Vẻ đẹp người lính trong “Nỗi nhớ hình giọt lệ” của nhà thơ Phan Bá Linh

Vanvn- Phan Bá Linh là nhà thơ chiến sĩ từ những ngày khoác áo lính tạm biệt quê nhà Quảng Trị đầy gió Lào rát bỏng, nhập ngũ 1978 và trực tiếp chiến đấu tại chiến trường Campuchia trong những năm gian khổ, ác liệt nhất hơn 10 năm trời (1979-1988). Anh là một trong những cây bút sáng tác khá sớm ở Quân khu 9 nói riêng và  Đồng bằng sông Cửu Long nói chung. Đề tài, chủ đề trong thơ anh đa dạng nhưng nổi bật nhất vẫn là đề tài về người lính mang vẻ đẹp vừa bình dị vừa hiện đại.

Nhà thơ Phan Bá Linh

Từ những năm 1978, anh đã có thơ đăng trên các báo, tạp chí Văn nghệ Trung ương và địa phương, đã xuất bản bốn tập thơ viết về nhiều đề tài, được đông đảo bạn đọc yêu thích: Đi hết tầm ngọn gió (Tập thơ – NXB Cà Mau 1987), Tình yêu người lính  (Tập thơ- NXB Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 2008), Tay cầm tháng giêng (Tập thơ – NXB QĐND,  2011), Bình minh giữa nắng chiều (Tập thơ – NXB Hội Nhà văn, 2012). Và hơn 14 năm qua tưởng như anh gác bút để mưu sinh, chỉ thỉnh thoảng đăng thơ trên facebook, zalo giao lưu với bạn bè, thì sang đầu xuân Bính Ngọ (2026) hồn thơ lại bùng cháy, rồi anh tập hợp lại những bài thơ viết về đề tài người lính – anh bộ đội Cụ Hồ, để tặng bạn đọc – một tập thơ viết về nỗi nhớ với những kỷ niệm thấm đẫm máu, nước mắt và nỗi đau ở chiến trường Campuchia, mang tên “Nỗi nhớ hình giọt lệ”.

Tập thơ có 60 bài khắc sâu một thông điệp về tình nhân ái và trách nhiệm công dân trước cuộc đời và vận mệnh đất nước. Qua mỗi vần thơ anh âm thầm sống lại những kỷ niệm về tình yêu, tình đồng đội, về những trận đánh khốc liệt ở chiến trường Campuchia khi quân tình nguyện Việt Nam giúp bạn diệt trừ bọn Ponpot độc tài, cứu người dân thoát khỏi nạn “diệt chủng”. Nhà văn Nam Cao đã nói “Sống đã rồi hãy viết”. Anh đã sống những ngày rực lửa cận kề cái chết, anh đã sống những ngày tháng thanh bình bên nước bạn cộng hòa dân chủ Đức sau khi xuất ngũ. Với cuộc mưu sinh đời thường khá vất vã nhưng hồn thơ trong anh chưa bao giờ nguội tắt. Anh đã dự cảm nếu không có thơ thì nhân loại sẽ như thế nào: “Nhân loại có thơ như người mù có gậy/ Như đứa trẻ mồ côi bỗng đón mẹ trở về/ Thơ là thuyền đưa ta vượt sông mê/ Thi sĩ – gã lái đò giàu có”(Thơ).  Hoặc “Còn đó những giấc mơ/ Còn đây niềm khát vọng/ Cơm áo và trang thơ/ Với anh là cuộc sống” (Về với mưa khuya).

Với một quan niệm “vị nhân sinh” về thơ như thế thì ở “Nỗi nhớ hình giọt lệ” tình người, tình đồng đội lại tăng lên bội phần, dâng trào đến rơi nước mắt. Ngay tên tập thơ đã nói lên điều đó. Nỗi nhớ có nhiều cung bậc luôn gắn với những vui, buồn hờn, giận hay ái, ố, hỉ, nộ. Hơn 10 năm chiến đấu gian khổ, ác liệt nhất ở chiến trường Kokong Campuchia, anh may mắn thoát chết nhiều lần và trở về trong tâm trạng:

Mạng sống đống vàng, người ta bảo/ Dẫu không lành lặn giữa ngày vui/ Hết giặc nay về lo cơm áo/ Vẫn nhớ rừng xưa đến ngậm ngùi – (Gửi Nguyên)

Thơ anh có tiếng khóc, tiếng cười, có muôn vàn nỗi nhớ. Có bài thơ là tiếng khóc, là nén tâm nhang dâng lên hương hồn cố đại tướng Võ Nguyên Giáp – “người anh cả” của quân đội Việt Nam anh hùng, như bài “Khóc tướng quân”: “Tin ông mất như cơn địa chấn/ Cả đất trời thấm đẫm tang thương/ Tướng quân lẫm liệt phi thường/ Vẫn không thoát khỏi con đường tử sinh”.

Cái “giọt lệ” ấy hầu như có mặt trực tiếp hay gián tiếp ở các bài thơ trong tập. Đây là tiếng khóc xé ruột gan, khi xuất ngũ về thăm nhà thì cha mẹ đã là người thiên cổ:

Khi trở về ngồi bên nấm cỏ xanh/ Mới nhận biết mình vẫn còn cha mẹ/ Mới cảm hết tình quê sao nặng thế/ Nơi cha mẹ nằm đất hóa thiêng liêng.- (Nỗi nhớ hình giọt lệ)

Nỗi nhớ làng quê, cha mẹ, anh chị cứ theo anh đi đầu non cuối bể. Nó mang hình “giọt lệ” và cứ nguyên vẹn trong tâm tưởng. Mỗi bước quân hành, nó như một động lực tạo thêm sức mạnh, thôi thúc anh chắc tay súng:

Tôi mang theo hình bóng làng quê/ Đi đánh giặc đầu non cuối bể/ Có nỗi nhớ mang hình giọt lệ/ Vẫn nguyên lành như thế đến hôm nay.- (Nỗi nhớ hình giọt lệ)

Và biết bao nỗi đau về nhân tình thế thái trước những biến thiên của lịch sử của xã hội và con người sau cuộc chiến đều hiện hữu trong thơ. Có nỗi nhớ về những người mẹ, người chị người em và bạn bè thân thiết, người còn, người mất. Có người chị mỗi ngày mòn mỏi chờ chồng ở chiến trường xa và cuối cùng chỉ là “Đốt nén nhang như đốt lòng mình” (Chị). Bàn chân anh qua bao đèo cao suối sâu, bao nghĩa trang, thấy “Các anh chỉnh tề hàng ngũ/ Tên người bia đá khắc ghi” nhắc nhở ta khắc ghi “uống nước nhớ nguồn”.

Tập thơ có 60 bài khắc sâu một thông điệp về tình nhân ái và trách nhiệm công dân trước cuộc đời và vận mệnh đất nước

Gian khổ đến mấy nhưng tâm hồn người lính đâu có thành sỏi đá. Bên cạnh những vần thơ “lửa cháy” trong anh thì những vần thơ “tươi xanh”  vẫn vút lên cung bậc tình yêu nồng cháy không kém phần lãng mạn: “Nỗi nhớ nào thành mưa nguồn chớp biển/ Đến đất trời cũng réo gọi tên nhau/Anh khẽ gọi tên em chiều gió trở/ Tiếng anh chìm trong tiếng gió ngàn lau” (Những cơn mưa). Anh nhớ đến tên em, mắt em, tóc em, lời em để cuối cùng trong anh “Em là cả một bài thơ/ Tôi say xưa viết trước giờ hành quân” (Người tôi yêu) hay “Bởi ngoài em tôi chẳng có riêng tư/ Chỉ cây súng và mối tình hy vọng”. Chính tình yêu ấy đã tiếp lửa cho anh thêm sức mạnh. Đúng như nhà thơ Xuân Diệu đã viết “Hang chẳng thẳm núi chẳng dài/ Một người chiến đấu với hai tâm hồn” (Anh đi công tác). Giữa hai trận đánh, phút nghỉ ngơi ít ỏi chờ giặc tới thì những người lính lại đem thơ tình ra đọc cho nhau nghe: “Giữa đạn bay, bãi cháy ngàn lau/ Người lính đọc thơ tình đợi giặc/ Em lắng đọng giữa hồn tôi giăng mắc/ Lại xa vời trong nỗi khát khao” (Tình yêu người lính).

Thơ Phan Bá Linh không miêu tả, tường thuật những trận đánh khói lửa ngút trời như trong phim “Mưa đỏ” (2025) tái hiện cuộc chiến 81 ngày đêm bảo vệ thành cổ Quảng Trị năm 1972, mà anh chỉ ghi lại những cảm nhận qua nỗi nhớ những gì mình mắt thấy tai nghe, những trận chiến ác liệt, và cả những trãi nghiệm đời thường qua nhân vật tôi “trữ tình”. Tuy vậy anh vẫn luôn nhận mình chỉ là kẻ “dại khờ” để “Dấn thân vào cuộc chiến chinh/ Cũng là dịp để biết mình vàng thau” để rồi “Là tôi đây kẻ dại khờ/ Lợi danh mang tặng, giấc mơ để dành” (Kẻ dại khờ). Chính vùng quê “Đất gió” Quảng Trị đã tôi luyện con người chiến sĩ và con người thi sĩ trong anh thấm đẫm tình quê, tình đời.

Trong tập thơ này duy nhất có bài “Vùng đất tử” ở Kokong là anh miêu tả khá chi tiết nỗi khốc liệt của thiên nhiên mà người lính đã đối mặt để sống và chiến đấu: “Vùng “đất tử” nhiều năm chúng tôi đã sống/ Ta đến đây “đất tử” hóa “đất sinh”. Đó là “Nơi mùa khô đi qua làm xơ xác cây rừng/ Gió thổi khô ruột đất/ Con ong không có hoa làm mật/ Con chim rừng bỏ tổ bay đi/ Con rùa nằm lại dưới lòng khe/ Mai nó như bị nướng”. Và đến mùa mưa thì mưa như trút nước “Suốt mùa mưa không thấy mặt trời/ Bốn giờ chiều đã tối/ Mây đen trùm lên đầu núi/ Mây bay dưới mái tăng/ Mây luồn dưới võng bạn nằm/ Mưa, mưa tối mặt”. Thiên nhiên quái ác, kẻ thù thâm độc không thể làm chùn bước chân người lính. Những tên rừng, tên núi ở Kokong cứ hiện về trong ký ức như một đoạn phim quay cận cảnh. Nào là Ruộng Muối-Sireompel, nào là nơi bốn con sông chảy cắt đường 18, vùng đất Kép, Tabenrung. Những mùa khô ở Pitnin cũng chẳng kém Kokong: “Gió thổi mờ rừng, gió liếm cạn từng khúc suối/ Mặt trời xòe quạt lửa/ Đất cùng người nắng đốt trần thân”.

Nhà phê bình Lê Xuân

Gian khổ, ác liệt của chiến trường càng tôi thêm tinh thần thép của mỗi chiến sĩ, tình đồng đội được nâng cấp số nhân. Các anh chia nhau từng ngụm nước, điếu thuốc. Miếng cá khô dành cho thương binh, người bệnh. Sốt rét, muỗi vắt, rắn rết, hổ báo, kẻ thù không thể làm sờn lòng người lính, và họ luôn quyết tử cho nước bạn hồi sinh.

Khi ngọn lửa chiến tranh nguôi tắt, anh trở về với cuộc sống đời thường cũng đối mặt với không ít khó khăn nhưng anh đã có nghị lực và ý chí của anh bộ đội Cụ Hồ đã được tôi luyện hơn 10 năm ở chiến trường nên anh vẫn vượt lên tất cả để xây dựng cuộc sống mới đàng hoàng hơn, tươi đẹp hơn.

“Nỗi nhớ hình giọt lệ”- tập thơ thứ năm này của nhà thơ Phan Bá Linh vẫn tiếp nối mạch nguồn của bốn tập thơ trước. Cái đáng quý trong thơ anh là sự chân thật và giản dị, dễ đọc, dễ hiểu, dân dã mà hiện đại, không đánh đố người đọc phải giải mã nhiều tầng nghĩa liên tưởng như kiểu thơ hậu hiện đại, mà nó có sự giao thoa giữa ngôn ngữ văn chương và ngôn ngữ đời thường, và anh thành công hơn cả là ở thể thơ lục bát truyền thống và thể thơ 7-8 chữ của phong trào Thơ mới. Thơ anh chính là: “Điệu tâm hồn đi tìm những tâm hồn đồng điệu” như nhà thơ Tố Hữu đã nói. Vì thế chất trữ tình luôn hòa quện với chất lính làm cho hình tượng thơ nổi gió, neo lại được trong tâm hồn người đọc.“Nỗi nhớ hình giọt lệ” của nhà thơ, chiến sĩ Phan Bá Linh là một tập thơ mang vẻ đẹp nhân văn của anh bộ đội Cụ Hồ.

LÊ XUÂN

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *