Vanvn- Khi nói về thơ thiếu nhi, nhà thơ Phạm Hổ đã từng nhấn mạnh: “Thơ cho thiếu nhi nhất thiết phải có hình tượng thiên nhiên. Theo tôi, thiên nhiên là hiện thân của cái đẹp, bằng chính cái đẹp thiên nhiên dạy cho ta yêu cái đẹp, bằng chính sự phong phú, thiên nhiên gợi cho ta nên có cuộc sống phong phú về vật chất và tinh thần”. Với nhận định của nhà thơ Phạm Hổ có thể nói Dương Khâu Luông là một trong số những nhà thơ thành công trong việc đưa hình tượng thiên nhiên vào thơ ca cho trẻ nhỏ miền núi. Những câu hát về thiên nhiên tươi đẹp chính là món quà ông tặng cho các em thiếu nhi ở vùng núi cao.
Đặt mình vào tâm lý con trẻ, Dương Khâu Luông viết nhiều về các hiện tượng vũ trụ tự nhiên như: mây, mưa, bão, giông, nắng, gió, vòng xoay đêm ngày, vòng xoay thời tiết… Ông luôn dùng trí tưởng tượng bất tận của con trẻ để giải thích thế giới, khiến cho những thứ thực đơn giản, hiển nhiên trong mắt người lớn lại khoác chiếc áo lạ lẫm, mới mẻ từ góc nhìn của trẻ em. Xuân Quỳnh ngày xưa từng thủ thỉ với con về “chuyện cổ tích loài người”, từng cùng con “cắt nghĩa” tạo vật: Mẹ ơi ai sinh cá/ Ai làm ra que kem/ Đêm sao lại màu đen/ Ban ngày sao màu trắng/ Ban ngày làm bằng nắng/ Màu xanh làm bằng cây/ Quả ớt làm bằng cay/ Tiếng ồn sinh tàu điện… (Cắt nghĩa).

Hơn một nửa thế kỷ từ khi ra đời, “Cắt nghĩa” luôn được coi là một trong những bài thơ hay nhất viết cho thiếu nhi, bởi nó nói được cái tâm lý tò mò, thích khám phá, hay hỏi đến tận cùng của trẻ nhỏ. Câu trả lời của người mẹ không đi theo trật tự tư duy thông thường nhưng lại khiến độc giả thích thú bởi lối diễn đạt bất ngờ. Trong thế giới con trẻ, thiên nhiên, vũ trụ thật bao la và chẳng cần một sự xếp đặt nghiêm chỉnh nào cả. Quay trở lại với Dương Khâu Luông, chúng ta cũng dễ dàng bắt gặp trong thơ ông những lời lý giải ngộ nghĩnh về thiên nhiên, vũ trụ.
Câu hỏi muôn thủa về “ban ngày, ban đêm” được minh họa bằng trò ú tim: “Mặt trời mọc mặt trăng lặn/Mặt trăng lặn mặt trời mọc/ Chiều tối mặt trời còn nhóm lửa đỏ rực/ Mặt trăng mọc, mặt trời xuống núi ngay/ Không cho thấy (Mặt trời và mặt trăng). Tương tự như thế, vòng quay mặt trời là một đường bóng trong trò chơi của núi Đông và núi Tây, còn mưa, nắng, sương mù thì đỏng đảnh và hay quên như đứa trẻ được nuông chiều: Mặt trời là quả bóng/ Hai bạn núi cùng chơi/ Bạn núi đằng Đông đá/ Quả bóng bay lên chơi/ Mới được một đường bóng/ Ngày hết vèo mất rồi/ Núi phía Tây đem cất/ Đợi đến mai lại chơi (Núi chơi bóng) hay Sương trắng à/ Sương trắng ơi/ Sáng sớm thức dậy mày đã xuống đường chơi/ Làm cho trẻ con đi học khó/ Bác mặt trời gọi/ Mày mới biết quay về/ Sáng nào bác mặt trời cũng nhắc/ Sao mày không nhớ? (Sương trắng).
Những hiện tượng tự nhiên như mưa, bão, sấm, chớp cũng thu vào ánh mắt tò mò của trẻ nhỏ. Hình ảnh cơn bão với đám mây bị gió tạt vỡ tan, trôi qua rặng núi được tưởng tượng như đứa trẻ sợ sấm to mà nấp vào người lớn: Bỗng cơn bão đến/ Xé mây tan tành/ Trong lúc khốn cùng/ Mây tìm đến núi/ Đang tay núi che/ Núi ru mây ngủ (Mây và núi). Còn buổi chiều là bởi “anh bạn” nắng – như đứa trẻ thơ – chơi chán rồi thì về nhà đi ngủ: Mặt trời khuất núi/ Nắng về nhà thôi/ Nắng về nhà nắng/ Trước khi tối trời (Nắng).
Dễ thấy, trong “gia đình” của các hiện tượng thời tiết tự nhiên thì “ánh nắng” là nhân vật được trẻ con yêu thích mà trông đợi nhất. Đơn giản thôi, bởi bão thì hung hăng, ầm ĩ; mưa lại rầu rĩ ủ ê, chỉ có nắng là tươi vui, ấm áp cho lũ trẻ chạy nhảy tung tăng. Tiếng ca “gọi trời nắng” cất lên rộn ràng như một khúc đồng dao: Trời ơi/ Hửng mau/ Cho chim bói cá/ Cho bà phơi thóc/ Cho cóc vào hang/ Hổ vằn lang thang/ Ra mà phơi nắng/ Cho đàn cò trắng/ Liệng bay ngoài đồng (Hát gọi trời nắng-Hát gọi trời hửng).
Bài thơ gợi nhớ đến những câu ca dao quen thuộc của người Việt:
“Ơn trời mưa nắng phải thì/Nơi thì đồng cạn, nơi thì cày sâu”. Hay:“Cầu Trời mưa xuống/Lấy nước tôi uống/Lấy ruộng tôi cày/Lấy đầy bát cơm/Lấy rơm đun bếp”.
Rõ ràng, cái gốc nông nghiệp đã chi phối mọi tâm tư, tình cảm của con người. Từ trẻ đến già, người ta đều mong thời tiết thuận lợi cho việc cấy cày sản xuất. Tuy nhiên, hai bài ca dao của người Việt đặt điểm nhìn từ phía người nông dân trưởng thành, trong tâm thức của họ, Trời là thế lực thiêng liêng để cầu, để xin, để ghi ơn. Trong mối quan hệ giữa vũ trụ và con người, họ ở thế bị động, vậy nên đôi lúc bộc lộ sự lo lắng. Trong khi đó, bài thơ của Dương Khâu Luông nói thay lời của con trẻ. Trong suy nghĩ đơn giản của chúng, mặt trời, mưa nắng gần gũi như những người bạn để gọi về một cách tự nhiên. Lối gọi “Trời ơi/ Hửng mau” phù hợp với tư duy và cách diễn đạt của trẻ thơ miền núi. Tương tự như thế, lại có cả bài thơ Gọi gió: Đến nào/ Gió ơi/ Gió thổi/ Gió lay…Hãy vượt ngọn cây sung/ Hãy qua rừng cây sấu / Hãy tới bản vào nhà.

Vũ trụ bao la dường như có sức hút vô tận với trẻ nhỏ, và ở đó, mọi khoảnh khắc thiên nhiên đều có thể lý giải qua một câu chuyện diệu kỳ. Thế giới xung quanh trong mắt trẻ thơ tuy xa mà gần bởi dẫu nhân vật trong tác phẩm có là mặt trời hay những vì sao thì cũng đều trở thành những người bạn thân thiết của trẻ nhỏ để chúng có thể hô gọi bằng đại từ nhân xưng thân thuộc (chú, bác, mày – tao…), có thể cất lời thủ thỉ âu yếm hay đôi lúc giận hờn, trách móc: “Sao mày không nhớ?”. Đặc biệt, nhà thơ còn thổi hồn vào vũ trụ thiên nhiên những đặc tính của trẻ thơ khiến đất trời gần gũi với các em đến lạ.
Này “Hạt nắng loi choi/ Cười vui thích chí”, này đám mây ham chơi mà nhát gan, bé bỏng: “Trong lúc khốn cùng/ Mây tìm đến núi/ Dang tay núi che/ Núi ru mây ngủ”, này sương trắng ngây ngô, đãng trí: “Bác mặt trời gọi/ Mày mới biết quay về/ Sáng nào bác mặt trời cũng nhắc/ Sao mày không nhớ”…
Ở góc nhìn khác, vũ trụ bao la, mạnh mẽ với gió mưa, nắng bão lại làm nổi bật tình cảm yêu thương chân thành của những đứa trẻ vùng cao dành cho ông bà cha mẹ khi họ phải nhọc nhằn lao động sớm hôm: Vai áo của bà/ Gánh gió gánh mưa/ Nhọc nhằn vất vả…Nhưng nghe trong đó/ Từng cơn nắng đổ/ Từng dòng mưa tuôn?/ Nhìn vai áo bạc/ Cháu thương bà hơn (Cái áo của bà) hay sự lo lắng cho người ông đi chợ đường trơn chưa về: Ông nội đi chợ/Trời mưa chưa về/ Đường trơn như mỡ/ Làm sao bước chân (Thương ông).

Hình ảnh nắng, mưa, gió, bão trĩu nặng trên vai ông bà, cha mẹ gợi nhớ đến những dòng thơ cảm động của Trần Đăng Khoa khi ông chưa đầy mười tuổi: “Hạt gạo làng ta/ Có bão tháng bảy/ Có mưa tháng ba/ Giọt mồ hôi sa/ Những trưa tháng sáu/ Nước như ai nấu/ Chết cả cá cờ/ Cua ngòi lên bờ/ Mẹ em xuống cấy”, (Hạt gạo làng ta) hay “Bố em đi cày về/ Đội sấm/ Đội chớp/ Đội cả trời mưa” (Mưa).
Viết về thiên nhiên vũ trụ, Dương Khâu Luông sử dụng nhuần nhuyễn biện pháp nhân hóa giúp vạn vật mang hình hài, tính cách trẻ thơ. Đặc biệt, tác giả sử dụng lớp từ sinh hoạt một các tự nhiên, uyển chuyển đem đến sắc thái trong trẻo cho tác phẩm với những “loi choi”, “ú òa”, “lim dim ngủ”… Có thể nói thiên nhiên được thể hiện trong các bài thơ thiếu nhi của Dương Khâu Luông rất sinh động, độc đáo mà gần gũi. Có lẽ cũng vì thế mà thơ thiếu nhi của Dương Khâu Luông được các bạn đọc nhỏ tuổi miền núi đón nhận và làm nên một mảng sáng tác đặc sắc trong thơ ông.
Đúng như nhà thơ Trần Đăng Khoa khi giới thiệu tập thơ Núi chơi bóng của nhà thơ Dương Khâu Luông đã nhận xét:“Thơ Dương Khâu Luông là thế. Giản dị. Chân thành. Mộc mạc và trong trẻo. Đọc anh, ta thấy mát lành như vừa lội qua một con suối trong buổi sáng sớm còn đầy tơ nhện giăng. Vảng vất đâu đó là hương hoa rừng cùng với mùi sương non và cả mùi lá mục, cỏ dại. Sức hấp dẫn của thơ anh đối với ta là thế. Và đó cũng là đóng góp của anh trong mảng văn học dành cho các em thiếu nhi ở vùng cao”.
Hy vọng nhà thơ Dương Khâu Luông sẽ còn tiếp tục có những đóng góp trong mảng thơ đặc sắc này.
TRẦN THỊ VIỆT TRUNG – VŨ THỊ HUYỀN TRANG















