôi săng đan. Nói năng thì chắc khó ai nhỏ nhẹ hơn ông…

Sáng nay, ông nhờ cậu kế toán chở ra khu phố Cây Chàm ăn sáng, uống cà phê. Khu dân cư này có từ rất lâu rồi, tận trước hồi ông đi kháng chiến. Dân ở đây khá đông, phần lớn là người lao động bình dân. Con đường lớn đi qua mặt trước chợ tỉnh cũng xuyên qua khu Cây Chàm này để về vùng ngoại ô kế bên. Ngồi trong cái tiệm mì người Hoa có từ hồi ông còn tuổi đôi mươi, giờ sau hơn ba mươi năm, nằm thấp hơn mặt đường nửa mét, ông nhìn qua bên kia đường, nơi có nhà một người bạn cũ. Cuộc đời khắc nghiệt quá! Cùng bước vào đời ở tuổi thanh niên, nay đã qua tuổi tri thiên mệnh, ông và bạn lại ở hai phía của cuộc sống. Người ta gọi ông là nhà văn cách mạng, còn bạn ông thì bị xếp vào thành phần “ngụy quyền”. Người ta mời ông từ Thành phố về tỉnh này phất cờ gầy dựng phong trào sáng tác văn nghệ cho địa phương, trong khi những cuốn sách có giá trị của bạn ông viết về địa phương cho đến nay vẫn bị bỏ xó, ai đụng đến là bị coi như “có vấn đề”! Tự thâm tâm, ông không đặt nặng vấn đề “bên này bên kia”, nhất là trong lãnh vực hoạt động chuyên ngành của mình, nhưng xu thế bây giờ là như thế.

– Chú Hai thấy mì ở đây ngày nay so với hồi trước thế nào?

Cậu kế toán tò mò hỏi sau khi ông ăn hết tô mì chậm hơn cậu ta cả năm phút. Ông cười:

– Mì thì không ngon bằng nhưng không khí tiệm mì thì vẫn “ngon” như xưa…

– Là sao hả chú?

– Là vẫn một ông đầu bếp bận quần xà lỏn, ở trần đứng nấu, dù ông này đã thuộc thế hệ sau. Vẫn mấy cậu xích lô, mấy cậu ba gác ngồi ăn. Vẫn có em nhỏ mời mua nhựt trình. Vẫn con đường rợp bóng cây dù nó đã mở rộng… Chót hết, vẫn có tay lãng tử là chú, sau bao năm phiêu bạt lại ngồi đây…

Ông nói trong hoài niệm. Đôi mắt ông nhìn ra ngoài đường. Dòng xe cộ đủ loại qua lại trên con đường nhỏ ngày xưa nay đã được nâng cao và mở rộng thành bốn làn xe. Xe bây giờ đủ loại: xe hơi, xe gắn máy, ba gác, xích lô, xe đạp… Dễ hiểu thôi. là vì đường nằm gần chợ tỉnh. Nhưng chờ mãi vẫn không thấy một chiếc xe thổ mộ.

– Tỉnh mình nay còn xe ngựa chạy không cháu?

Ông hỏi cậu kế toán về “xe ngựa” thay vì nói “xe thổ mộ” vì sợ cậu này không hiểu, và mong ngóng câu trả lời.

– Dạ vẫn còn. Nhưng ít lắm rồi chú Hai ơi. Theo cháu biết thì chỉ còn hai chiếc xe ngựa chở hàng nông sản từ dưới huyện lên, mà mỗi chiếc mỗi tuần cũng chỉ chạy một chuyến thôi!

– Không biết bữa nay có chuyến nào không ta?

Ông hỏi để mà hỏi, để mà nói lên nỗi lòng hoài cổ của mình thế thôi. Thuở thiếu niên của ông ở huyện, ông còn từng theo cha cưỡi ngựa đi về phía thượng nguồn dòng sông, nơi có những người thiểu số của dân tộc Mạ, Chơ Ro, S’ tiêng… sinh sống. Một kỷ niệm buồn hiện lên trong lòng ông, dấy lên rồi được nén lại. Những người nông dân ở quê ông đã hiền như củ khoai, ngọn lúa, mà những người thiểu số quen được gọi là “người Thượng” này còn lành hơn, như nước suối, như gió sông. Ngày ấy, ông cũng từng để lòng yêu thương một cô gái miền sơn cước, rồi nên vợ nên chồng, rồi chia xa bặt vô âm tín…

Cuộc đời đưa đẩy mỗi người đến một số phận. Như hai số phận của ông và người bạn cũ.

Ông vẫn hướng mắt về phía trước, nhưng tập trung qua một căn nhà bên kia đường. Nhà của người bạn ông nay đã khác xưa nhiều. Cánh cửa gỗ đặt lệch một bên, cạnh cái cửa sổ mà cả hai cùng được sơn màu xanh lá cây đậm, nay đã được thay bằng cánh cửa sắt dài gần hết bề ngang nhà, sơn màu trắng. Phía sau cánh cửa sắt kia, nếu ông bước vào, chắc chắn sẽ gặp lại người bạn cũ mà đến lúc này, ông vẫn không thể hình dung ra nổi gương mặt của bạn như thế nào? Vẫn còn nét trẻ trung, phong lưu của một anh viên chức Pháp, rồi công chức miền Nam, hay da đã mồi, mặt đã đầy nếp nhăn của thời gian, suy tư và gợi buồn?

– Thế cháu đã gặp ổng lần nào chưa? – Ông buột miệng hỏi.

– Chú Hai nói ai?

– Thì ông bạn chú ở bên kia đường đó…

– À! Chưa! Nhưng cháu có gặp anh con trai lớn của bác Tư. Ảnh làm việc trong ngành thể thao tỉnh mình. Cháu nghe ảnh nói bác Tư bị hư mắt nhưng vẫn còn khỏe mạnh và rất muốn được tiếp tục in sách…

– Vậy thì mừng rồi…

Ông ngồi trầm ngâm. Ly cà phê trên bàn mới vơi đi một nửa. Kiểu uống nhâm nhi quả tình không hợp với ông, nhưng bây giờ không thể như ngày xưa được nữa. Ngày ấy, ông ưa ra uống cà phê vợt ở vỉa hè, nơi khách đến sau phải đứng đợi khách đến trước. Vì vậy, người nào được ngồi trên cái ghế cóc và trước mặt có ly cà phê rồi, cũng ráng uống cho mau để đứng lên, nhường ghế trống cho người đang đợi. Cà phê rót từ trong bình ra ly còn bốc hơi  nóng hổi, muốn uống phải làm cho nó nguội bớt bằng cách đổ ra đĩa rồi thổi phù phù vài cái, sau nữa là húp sụp sụp. Uống vậy mà vẫn thấy “đã” làm sao, kiểu nhâm nhi chẳng xứng để so sánh! Nhiều buổi sáng, ông và bạn đã ra đây ngồi uống cà phê vợt. Bạn ông còn có thói quen ăn thêm cặp dầu chéo quẩy vì nếu không ăn thì uống cà phê sẽ bị say! Ông bạn còn giải thích cặp bánh chính là hình ảnh cha con gian thần Tần Cối hãm hại trung thần Nhạc Phi nên bị người dân Trung Hoa căm ghét, lấy bột nặn ra rồi ném “hai cha con” bị trói dính nhau vào chảo dầu sôi sùng sục để trừng trị!

– Chú Hai có qua thăm bác Tư không? Để cháu kêu tính tiền rồi dẫn chú qua…

Cậu kế toán nhiệt tình. Cậu là dân địa phương, sinh ra ở trung tâm tỉnh lỵ nhưng có người trong họ hàng đi cách mạng hiện có vị trí xã hội nên được ưu tiên nhận vào làm việc ở văn phòng Hội. Tà tà làm công việc kế toán, cậu ta còn kiêm thêm nhiều việc không tên khác. Cứ như một thành viên trong một gia đình chứ không phải là một nhân viên cơ quan! Mỗi lần chở ông bằng chiếc Honda dame, cậu ta đều chạy rất cẩn thận, phục vụ ông như con chăm cha già. Có lần cậu này nói với ông: “Mai mốt về già, cháu chỉ cần kể cho con cái mình nghe rằng mình từng chở chú Hai nhà văn đi khắp cái xứ bưởi này, là tụi nhỏ phải phục sát đất rồi! Thử hỏi có mấy ai được cái vinh dự ấy!”. Ông mỉm cười: “Cháu cũng có tài nịnh đó”. Cậu ta ranh mãnh: “Dạ, ninh người đáng nịnh thì đâu có xấu, phải không chú!”.

Ông đã có sẵn ý thăm bạn. Mấy chục năm xa cách, gặp lại nhau chắc sẽ cảm động lắm và hẳn có trăm thứ chuyện để nói với nhau… Ông nghĩ trong đầu vậy mà miệng lại nói:

– Có lẽ… để lần khác thôi cháu…

Ông nói mà trong lòng tự trách mình. Chỉ còn chục bước qua đường mà sao ông lại chần chừ? Ông không phải người phân biệt đối xử bên này bên kia, bên thắng bên thua, chắc chắn rồi. Ông cũng không sợ ai nói ra nói vào khi ông đến nhà một người theo “ngụy”. Càng không thiếu thì giờ để ông la cà chuyện trò. Nhưng ông lại sợ vẩn vơ một điều, biết đâu chẳng xảy ra: người bạn cũ khi nhận ra ông sẽ từ chối tiếp khách! Mặc cảm tự ti kiểu này ông đã từng gặp một lần khi cùng một người bạn khác đến thăm người thân của ông ta. Họ hàng gần với nhau, nhận ra nhau rồi mà chủ nhà vẫn nói: “Cảm ơn ông cán bộ. Nhưng gia đình tôi không xứng và cũng không muốn làm phiền tới ông cán bộ!”.

– Buổi sáng nay chú Hai còn tính đi đâu nữa không? Chiều chú mới họp, mình còn cả buổi sáng rảnh rang đó chú…

– Cháu chở chú đảo một vòng về quê được không? Họ hàng bên ngoại chú ở bên kia sông, phải qua đò mới tới, phiền phức lắm. Mà cũng không biết còn ai ở đó nữa. Mình chỉ đi ngoài đường quê nội chú phía bên này sông thôi, cho chú ngắm đôi ba cảnh vật cũ…

– Dạ được.

Ông đứng dậy. Mắt ông nhìn qua căn nhà người bạn cũ, thầm nói: “Tôi xin lỗi. Tôi sẽ đến thăm anh khi nào đủ tự tin nghĩ rằng mình sẽ không bị anh xua đuổi. Anh là một trí thức đầy lòng tự trọng, nhưng anh còn là bạn của tôi mà, phải không anh Tư?”.

Nhà văn Khôi Vũ

2

Quê nội ông là một ngôi làng nhỏ nằm bên dòng sông lớn miền Đông lắm tôm, nhiều cá, là nguồn sống của người dân cả một lưu vực rộng lớn. Dòng sông ấy có nguồn từ vùng cao, chảy qua nhiều ghềnh thác trước khi êm đềm trôi ra biển. Có lẽ những gian nan trên đường chảy đã khiến sông bình thường thì xanh trong, êm dịu, nhưng tới khi giận dữ lại đục ngầu phù sa, nước cuốn tuôn ào ạt. Vào một năm Thìn, sông còn làm nên trận lụt lớn, nước dâng ngập nhà cửa vùng hạ nguồn, tàn phá hoa màu đang tươi tốt trên những cánh đồng, nương rẫy, dìm tỉnh lỵ vào biển nước mênh mông… Cái năm lũ lụt ấy còn hằn lại biết bao kỷ niệm buồn đau trong lòng người…

Qua khỏi con đường giữa một bên là núi, một phía là sông, chiếc xe của cậu kế toán chở ông rẽ qua một khúc quanh bên trái, qua một chiếc cầu bắc ngang con rạch nhỏ. Từ đây đã là đất của huyện quê ông. Đường nhỏ hơn, tráng nhựa, có dăm ba ổ gà chỗ giáp lề đường. Về phía phải, xa xa là đất của sân bay quân sự trong chiến tranh từng mấy lần bị ăn đạn pháo kích từ trong rừng chiến khu bắn ra.

– Cháu chạy chậm thôi nghen! – Ông dặn.

– Dạ. Chú Hai yên tâm. Cháu biết là cháu đang chở một nhà văn lớn, một đại biểu Quốc hội mà. Chú là tài sản lớn của đất nước, cháu đâu dám sơ xuất. Có gì, cháu vô tù mọt gông chú ơi…

Cậu kế toán chỉ nói đùa nhưng không sai. Ông đúng là một người quan trọng, không phải chỉ đối với tỉnh này mà còn với cả nước. Thời kháng chiến, ông từng là người đứng đầu tổ chức hội Văn Nghệ Giải phóng trong rừng, sau đó là vụ trưởng vụ Nghệ thuật của bộ Văn hóa Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam. Hòa bình về, ông còn vừa là đại biểu Quốc hội vừa là ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam. Là thượng khách của quê hương mình, ông hoàn toàn có thể điện thoại đề nghị tỉnh điều một chiếc xe hơi công chở mình về thăm quê, nhưng ông không làm thế. Sẽ chẳng ai dám nói gì, nhưng tự lòng ông thấy đó là một việc lạm quyền…

Ngồi phía sau một chiếc xe gắn máy, ông đón làn gió mát từ bầu trời nông thôn thoảng qua, nhìn những cánh đồng xanh mướt, đàn vịt hàng trăm con ai đó chăn ven đường, đi nối đuôi nhau tạo thành nhiều hình thù thích mắt, tiếng gọi nhau làm nên một “bản nhạc” vui nhộn . Tuyệt vời hơn cả là một đàn cò trắng phau cứ như biết có ông về, từ một thửa ruộng rủ nhau bay lên thật cao cùng chiều với ông một quãng xa mới chịu đáp xuống.

Ngang ngã tư mà đường rẽ trái dẫn vào cù lao Tân Triều trồng bưởi nổi tiếng cả nước, cậu kế toán vẫn cho xe chạy thẳng. bây giờ là đường đất, nhỏ chưa bằng nửa đường nhựa chính. Đó chính là đường về quê nội của ông, chỉ vài cây số nữa. Nhà cửa hai bên chỉ bớt thưa thớt hơn ngày nào ông ra đi nhưng vẫn không thể gọi là đông đúc. Hầu như các căn nhà đều nằm trên một mảnh đất vườn có chiều ngang khá rộng, nơi hàng rào có trồng ít cây bưởi lấy trái ăn chứ không gặp vườn bưởi kinh doanh như bên cù lao. Không lâu, khi nắng vừa lên, xe lọt vào hai bên con đường nhỏ là ruộng bắp, ruộng mía. Từ lâu lắm rồi, bắp nếp quê ông được luộc từ những cái bếp đun củi mót trong rừng, đem ra chợ tỉnh bán. Những người bán hàng rong còn rao bán bắp nếp ở đầu cầu Gành, chiếc cầu sắt bắc qua cù lao Phố, lúc đoàn xe khách đậu lại chờ xe lửa qua, trước khi tiếp tục lăn bánh vào tỉnh lỵ. Mía miệt này thì giúp quê ông trở thành nổi tiếng với những lò đường, làm ra những tán đường hình ô van ngọt đượm mà vào tuổi nhỏ của ông, chỉ một tán đường thôi cũng đã là một món quà thưởng quý.

– Qua đây rồi mình đi tiếp nữa không chú Hai?

– Tiếp chớ! Cháu cứ đi cho tới bến đò, mình cho cái xe máy của cháu nó nghỉ ở đó một lát cho bớt nóng máy rồi quay về…

– Chú chỉ đường cho cháu chạy tới nhà cũ của gia đình chú đi…

– Thôi khỏi. Nhà cửa bây giờ thay đổi nhiều quá, không chắc chú tìm ra nhà cũ. Mà nhà cũng chẳng còn ai. Ghé lại chỉ thêm buồn… Đảo đảo một vòng ngắm xóm nhìn làng là đủ rồi.

Ông tiếp tục suy nghĩ về vùng đất hai bên khúc sông này. Phía bên này thì là ông và nhà văn Chín thuộc lứa sau, bên kia sông cũng có một nhà văn nổi tiếng và một nhà thơ khoác áo lính, từng chỉ huy những chiến dịch đánh thắng thực dân Pháp. Đúng ra, phải xem ông là người của cả hai bờ vì quê nội ông ở bên này nhưng ông sinh ra và bảy năm của tuổi thơ lại sống với ngoại ở bờ bên kia. Phải chăng gạo trắng, khoai củ, nước sông, bầu trời… vùng đất này đã nuôi dưỡng, hun đúc nên được bốn con người văn chương như thế?

Nhà văn Chín, tập kết hồi năm tư, khi đưa gia đình chuyển từ thủ đô về tỉnh để giúp ông một tay đắc lực cùng gầy dựng phong trào sáng tác, đã nói với ông: “Tôi về đây cùng anh Hai vừa làm nhiệm vụ với tỉnh, vừa cố gắng viết về làng quê mình, anh Hai à! Tôi mắc nợ quê hương hai chục năm dư rồi…”. Ông gật gù: “Phải đó! Anh Chín phải viết về làng quê mình, về dòng sông của tụi mình thôi. Mà viết thay cho cả tôi nữa đó…”.

Ông đã nói thực lòng. Cùng sinh ra ở bên dòng sông, nhưng một thời ấu thơ trai trẻ của ông là những năm cô đơn giữa xóm làng hiu quạnh quê ngoại hay rừng xanh thác trắng miệt trên, nối tiếp là những tháng năm “lãng tử” đã đưa ông đến nhiều chốn thị thành, trước khi mấy phen bị bắt vào lao ngục rồi cuối cùng cũng trốn được vào rừng. Những tháng ngày là học sinh trường Petrus Ký ở Sài Gòn, rồi là học sinh một trường tận xứ Huế, tuy việc học dở dang nhưng cũng đủ làm cho những trang văn lãng mạn của ông đượm chất phố thị. Trong văn đàn, người ta còn ghi nhớ ông với những truyện đường rừng và những nhân vật là người thiểu số. Quê hương trong trang văn của ông chỉ phảng phất chút vị nông thôn. Không phải ông không yêu làng quê, kẻ nào không yêu nơi chôn nhau cắt rún của mình thì sao xứng là người! Nhưng văn chương không chỉ là tình cảm với quê hương tuổi thơ, nó còn có cả cuộc đời sau đó, cả cái tạng của người viết hòa lẫn nhau để thành sự đam mê và khuynh hướng. Dù sao thì ông vẫn mong mình sẽ viết được gì đó về làng quê cũ…

– Thôi ta về đi cháu. Trưa nay ông Chín mời chú dùng cơm ở nhà hàng nổi trên sông. Mình không nên để cho giả phải đợi! Chờ đợi thường khiến người ta đâm ra lo lắng…

– Dạ. Nhưng lát nữa gặp xe nước mía, cháu muốn mời chú Hai một ly. Chú Hai có sợ đau bụng không?

– Sao lại sợ. Chú cũng đang tính nói với cháu vụ uống nước mía đó.

Ông định nói tiếp nhưng thôi vì nó không hợp cảnh, hợp người. Điều ông muốn nói là tận đáy lòng mình, sau một vòng nhìn ngắm quê cũ, ông muốn được uống cái vị ngọt mà cây mía tích tụ làm nên từ đất quê, từ nước dòng sông quê. Ông muốn mạch nước đất quê, sông quê ấy một lần thấm vào từng mạch máu, từng thớ thịt thân thể mình, một đứa con bé bỏng của quê hương ngày nào…

***

Chiếc xe nước mía mà cậu kế toán ghé vào nằm dưới bóng mát một cây trứng cá. Người bán, một phụ nữ tuổi trung niên mau mắn đáp: “Có ngay” sau khi nghe gọi “Hai ly đặc biệt”. Đó chỉ là thói quen của người bán hàng với khách. Những đoạn mía đã được róc vỏ sẵn, thân khá lớn, ông đoán không phải mía thân tím mà thuộc loại mía vàng, được đặt vào khe hai trục ép. Đôi tay chị phụ nữ gồng lên, dồn sức vào cái trục xoay ở phía phải chiếc xe để làm chuyển động trục ép. Cái trục xoay khiến ông nghĩ đến hình ảnh bánh xe luân hồi của đạo Phật. Ông theo đạo thờ cúng tổ tiên như bao người dân ở nông thôn miền Nam này. Bánh xe luân hồi chính là cái vòng xoay của cuộc sống. Mấy chục năm qua đi, đời ông đang vòng lại…

Phía trong nhà có tiếng đập nước đá. Ông thích thú vì được ngồi dưới bóng cây trứng cá. Loại cây này đến lạ! Ông chưa thấy ai ươm trồng cây trứng cá như các loại cây ăn trái khác. Thế mà cây trứng cá vẫn mọc, vẫn lớn, vẫn tỏa bóng mát rải rác khắp nơi. Có lẽ chúng cũng đã mọc nhiều cây trong một khu đất nào đó, nhưng người ta chặt bỏ khi cây còn nhỏ, chỉ chừa lại mỗi chỗ một, hai cây. Nhưng cũng có thể là trái trứng cá chín rụng xuống đất rồi mọc lên cây con, rồi chỉ những cây mạnh mẽ nhất trong số đó – và cả may mắn không bị dẫm đạp hay nhổ bỏ – vươn thân cành lên cao mà hiên ngang sống giữa đất trời! Ông mỉm cười. Có lẽ ông cũng là một cây trứng cá mạnh mẽ và may mắn…

Cây trứng cá còn là một hình ảnh kỷ niệm của tuổi thơ ông. Cậu bé Hai ngày ấy thích lén leo cây trứng cá, hái những trái chín đỏ mọng cho vào miệng ngậm, ngậm chứ không nhai vì chỉ cần ép lưỡi vào vòm họng trên, cái vị ngọt của ruột trái trứng cá đã đủ tươm ra, thêm cái mùi thơm dìu dịu tỏa khắp miệng. Cậu hay bị bà ngoại hay má la, ngăn không cho leo cây vì sợ bị té, lại sợ ăn trái trứng cá nhiều sẽ bị “xoắn ruột”. May mà lần nào cậu cũng tụt xuống gốc cây an toàn, còn có đầy một túi trái len lén đem giấu người lớn để ăn dần…

Nước mía đem ra, thoảng mùi thơm của quít. Chị phụ nữ tò mò hỏi ông:

– Chú ở xa về thăm quê phải không?

Ông ngạc nhiên hỏi lại:

– Sao chị biết?

– Dạ… nhìn là biết thôi mà…

– Nhưng chị nhìn những gì trên người tôi để biết?

– Dạ, hổng có nhìn riêng gì hết. Tự nhiên nhìn chung chung sơ qua là biết ai dân trong này, ai đi tập kết, ai vô rừng kháng chiến, ai cán bộ tập kết ngoài Bắc mới vô…

– Vậy chớ chị nói thử coi tôi thuộc thành phần nào?

– Chú hả? Chú là cán bộ tập kết! Cho tôi hỏi thiệt tình nha, sau hơn hai mươi năm mới về quê, chắc chú thấy lạ lắm phải không?

Cậu kế toán định bắt lỗi chị phụ nữ nhưng ông đã ngăn. Cứ để chị ấy giữ lấy cái cảm giác hài lòng của một người đoán đúng về người lạ. Ông cười:

– Chị giỏi thiệt!

Từ sau xe nước mía, người đàn ông hồi nãy đem hai ly có đá đập nhỏ ra, nói vọng:

– Bả đoán mò, may mà trúng đó chú ơi!

– Ông xã của chị đó hả? – Ông hỏi cho có vì tin chắc mình nghĩ đúng.

– Ủa… vậy ra… chú hổng phải là cán bộ tập kết sao?

– Chị này ngộ chưa! Tôi có nói là chị đoán sai đâu nào…

– Nhưng… người tập kết đâu có nói “ông xã”.

Lúc này, cậu kế toán không giữ được nữa, buột miệng:

– Chú Hai đây đi kháng chiến trong rừng ra. Chú là nhà văn nổi tiếng cả nước đó…

Người đàn ông là “ông xã” của chị bán nước mía vẫn đứng sau chiếc xe kêu lên:

– Ui choa… chú là nhà văn à? Chú viết sách ký tên gì?

Vẫn cậu kế toán tài lanh giới thiệu. Lại vẫn “ông xã” kia kêu lên:

– Trời đất thiên địa ơi! May phước quá!

Có điều lần này “ông xã” không đứng chỗ cũ nữa mà chạy ra bên bàn, tay cầm theo cái ghế cóc đặt cạnh chỗ ông ngồi rồi ngồi xuống.

– Chào chú! Tui có đọc sách của chú mới in. Là sách của con em họ tui cho mượn. Nó đi học trên tỉnh mới mua được, chớ ở đây không có ai bán sách đâu. Để tui kể làm chứng là tui nói thiệt nghen: truyện “Cây nhị” nè, truyện “Biên thùy” nè, truyện “Hận sử” nữa… Có đúng không chú?

Ông vừa uống một hơi hết nửa ly nước mía. Không biết có phải vì là ly đặc biệt mà nước mía vừa ngọt vừa thơm, lại mát tận ruột gan. Dẫu vậy, vị ngọt thơm ấy vẫn chẳng sao sánh được với cái cảm giác lâng lâng hạnh phúc của một người cầm bút được nghe người đọc chưa quen kể vanh vách tên tác phẩm của mình.

– Anh… anh kể đúng hết. Cảm ơn anh nhiều, anh bạn đọc thân mến của tôi…

– Tui cũng cảm ơn nhà văn. Thế nào rồi tui cũng kể lại cho con em họ tui về cuộc gặp gỡ này. Nó cũng đang tập tành làm thơ, biết chuyện sẽ khoái lắm…

– Thế à? Vậy anh hãy nói cho cô em của anh tìm tới số nhà… đường… trên tỉnh Nếu không gặp tôi thì gặp nhà văn Chín và nói là tôi giới thiệu…

“Ông xã” định chạy vào nhà lấy giấy bút ra ghi địa chỉ thì cậu kế toán đã nói:

– Anh cứ nói tới Hội Văn nghệ tỉnh là cô em của anh biết liền. Học hành trên tỉnh lại mê làm thơ thì khó gì mà tìm không ra…

Ông vẫn còn chìm trong hạnh phúc, nói như mơ:

– Làm thơ à? Hay lắm…

Ông uống thêm một hơi nữa là hết nửa ly nước mía còn lại. Cái vị ngọt quê hương dường như đang thấm vào từng làn da, thớ thịt, mạch máu, những sợi thần kinh… trên khắp cơ thể ông. Vậy mà không hiểu sao ông vẫn cảm thấy mình là một người xa lạ với cảnh quê này, với người quê này… Mà hình như ngay cả công việc ông làm, viết văn hay làm thơ, cũng chẳng chút thân thuộc với công việc của những người nông dân quê mình, ngày ngày ra ruộng lúa, vào vườn bưởi, đi thăm ruộng mía, ruộng bắp… Tiếc thay, đó lại là những việc mà thuở nhỏ ông luôn mơ ước dành cho cuộc đời mình. Ông không thể sống lần thứ nhì cho cuộc đời mình để thực hiện cái ước mơ nhỏ nhoi, bình thường ấy. Mãi mãi…

– Gần trưa rồi, mình về thôi chú Hai…

Câu nói của cậu kế toán khiến ông giật mình. Hồi nãy, ông bảo cậu này quay về sớm, lúc này thì đến lượt ông được nhắc.

Ông “Ừ” rồi đứng lên. Ông phải trở về với thực tế thôi: Một người khách được chủ nhà mời ăn trưa!

 

3

Gia đình ông hiện ngụ tại thành phố. Căn nhà nằm trong một con đường nhỏ. Sau hơn hai mươi năm, từ rừng về phố, nay ông mới được sống những ngày sum họp và an bình với vợ con. Ông chỉ cần có thế. Chiến tranh đưa con người ta đến với lằn ranh sống chết, khi ấy sự sống thôi thúc trong lòng mà có khi lại chỉ muốn phó mặc cho số phận. Sống trong hòa bình với một hình hài lành lặn là hạnh phúc hơn bao người rồi. Ông còn có cả một tấm lòng dâng hiến văn chương chờ đợi. Đây là thời gian tuyệt vời nhất để ông viết ra những trang văn ấp ủ mà không biết có đạt được ước nguyện.

Khách của quê nhau rún – Tiểu thuyết của Khôi Vũ, NXB Đà Nẵng 2022

Tỉnh quê ông cần người cầm cờ cho phong trào sáng tác. Ông được mời vì là người “toàn tài”. Một lãnh đạo tỉnh nói với ông: “Chú Hai vừa viết văn vừa viết cổ nhạc, vậy là giỏi cả văn lẫn nghệ. Chú Hai còn là đại biểu Quốc hội, là người tầm cỡ trong giới chính trị cả nước. Vị trí cao ấy, toàn tài như vậy thì cầm đầu làng văn nghệ tỉnh này là quá xứng đáng rồi!”. Tỉnh sẵn sàng giao cho ông một ngôi nhà kiểu biệt thự để ông đưa gia đình về ở. Ông trả lời ngay là mình nhận lời về tỉnh làm việc với điều kiện vẫn ở cùng gia đình trên thành phố vì còn nhiều việc phải làm trên đó; ngoài ra ông cũng cần có người tại chỗ phụ giúp ông đắc lực, ít nhất là một người về văn chương, một người về nghệ thuật. Phần ông, ông sẵn sàng thu xếp việc ỏ thành phố, ưu tiên về tỉnh khi đến lịch hội họp hay giải quyết công việc khi cần. Ông đã chọn được người phụ tá về nghệ thuật, một soạn giả cải lương; kế, lại xin được hai người phụ tá về văn chương mà một người là nhà văn hội trung ương như mình. Ông gọi đùa ba người phụ tá là “phó tướng” của mình. Bây giờ là lúc gầy dựng phong trào, là đi tìm những cây bút địa phương. Ông biết việc này cực kỳ khó. Thầy giáo, cô giáo dạy văn còn có thể đào tạo được, chứ một người sáng tác nghệ thuật hay viết văn thì phải vừa đi tìm, vừa trông cậy vào “ơn trời” giúp người có năng khiếu nuôi được lòng say mê lâu dài! Đường trường mới biết ngựa hay. Nhưng thời gian chưa chắc đã giữ được một cây bút!

Nhà văn Chín nói với ông:

– Trước mắt mình vẫn phải trông vào những thầy cô giáo dạy văn trong tỉnh lại có thêm lòng yêu thích sáng tác. Họ viết thì mình tin được vào chữ nghĩa, câu cú, ý tứ. Nhưng cái lấp lánh văn chương sau những con chữ thì chắc chắn phải tốn thời gian để sàng lọc mới hy vọng tìm được… Báo cáo với anh Hai, qua mấy số báo, tôi đã tìm được đôi ba cây bút khá. Một cậu làm thơ đang là thầy giáo dạy văn. Một cậu khác là cán bộ tăng cường từ Băc vào, viết văn xuôi, từng dự lớp viết văn ở ngoài Quảng Bá, nay đang làm việc ở khu công nghiệp.

Ông gật gù:

– Thế thì mừng quá. Nhưng vẫn phải nghĩ cách đi tìm ở những lĩnh vực khác ngoài giáo dục nữa anh Chín à. Mở một cuộc thi sáng tác truyện, ký chẳng hạn. Lần sau thì mở cuộc thi thơ…

Nhà văn Chín vừa là phó của ông, vừa phụ trách tờ báo văn nghệ địa phương đồng ý ngay. Tỉnh duyệt kinh phí như văn bản ông ký tên đề nghị. Ông hồi hộp đợi kết quả cuộc thi…

Thế thời phải thế, dù trong lòng ông vẫn nghĩ mỗi văn nghệ sĩ như một con chim có tiếng hót riêng, sao lại bắt họa mi thi hót với vành khuyên, bắt sáo đua giọng với chào mào kia chứ! Thi văn chương ư! Chẳng qua chỉ là một việc làm bề nổi để tìm người…

***

Cô em họ của “ông xã” bán nước mía, cuối cùng cũng gặp ông. Nhưng không phải ở trụ sở Hội Văn Nghệ tỉnh mà ở một quán nước trên thành phố. Đó là một cô tân sinh viên trường đại học sư phạm.

– Sao cháu nhận ra chú? – Ông tò mò hỏi.

– Dạ, hình của chú in trong sách, in trên báo quá trời, cháu coi và nhớ luôn.

– Báo văn nghệ tỉnh mình đang có cuộc thi sáng tác truyện ký, cháu đã gửi bài tham gia chưa?

– Dạ, cháu đang tập làm thơ, không có ý định viết văn xuôi…

– Vậy thì tới đợt thi thơ, cháu sẽ gửi bài phải không?

– Dạ không. Cháu thích làm thơ để tìm cho đời mình những bài thơ, câu thơ tâm đắc vậy thôi. Cũng là để luyện chữ Việt. Nếu thơ mình được ai đó đọc và nhớ thì càng tốt. Làm thơ là sáng tạo chớ có phải học văn trong nhà trường đâu mà thi hả chú…

Ông giật mình. Sao cô gái này lại có suy nghĩ giống mình đến vậy. Phải chăng trước mặt ông đang là một thi sĩ thực sự trong tương lai? Dù sao thì ông cũng nói ra mục đích của những cuộc thi văn nghệ trước hết là để phát hiện những cây bút mới, còn chuyện giải cao, giải thấp chỉ là chuyện phụ…

– Chú ơi! Rồi chú sẽ thấy người được giải cao tự cho là mình giỏi nhất, còn người giải thấp thì buồn bực, không phục…

Ông lại giật mình, nghĩ ngay rằng tốt nhất là mình không nên tiếp tục câu chuyện thi cử trong văn chương với cô tân sinh viên đồng hương nữa.

– Đâu nào, cháu có sẵn bài thơ nào của mình, đưa cho chú đọc thử rồi chú sẽ góp ý…

Cô sinh viên khẽ lắc đầu:

– Thơ cháu chưa có bài nào hoàn chỉnh. Khi nào có bài ưng ý, cháu sẽ gửi tới báo mình… Mà chú ơi! Cháu muốn được nghe chú kể chuyện quê hương…

Ông mỉm cười:

– Chuyện quê hương thì chú sẵn có nhiều lắm. Nhưng chỉ là chuyện ngày xưa. Vậy cháu có bao nhiêu thời gian nghe thì nói, để chú tính…

***

Ông nhớ mãi buổi nói chuyện với cô sinh viên đồng hương. Nhưng sau lần ấy đến vài tháng, hai người chưa có lần nào gặp lại. Về tỉnh họp hành, làm việc ở văn phòng Hội, ông cũng không gặp.

Trong khi đó ông lại phải tiếp khách từ tỉnh lên đến mấy lần. Là ông nói đến việc tiếp khách ở nhà mình trên thành phố. Khách đều là những “cây bút” đã gửi sáng tác dự thi cuộc thi truyện, ký. Mấy người như một đều kể tóm tắt về bài dự thi của mình và nói “Chú Chín bảo là được”, rồi xin “Chú Hai cũng lưu ý cho”. Tất cả đều đem theo quà biếu là hộp bánh, túi trái cây… nhưng ông đều từ chối khéo.

Lần về tỉnh làm việc mới nhất, ông kể cho nhà văn Chín nghe. Ông này tủm tỉm cười:

– Cũng có mấy anh em tới nói với tôi là: Chú Hai đã coi và bảo là được!

Ông lại nhớ lời cô sinh viên đồng hương: người được giải cao tự cho là mình giỏi nhất, còn người giải thấp thì buồn bực, không phục. Chắc thực tế sẽ xảy ra đúng như thế thôi. Nhưng biết làm sao được! Con người nghệ sĩ và con người quản lý trong ông dằng co nhau, tự vấn nhau… Một lúc kia, ông nói với người phó:

– Chắc mình cũng chỉ tổ chức thi một lần này thôi, anh Chín à.

“Phó tướng” lại tủm tỉm cười:

– Anh Hai dễ mềm lòng quá! Nếu thấy khó thì anh cứ để tôi lo!

Ông giật mình, thấy tỉnh táo hơn:

– Không! Tôi nói vậy thôi. Chớ tôi phải chung sức cùng anh lo công việc chung chớ…

Khi còn một mình nghỉ đêm lại phòng khách của văn phòng Hội, ông chợt nghĩ: “Có khi giả cũng tâm tư như mình thôi. Nhưng giả giỏi hơn mình ở chỗ tự vượt qua nỗi niềm cái tôi nghệ sĩ để làm tròn trách nhiệm được giao. Mà phải thôi… Mình phải lấy cái mục tiêu phát hiện cây bút mới làm đầu chớ!”.

Lòng nhẹ nhõm hơn, ông xuống lầu, gõ cửa phòng cậu văn thư rủ đi uống cà phê.

– Chú Hai ơi, tối rồi mà uống cà phê thì mất ngủ chết…

– Cháu uống gì khác thì kêu, còn chú, cà phê tối đâu có làm chú mất ngủ được. Cái chính là chú muốn nói chuyện với cháu. Hổm rồi chú tình cờ đọc được bài thơ của cháu trong mấy tờ giấy nháp bỏ đi…

– Chú thấy sao ạ?

– Chú tin rằng cháu có thể làm thơ…

– Dạ… Nghe chú nói cháu mừng quá. Chú đợi cháu một chút rồi hai chú cháu đi uống cà phê…

– Chú cà phê thôi! Còn cháu thì nước ngọt hay gì đó là tùy…

– Không chú Hai ạ, cháu cũng cà phê… Mà cháu trả tiền nghen chú…

 

4

Thi, rồi mở lớp học! Một lần nữa ông lại phải tự đấu tranh giữa hai con người nghệ sĩ và nhà quản lý.

Hồi ông bắt đầu cầm bút viết văn, hiểu biết của ông chỉ là những gì ông đọc được trước đó rồi tự nghiền ngẫm, tự chọn ra “cách” của mình. Từ năm 1941, ông đã xuất hiện đường hoàng trên tờ Tiểu thuyết Thứ Bảy lừng danh cả nước với truyện ngắn “Cây nhị”. Nhà văn Chín xuất hiện sau ông nhiều năm, cũng khởi đi từ việc đọc và say mê truyện của một nhà tiểu thuyết đương thời. Viết, tự học hỏi thêm, rồi lại viết. Đó là “cách” mà mỗi người đều có một chọn lựa khác nhau. Dĩ nhiên phần “trời cho” là không thể thiếu, nếu không muốn nói là quan trọng bậc nhất. Sau nữa là cái duyên mà nhiều người gọi là “sự may mắn”. Ông biết thế mà vẫn phải ký giấy tờ thông báo chiêu sinh cho một lớp học viết văn, làm thơ!

Hóa ra cũng có không ít người nuôi mộng văn chương! Lớp bồi dưỡng sáng tác có đến hơn bốn mươi học viên, đủ thành phần, tuổi cao nhất là bốn mươi! Có mấy tác giả vừa gửi bài tham dự cuộc thi truyện, ký cũng nộp đơn xin tham dự lớp.

Cùng nhà văn Chín, ông đọc không sót một cái truyện, một bài ký, bài thơ nào của các học viên nộp khi đăng ký dự lớp. Có sáng tác còn đầy lỗi chính tả, lỗi câu cú, bố cục còn lỏng lẻo, ý tứ chưa rõ ràng; có sáng tác “đọc được” mà chưa gây ấn tượng; nhưng cũng có vài cái truyện, bài thơ khiến ông phải giật mình, cứ tưởng là của một nhà văn, nhà thơ chuyên nghiệp nào đó…

Trong văn phòng Hội có hai người dự lớp. Một là cậu văn thư và một là cậu nhân viên vật tư, tạp vụ. Cậu văn thư nộp ba bài thơ “đọc được”, còn cậu vật tư thì nộp cái truyện “đầy lỗi chính tả” nhưng nội dung khá hấp dẫn. Thế là quý lắm rồi. Anh em họ có lòng say mê, viết còn non nớt thì mình sẽ bồi dưỡng thôi. Chuyện đường dài khó mà lường đoán được…

Nhà văn Chín trực tiếp soạn thảo chương trình cho lớp bồi dưỡng sáng tác, rồi đích thân mời thầy là các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng đang sống ở thành phố đến trao đổi kinh nghiệm với học viên. Ông cũng được mời nói về kinh nghiệm viết truyện ngắn. Nhưng ông lắc đầu: “Anh Chín nên mời người khác nói đề tài này. Phần tôi, hãy cho tôi nói về sự phân thân của nhà văn, khi là người sáng tạo, lúc là một công dân”. “Phó tướng” gật gù: “Chuyện này nhạy cảm đây, nhưng cần thiết. Tôi hiểu tâm sự của anh Hai. Vậy anh Hai cứ nói chuyện về đề tài đó”.

Lớp tập huấn kéo dài liên tục một tuần, cả sáng lẫn chiều. Ông ở lại tham dự suốt thời gian của lớp không những để theo dõi, làm gương mà còn để cùng học. Học! Ông xác định như vậy để củng cố kiến thức.

Buổi học đầu tiên là về lịch sử phát triển của văn học và nghệ thuật. Những diễn biến về đời sống tinh thần của nhân loại khởi đầu là thi ca, âm nhạc, kịch nghệ, hội họa và kiến trúc. Khi con người chế tạo ra giấy, văn xuôi mới có điều kiện phát triển. Rồi nhiếp ảnh trở thành một môn nghệ thuật. Cuối cùng là điện ảnh, nghệ thuật thứ bảy!

Ông ngồi nghe, bất chợt cười một mình. Ông nhớ một lần xe tải nhỏ của công ty thực phầm qua bán hàng, có chị nhân viên đã tấm tắc với anh chị em nhân viên Hội: “Các anh chị làm việc ở đây sướng thật. Suốt ngày chỉ có việc ca hát, nhảy múa…”.

Buổi sáng các học viên thơ giới thiệu sáng tác của mình, ông rất quan tâm. Buổi đọc thơ là dịp để các học viên “xuất bản miệng”, rồi nghe sáng tác của người khác. Có nhiều tràng vỗ tay khen thực lòng, cũng có những tiếng vỗ tay xã giao. Thiếu duy nhất là góp ý lẫn nhau. Ai cũng “thủ thế”, ngại làm mất lòng người khác. Ông nói với “phó tướng”: “Bước đầu như vậy cũng được rồi. Dần dần khi anh chị em tự tin thì họ sẽ mạnh dạn hơn…”.

Ông “lên lớp” vào buổi sáng. Trong tờ giấy pơ-luya dầy xin của cậu đánh máy, ông đã gạch đầu dòng những ý sẽ nói. Ngồi trong phòng làm việc của mình, ông xem lại lần cuối “đề cương” trước khi bước ra hội trường lớp học.

Thế đó, nhưng sau lời giới thiệu tóm tắt về ông của ban tổ chức, ông lại nói lời mở đầu với các học viên:

– Hôm nay, tôi sẽ kể lại quá trình hoạt động sáng tác của mình. Cái tôi thì thường đáng ghét. Nhưng tôi chấp nhận điều đó để các bạn có điều kiện nhìn vào tôi mà ngẫm nghĩ, mà nghiêm cẩn với những trang viết của mình…

***

Hai giờ liền, ông sống cùng hồi ức. Bắt đầu là truyện ngắn đầu tiên mang tên “Cây Nhị” năm ông hai mươi tuổi. Đó là những năm trước năm 1945, thời gian mà người Việt yêu nước nào cũng nuôi trong lòng chí hướng chống Pháp. Khác nhau ở chỗ mỗi người một cách. Người gia nhập lực lượng vũ trang, người làm chính sự,… còn ông, “một chàng trai tóc còn mướt xanh” – ông viết về mình như thế trong một truyện ngắn – thì chọn ngòi bút là vũ khí. Ông viết “Đất Thục”, “Ngày đi”, “Bến lạnh”, “Chuông rung trên tháp”… để đăng báo phát hành giữa lòng đô thị. Tinh thần yêu nước, đấu tranh chống Pháp trong truyện của ông đều mang tính ẩn dụ. Vậy mà chúng vẫn ảnh hưởng đến nỗi nhiều bạn đọc trong lứa tuổi thanh niên đã xếp bút nghiên lên đường kháng chiến. Ông nhấn mạnh về các nhân vật của mình, họ đều có tâm trạng giằng xé giữa gia đình và xã hội, hạnh phúc cá nhân và trách nhiệm với cộng đồng, để rồi cuối cùng cái chung đã thắng.

– Tôi bị bắt lần đầu vào năm 1949, khi đang làm báo. Năm sau thì được thả. Lần thứ nhì bị bắt là vào năm 1955, dưới trào Ngô Đình Diệm. Qua cuối năm 1956 thì tôi tham gia phá khám ở Biên Hòa và may mắn thoát được vào rừng… Từ đấy, tôi hoạt động trong chiến khu cho tới tháng Tư năm bảy lăm…

Hồi ức về những lần bị bắt bớ, giam cầm, có lúc ông đã nghẹn lời. Cả hội trường lặng đi. Có lẽ mọi người cùng đang hình dung ra một con người nhỏ nhắn như thư sinh kia làm thế nào mà chịu đựng được sự tra tấn trong tù? Thực ra chính ông cũng không giải thích được tường tận về sức mạnh ở đâu đã giúp ông vượt qua tất cả. Cai ngục đánh cạnh góc cây gậy vuông vào mười đầu ngón tay chụm lại, trái tim ông giật thon thót. Cai ngục trói tay ông, kéo dây trói qua ròng rọc cho ông “đi tàu bay”: ông cảm nhận như khớp vai giãn ra sắp chia cơ thể mình thành hai phần tách biệt… Vậy mà ông vẫn chịu đựng được. Không hiểu nổi… Chỉ biết chắc chắn một điều, lòng yêu nước trong ông bao giờ cũng sục sôi cháy bỏng…

Và rồi bây giờ ông đứng đây, say sưa nói chuyện văn chương.

– Các bạn đang sống trong hòa bình, điều kiện làm việc thuận lợi hơn hẳn chúng tôi – như tôi và anh Chín – nhưng chưa hẳn các bạn đã dễ dàng có những trang văn hay. Tôi không đề cao chúng tôi đâu. Tôi chỉ muốn các bạn ngoài nỗ lực trên trang viết, còn phải lắng nghe, đo đếm tình yêu văn chương của mình để nếu thấy nó còn ở mức độ thấp quá thì hãy quyết định từ bỏ nó nhanh nhất, để khỏi uổng phí thời gian theo đuổi một cái bọt bong bóng xà bông…

Giờ nghỉ, nhà văn Chín nói với ông:

– Anh Hai nói chuyện rất hay, rất xúc động. Tôi là người trong cuộc mà có lúc còn nổi da gà. Nhưng khi nghe anh Hai khuyên các học viên nếu thấy mình chưa đủ độ say mê thì nên bỏ cuộc, tôi đã giật thót người. Anh Hai lại quên mất rồi. Mình đang đi truyền đạo văn chương, cần tránh làm nguội lạnh nhiệt tình của các bạn trẻ…

Ông cười xòa:

– Đồng ý. Vậy sau này khi nào thấy tôi “say” quá, anh Chín cứ nhắc cho tôi “tỉnh lại”…

***

Tất cả học viên dự lớp bồi dưỡng sáng tác đều được cấp giấy chứng nhận. Ông là người ký tên bên dưới những tờ chứng nhận này. Trước đó, nhà văn Chín có chút băn khoăn:

– Kết quả học tập của mỗi người có khác nhau, thậm chí cỏn khác biệt lớn. Vậy ta có nên cấp chứng nhận đồng loạt hay không?

Ông thuyết phục “phó tướng”:

– Anh từng nói rằng tụi mình đang đi truyền đạo văn chương mà. Anh chị em họ đang hào hứng viết, tờ giấy chứng nhận sẽ tăng thêm động lực cho họ. Mà mình cũng chỉ chứng nhận họ đã theo học lớp bồi dưỡng, đâu có nhận xét đánh giá xếp hạng gì mà ngại…

Ngay sau buổi lễ bế mạc lớp, trong tiệc liên hoan, một học viên đang là phóng viên trẻ của tờ báo tỉnh đã gặp ông và nói:

– Cháu biết là mình khó theo đuổi nghiệp văn chương, chắc cháu sẽ nghe lời chú Hai sớm quyết định từ bỏ cái mộng ước đẹp đẽ mà xa vời ấy. Cháu sẽ theo nghề báo dù không biết mình có thành công hay không, nếu thành công thì ở mức độ nào… Nhưng dù sao  tờ giấy chứng nhận mà chú Hai ký cho cháu thì cháu sẽ giữ suốt đời như một kỷ vật…

Ông nắm tay anh nhà báo trẻ:

– Cũng đừng quá vội, anh bạn à. Đừng quên là chú vừa viết báo, vừa viết văn đó nha!

Cậu văn thư của Hội thì nói:

– Cháu vỡ ra được nhiều điều về sáng tác. Xin chú Hai và chú Chín cứ nghiêm khắc với những bài thơ của cháu, không cần nương tay cho người trong nhà.

Riêng cậu nhân viên vật tư thì gãi đầu gãi tai:

– Cái vụ chính tả chắc cháu khó vượt qua nổi…

Ông nói với cả hai:

– Tất cả còn ở phía trước. Hai cháu cứ nỗ lực hết mình cái đã…

KHÔI VŨ

(Còn tiếp)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.