Tiếng nói tình yêu và những chiêm nghiệm nhân sinh trong thơ Hàn Phi Nhạn

Vanvn- Hàn Phi Nhạn làm thơ từ khá sớm, song phải đến khi đã trải qua nhiều biến động của cuộc sống, tích lũy đủ vốn sống và những suy nghiệm cá nhân, anh mới chính thức ra mắt tập thơ đầu tay.

Sự xuất hiện tương đối muộn ấy không hẳn là sự chậm trễ, mà trái lại, đó là kết quả của một quá trình lắng đọng, chiêm nghiệm và chắt lọc kỹ lưỡng của thi sĩ Hàn Phi Nhạn. Thi tập Ngày mai thương hồn gió gồm 160 bài, đó là kết tinh của những trải nghiệm sâu sắc về tình yêu, cuộc sống, thời gian và thân phận con người.

Điểm nổi bật nhất trong thế giới nghệ thuật của Hàn Phi Nhạn chính là mảng thơ tình. Tuy nhiên, tình yêu trong thơ anh không chỉ đơn thuần là sự rung động giữa hai con người mà còn là nơi hội tụ của những khát vọng, những mất mát, những cô đơn và cả những hoang hoải, đa mang, suy tư về kiếp người. Tình yêu hiện lên với nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau: từ nồng nàn, say đắm đến day dứt, tiếc nuối; từ hạnh phúc mong manh đến những bất thành, đổ vỡ… Chính sự đa dạng ấy đã tạo nên nét riêng trong thơ Hàn Phi Nhạn, giúp anh xác lập được giọng điệu nghệ thuật riêng không trộn lẫn với nhiều cây bút cùng thời.

Em về cơi lại bến nghiêng/ Ru con nước chảy ngược miền xót xa/ Đốt tàn hoa gạo tháng ba/ Nhóm nhen thành giọt nắng tà cuối đông// Kể từ nghiêng một dòng sông/ Em nghiêng cả một bến lòng vất vơ/ Cây dầm khuấy cạn giấc mơ/ Bến nghiêng về những phía bờ vắng anh// Mấy mùa cỏ chẳng còn xanh/ Nước xuôi đành đoạn một gành nước xuôi/ Ngửa buồn hoa gạo hỡi ơi/ Vu vơ rụng một ngậm ngùi thét đau// Bây giờ cơi lại dòng nhau/ Hỏi nghiêng còn đục bến nào nữa thôi/ Vớt chùm hoa gạo tím môi/ Cắn đau nửa vạt lỡ rồi bến em (Em về cơi lại bến nghiêng).

Hình tượng “bến nghiêng” là một sáng tạo nghệ thuật giàu sức gợi. Đó vừa là một không gian thực, vừa là biểu tượng của tâm trạng. Cái nghiêng của bến cũng chính là cái nghiêng của lòng người, của ký ức và số phận. Hình ảnh hoa gạo xuất hiện nhiều lần như một dấu hiệu của thời gian và hoài niệm, góp phần làm sâu thêm cảm giác mất mát, chia lìa. Bài thơ như là một bản độc thoại nội tâm về một tình yêu đã xa nhưng vẫn còn nguyên sức ám ảnh.

Thi tập “Ngày mai thương hồn” gió gồm 160 bài, đó là kết tinh của những trải nghiệm sâu sắc về tình yêu, cuộc sống, thời gian và thân phận con người.

Đến với thơ ca, Hàn Phi Nhạn không đi theo những lối mòn quen thuộc. Anh chọn cho mình một con đường riêng, nơi thơ là sự kết hợp giữa cảm xúc và suy tưởng, giữa trực giác và những chiêm nghiệm nhân sinh. Thơ đối với anh không chỉ là phương tiện biểu đạt cảm xúc mà còn là cách tự khẳng định bản thân, tự kiến tạo một không gian tinh thần riêng để suy ngẫm, sẻ chia và đồng hành cùng cuộc sống. Bởi vậy, giọng thơ Hàn Phi Nhạn thường mang âm hưởng trầm buồn, sâu lắng, giàu chất triết luận nhưng không hề khô cứng. Đó là thứ suy tư được chưng cất từ những va đập của đời sống, từ những được – mất, có – không, hạnh phúc – khổ đau của kiếp người.

Dọc đường thả một khúc thơ/ Nhúng trong khôn dại nửa tờ giấy rơi/ Lật từng trang mộng mà khơi/ Ta hoang vu chạm những rời rạc ta// Dọc đường thơ nhẹ cánh hoa/ Cũng nghiêng ngửa tỉnh cũng ngà ngật say/ Tỉnh vừa thức giọt liêu trai/ Say qua cho hết mộng dài thế thôi// Dọc đường thơ lạc khóe môi/ Xé câu thơ gãy ta ngồi buộc ta/ Thơ buồn như nét mực pha/ Vẽ lên ngọn bút nhạt nhòa ý thơ// Dọc đường sao ngẩn với ngơ/ Dấu chân ta ngược phía bờ mộng du/ Thu tàn mấy bận tàn thu/ Tìm đâu hóa đá những mù mịt nhau// Dọc đường thơ rạn tiếng đau/ Nên thơ về lại nghẹn ngào ngày xưa/ Bây giờ nơi ấy còn mưa/ Vẫn tương tư cũ chạm vừa đó em (Dọc đường thơ).

Dọc đường thơ là hành trình nội tâm của người thi sĩ trên con đường đi tìm bản ngã và ý nghĩa của thơ ca. Điệp ngữ “Dọc đường” gợi cảm giác rong ruổi qua những miền ký ức, nơi cái tôi trữ tình đối diện với những khoảng hoang vu, đổ vỡ và cô đơn của tâm hồn. Hình ảnh “ta hoang vu chạm những rời rạc ta”, “xé câu thơ gãy ta ngồi buộc ta” diễn tả nỗi đau và khát vọng hàn gắn những mảnh đời, mảnh nhớ đã phân ly. Bài thơ còn đan xen giữa trạng thái tỉnh và say, thực và mộng, tạo nên một không gian giàu chất suy tưởng. Ở cuối bài, nỗi tương tư về người xưa vẫn còn nguyên vẹn, bất chấp thời gian trôi qua. Ngôn ngữ giàu tính biểu tượng cùng giọng điệu trầm buồn đã tạo nên vẻ đẹp sâu lắng, giàu chiêm cảm. Đó là hành trình tìm kiếm chính mình giữa những mảnh vỡ của ký ức và cảm xúc. Thơ ở đây không còn là câu chuyện của ngôn từ mà trở thành hành trình khám phá trong chiều sâu tâm thức.

Điều đáng chú ý trong thơ Hàn Phi Nhạn là nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ. Ngôn ngữ thơ anh không cầu kỳ, kiểu cách mà chủ yếu được lấy từ đời sống thường nhật. Tuy nhiên, dưới bàn tay sáng tạo của nhà thơ, những từ ngữ quen thuộc ấy lại được tổ chức theo những kết hợp mới lạ, tạo nên những trường liên tưởng phong phú: cái buồn chỏng chơ, mây queo quắt khóc gió vồ vập rung, buồn rơi lịch phịch, trần trũi giọt yêu đầu, muộn mằn nham nhúa, mỏng mành, bạc phếch xuân già, nhen nhen mắt, nhen nhen mầm ngây dại, cơi sầu cho ngọn sầu thêm, ngược qua thổn thức rũ mềm khúc đau, màn khuya khều khợt, buồn chai sóng mắt, ta còn nghe đêm rẩy đêm run, chằng chống nỗi đau đắp víu cõi hồn, cột xích tiếng thở dài, tôi vò ướm thử chiêm bao, buồn thổi tựa câu kinh…

Đặc biệt, hệ thống từ ngữ xoay quanh nỗi buồn xuất hiện với tần suất dày đặc, tạo thành một dấu ấn riêng trong phong cách thơ của anh. Hầu như bài thơ nào của anh trong Ngày mai thương hồn gió cũng có từ ngữ mang sắc thái “buồn”. Nhưng nỗi buồn trong thơ anh không phải là sự bi lụy hay tuyệt vọng. Đó là nỗi buồn sáng trong của một tâm hồn đa cảm, từng trải và giàu chiêm nghiệm. Buồn để suy ngẫm, để nhận thức và để thấu hiểu hơn những giá trị của cuộc sống.

Hai câu thơ: Người ta có mẹ để thương/ Còn con nhớ mẹ qua hương khói tàn là minh chứng tiêu biểu cho khả năng biểu đạt cảm xúc bằng ngôn từ giản dị nhưng ám ảnh. Cấu trúc đối lập giữa “có mẹ để thương” và “nhớ mẹ” đã tạo nên khoảng cách giữa hiện tại đủ đầy và hiện thực mất mát. Đặc biệt, hình ảnh “hương khói tàn” là một sáng tạo giàu sức gợi. Nhà thơ không trực tiếp nhắc đến sự chia ly hay cái chết nhưng chỉ bằng hình ảnh làn khói hương mong manh đang dần tan biến, nỗi đau mất mẹ đã hiện lên rõ nét. Chính sự tiết chế trong biểu đạt khiến cảm xúc trở nên chân thực và có sức lan tỏa mạnh mẽ hơn. Tình yêu thương và nỗi niềm yêu kính dành cho mẹ trở thành mạch ngầm âm ỉ, da diết.

Bên cạnh đề tài gia đình, tình yêu là mạch nguồn cảm xúc xuyên suốt trong thơ Hàn Phi Nhạn. Tình yêu trong thơ anh vừa lãng mạn vừa chất chứa nhiều bất trắc. Đó là tình yêu của một tâm hồn luôn khao khát được yêu thương nhưng đồng thời cũng ý thức rất rõ về những mong manh, hữu hạn của hạnh phúc và kiếp người.

Bài thơ “Buồn gần buồn xa” là một ví dụ tiêu biểu. Ở đây, nỗi buồn được vật thể hóa thành một thực thể sống động: Ta trèo lên bậc gác chuông/ Lỡ tay đánh thủng cái buồn chỏng chơ…

“Cái buồn” không còn là trạng thái tâm lý vô hình mà trở thành đối tượng hữu hình có thể “đánh thủng”, có thể “nấu”, “nung”, “cởi ra”. Hàng loạt động từ mạnh cùng những từ láy giàu sức gợi như “nhũng nha nhũng nhẵng”, “queo quắt”, “vồ vập”, “lịch phịch” đã tạo nên một trường cảm xúc đặc biệt. Nỗi buồn hiện lên vừa cụ thể vừa mơ hồ, phản ánh những xao động sâu kín trong tâm hồn thi nhân.

Một phương diện đáng ghi nhận khác là sự vận dụng sáng tạo thể thơ lục bát. Là thể thơ truyền thống của dân tộc, lục bát tưởng như quen thuộc nhưng lại rất khó tạo nên dấu ấn riêng. Hàn Phi Nhạn đã làm mới lục bát bằng cách đưa vào đó những liên tưởng hiện đại, những tổ hợp từ mới lạ và một nhịp điệu giàu biến hóa. Nhờ vậy, thơ lục bát của anh vừa giữ được âm hưởng dân tộc vừa mang hơi thở của đời sống đương đại.

Nhà phê bình Nguyễn Văn Hoà – tác giả bài viết

Trong bài thơ lục bát Ngoại tôi, Hàn Phi Nhạn không trực tiếp nói về nỗi nhớ hay tình yêu thương dành cho ngoại, mà để những cảm xúc ấy lặng lẽ hiện lên qua chuỗi hình ảnh bình dị của làng quê: hàng cau, dây trầu, trái khế, quả ổi, chén canh rau, tiếng vạc sành… Những chi tiết tưởng chừng nhỏ bé ấy lại mang sức gợi lớn, vừa tái hiện không gian quê nhà thân thuộc, vừa khắc họa bóng dáng người ngoại tảo tần đang lặng lẽ đi về phía cuối hành trình cuộc người…

“Ngựa Bạch Long ăn trong vườn thọ/ Anh cứ mãi lo nghèo con bạn nọ có đôi”/ Đêm dài nghe tiếng ngoại tôi/ Cất lên trầm lẫn mồ côi vạc sành// Tôi về cau chẳng còn xanh/ Ngoại tôi ngồi tựa mòn hanh cuối đời/ Dây trầu khô héo ngoại ơi/ Ngoài sông con nước đầy vơi mấy mùa// Tôi về trái khế còn chua/ Ổi non còn chát nhãn vừa ra bông/ Ngoại ngồi ngoáy lá trầu không/ Quệt vôi trắng giữa đèn chong mái đầu// Tôi thèm ăn chén canh rau/ Thích như hồi bé ngoáy trầu ngoại ăn/ Ngoại cười miệng móm da nhăn/ Mắt sâu dường đã cỗi cằn nhớ tôi.

Cái hay của bài thơ còn nằm ở sự giao thoa giữa hiện tại và ký ức. Cảnh vật vẫn nguyên vẹn trong tâm thức người cháu, nhưng thời gian đã hằn sâu lên dáng hình của ngoại qua những hình ảnh đặc biệt: “miệng móm da nhăn”, “mắt sâu dường đã cỗi cằn nhớ tôi”. Không cần những lời than thở, tác giả vẫn khiến người đọc cảm nhận rõ nỗi xót xa trước sự già nua của người thân và sự hữu hạn của kiếp người.

Đặc biệt, âm thanh tiếng “vạc sành” xuất hiện ở đầu và cuối bài thơ như một điểm tựa nghệ thuật giàu sức ám gợi. Đó không chỉ là âm thanh của làng quê nghèo mà còn là tiếng vọng của ký ức, của nỗi cô đơn và sự quạnh hiu đang bao phủ tuổi già của ngoại. Nhờ vậy, bài thơ khép lại trong một dư âm lặng buồn, sâu thẳm và đầy nhân văn.

Ngày mai tôi lại đi rồi/ Xa quê nào chẳng có hồi nhớ quê/ Vạc sành cất giọng ủ ê/ Ngoại tôi cất giọng… bốn bề vắng tanh.

Trong nhiều bài thơ, yếu tố tự sự được khai thác khá rõ nét. Nhà thơ thường kể lại những câu chuyện nhỏ của đời sống, những kỷ niệm, những cuộc gặp gỡ hay những biến cố nội tâm. Tuy nhiên, cái hấp dẫn không nằm ở bản thân câu chuyện mà nằm ở cách lựa chọn hình ảnh và tổ chức ngôn từ. Những hình ảnh giàu sức biểu cảm cùng sự kết hợp giữa cái quen và cái lạ đã giúp thơ anh tạo được dấu ấn trong lòng người đọc. Ở đó, ngoài những dư âm buồn còn có những suy tư rất sâu sắc, nỗi niềm trắc ẩn khó nói đã chuyển tải vào thơ bằng cái nhìn nhạy cảm, tinh tế và không kém phần gai góc. Hàn Phi Nhạn đã rất khéo léo trong việc ký gửi điều sâu kín ấy thông qua các ẩn ngữ, đòi hỏi người đọc phải giải mã nó.

Có bao giờ người nhìn lại phía sau/ Câu thơ vứt đi võ vàng con chữ/ Ai đó bảo con chim bay đi thì có gì do dự/ Đâu cành cây nó nhớ để quay về// Phía sau người tôi lọm khọm mân mê/ Ừ thì cũng là mùa xuân nhưng là những xác hoa lụi tàn thừa mứa/ Đời ném lại cho tôi chút vụn vằn trước cửa/ Tôi cứ thế mà vui mà mót nhặt nụ cười// Phía sau người đau đớn lắm người ơi/ Cái phía sau tôi chẳng thể đứng lên nên mấy lần gục ngã/ Tôi chẳng thể vẽ mùa xuân lên áo con rồi nói dối với con rằng ôi mùa xuân đẹp quá/ Bởi dường như trong đôi mắt con thơ cũng buồn bã lâu rồi// Phía sau người tôi dại dột mình tôi/ Chằng chống nỗi đau đắp víu cõi hồn tuột hẫng/ Biết nuốt miếng cơm vào đâu để tôi không đắng lòng đón nhận/ Góc tối ngoài kia cười nhạo nụ xuân buồn// Phía sau người là giọt giọt xuân tuôn/ Mà thôi cứ nhặt đi dẫu muộn mằn xuân héo/ Mà thôi đừng tự hỏi mình lưng chừng xuân mấy nẻo/ Vì xuân có về đâu khi ở cuối phía sau người// Ngửa bóng mình…/ Tìm nhịp mộng…/ Nhanh trôi… (Phía sau người).

Phía sau người là một bài thơ đậm chất tự sự và ám ảnh. Hình ảnh “phía sau người” không chỉ là một khoảng cách không gian mà còn là biểu tượng của thân phận bị bỏ lại, của những mất mát, cô đơn và khát vọng hạnh phúc bất thành.

Mở đầu bài thơ là một câu hỏi đầy day dứt: “Có bao giờ người nhìn lại phía sau”. Đó là tiếng lòng của một cái tôi trữ tình đang đứng ở vị trí của kẻ lặng lẽ dõi theo, nâng niu những gì bị lãng quên như “câu thơ vứt đi”, “võ vàng con chữ”. Từ đó, cảm thức bị bỏ rơi ngày càng hiện rõ qua những hình ảnh giàu sức gợi: “xác hoa lụi tàn”, “vụn vằn trước cửa”, “mót nhặt nụ cười”. Đó là cuộc sống của một con người chỉ còn biết nhặt nhạnh những tàn dư của niềm vui.

Nỗi đau trong bài thơ không dừng ở số phận cá nhân mà còn lan sang tình phụ tử. Hình ảnh người cha không thể “vẽ mùa xuân lên áo con” là chi tiết xúc động, thể hiện sự bất lực trước hoàn cảnh và nỗi xót xa khi không thể mang đến cho con một mùa xuân đúng nghĩa. Vì thế, mùa xuân trong thơ không còn là biểu tượng của hạnh phúc mà trở thành nghịch lý của những khát vọng dang dở.

Hàn Phi Nhạn sâu sắc nhận ra rằng: khi con người mãi đứng ở “phía sau”, mùa xuân cũng không còn nơi để trở về. Đó là tiếng thở dài về thân phận, nhưng cũng là lời nhắc nhở về sự sẻ chia và khả năng ngoảnh lại với những người đang âm thầm ở phía sau cuộc đời mình.

Nếu tinh ý, người đọc thơ Hàn Phi Nhạn dễ dàng nhận ra một tâm hồn luôn nặng lòng với nhân sinh và thế sự. Đằng sau những câu thơ giàu chất trữ tình là những trăn trở khôn nguôi về thân phận con người, về những mất mát, cô đơn và những khoảng lặng của đời sống. Cái tôi trữ tình trong thơ anh hiện lên chân thực với nhiều ẩn ức, nhiều nỗi niềm sâu kín khó gọi thành tên. Có lẽ thơ chính là nơi nhà thơ gửi gắm những suy tư tận đáy lòng, là không gian để anh đối thoại với chính mình và giãi bày những điều không thể nói hết bằng lời. Mỗi câu thơ vì thế không chỉ là sự thăng hoa của cảm xúc mà còn là dấu vết của những trải nghiệm, những day dứt và khát vọng được sẻ chia với cuộc đời.

– Ta quơ vội tấm chăn đời lấp liếm lên ta/ Cọ cựa/ Chỏi tung/ Kéo chằng/ Ghịt níu/ Nghe ấm lạnh bao lần đủ thiếu/ Thương giấc mơ non sao chẳng chịu quay về//…// Tấm chăn đời dẫu ngập ngụa bùn tanh/ Thoắt nhục/ Thoắt vinh/ Bến cười/ Bến khóc/ Ta nén chặt để màu phai trên tóc/ Che chắn sợi thời gian lăn lóc chậm ngang đời (Tấm chăn đời).

– Ta – loài cây dại mọc hoang/ Múa vũ khúc dại khôn giữa chực chờ may rủi/ Rồi hụp lặn hút thứ bùn tanh vội vàng đắp qua nụ mầm ngắn ngủi/ Để kịp ngoi lên phía cuối rựng chân trời (Vũ khúc đời).

– Ta tìm mình / Ngoài vạn khắc dại khôn/ Lục lọi/ Móc moi/ Phía mờ mờ vô ảnh/ Rùi rụi bóng trăng cheo leo miền hoang cảnh/ Có phải nơi ta đá lạnh lẫn mây mù (Ta tìm mình).

***

Đáng chú ý, nghệ thuật điệp trong thơ Hàn Phi Nhạn được sử dụng khá linh hoạt. Các điệp từ, điệp ngữ không chỉ có chức năng nhấn mạnh cảm xúc mà còn góp phần tạo nên nhạc tính và kết cấu cho bài thơ. Mỗi kiểu điệp đều mang giá trị biểu đạt riêng, giúp dòng cảm xúc được mở rộng và cộng hưởng mạnh hơn trong tâm trí người đọc.

Lặng gì rạn cả đêm đen/ Buồn chai sóng mắt buồn len lỏi buồn/ Khỏa trời vắt kiệt rồi buông/ Ướt tôi cánh mỏng chuồn chuồn lỡ nghiêng// Lặng gì muồn muộn lối riêng/ Dắt day sợi nhức cột miền hư vô/ Mẫm mò lặng đọt sóng xô/ Cỏ khâu ai xếp phía mồ lạnh tanh// Bây giờ tháng mấy rồi anh/ Mà liu riu gió mà quanh quẩn mùa/ Giận mình sung chát khế chua/ Tôi ngu ngơ để gió lùa mặc tôi// Lặng gì như lặng hồn trôi/ Úp tay sờ chạm những bồi bãi đau/ Đêm này lặng một vành hao/ Là tôi lặng mất một ngào ngạt đêm// Lặng gì ôi lặng nhói tim/ Mảnh chưa kịp lặng mảnh chìm khuất mây/ Xin chừa chút lặng còn đây/ Để tôi lặng cả giấc này nhé anh (Lặng gì như lặng hồn tôi).

Một đặc điểm nổi bật khác trong thơ Hàn Phi Nhạn là cảm thức thời gian. Thời gian trong thơ anh không đơn thuần là thước đo của đời sống mà còn là biểu tượng của sự đổi thay và mất mát. Nhà thơ luôn ý thức sâu sắc về sự trôi chảy không ngừng của thời gian, đồng thời bộc lộ khát vọng níu giữ những gì đẹp đẽ nhất của đời người.

Trong bài Dịu xuân buồn, hình ảnh người mẹ hiện lên qua dòng chảy của thời gian: Tôi đếm mùa xuân lên tóc mẹ/ Sợi đen hơn nửa bạc trắng rồi…

Mùa xuân vốn là biểu tượng của tuổi trẻ, của sức sống nhưng ở đây lại trở thành đơn vị đo lường tuổi tác. Mỗi mùa xuân đi qua là thêm một dấu vết thời gian trên mái tóc mẹ, là thêm một bước chân cha tiến gần hơn đến tuổi già. Sự kết hợp giữa thời gian tự nhiên và thời gian đời người đã tạo nên chiều sâu cảm xúc cho bài thơ.

Không gian nghệ thuật trong thơ Hàn Phi Nhạn không chỉ là không gian của thiên nhiên mà còn là không gian tâm tưởng. Thực và mộng, hữu hình và vô hình, hiện tại và ký ức luôn đan xen vào nhau, tạo nên một thế giới nghệ thuật giàu chất huyền ảo.

Câu thơ: Ta vụng trộm cắn hiền đêm hoang mục/ Nên mang thai trần trũi giọt yêu đầu là minh chứng rõ nét cho khả năng kiến tạo không gian tâm tưởng ấy. Các hình ảnh “đêm hoang mục”, “giọt yêu đầu”, “kiếp sau” không tồn tại như những thực thể cụ thể mà mang tính biểu tượng cao, gợi mở những suy tưởng về tình yêu, thân phận và định mệnh. Chính sự pha trộn giữa hiện thực và mộng tưởng đã tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt cho thơ Hàn Phi Nhạn.

Có thể nói, thời gian và không gian trong thơ Hàn Phi Nhạn luôn gắn bó và đan cài với nhau. Trong sự vận động của thời gian và sự mở rộng của không gian, mọi cung bậc cảm xúc, mọi nỗi niềm, khát vọng của thi nhân đều được bộc lộ một cách tự nhiên, chân thành và thẳm sâu nhất. Đó là thế giới của những nỗi buồn trong trẻo, của những tình yêu cháy bỏng và những suy tư nhân sinh không ngừng vận động.

Thơ Hàn Phi Nhạn cho thấy sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại. Anh kế thừa những giá trị của thơ ca dân tộc, đặc biệt là thể thơ lục bát, đồng thời không ngừng tìm tòi những cách biểu đạt mới để làm giàu thêm cho ngôn ngữ thơ. Thơ anh là tiếng nói của một tâm hồn giàu cảm xúc, luôn thao thức trước tình yêu, thời gian và thân phận con người.

Đó là giọng thơ của những suy tư lặng lẽ, của những rung động chân thành, của những chiêm nghiệm được chưng cất từ đời sống. Sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, giữa cảm xúc và tư tưởng, giữa tính dân tộc và dấu ấn cá nhân đã làm nên bản sắc nghệ thuật của thơ anh.

Hàn Phi Nhạn đã tạo dựng được cho mình một giọng thơ riêng: trầm buồn nhưng không bi lụy, suy tư nhưng không nặng nề, lãng mạn mà vẫn đậm chất nhân văn. Chính giọng điệu ấy là yếu tố làm nên giá trị, sức sống, đặc trưng riêng cho thơ anh. Tập thơ Ngày mai thương hồn gió là minh chứng rõ ràng nhất cho tất cả những gì đã nói ở trên.

NGUYỄN VĂN HÒA

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *