Văn chương mang lại điều gì cho các cây bút phái đẹp? – Kỳ 2

Vanvn- Tiếp tục câu chuyện thú vị về những phụ nữ viết văn nhân ngày của mình, họ được gì và vượt khó ra sao để được sống tận cùng với đam mê sáng tạo, kỳ này mời bạn đọc theo dõi chia sẻ của các nhà văn, nhà thơ: Trầm Hương, Nguyễn Thúy Quỳnh, Hoàng Việt Hằng, Lê Thanh My, Niê Thanh Mai, Vũ Thiên Kiều, Nguyễn Hải Yến.

Tranh Nguyễn Quang Thiều

>> Văn chương mang lại điều gì cho các cây bút phái đẹp? – Kỳ 1

>> Văn chương mang lại điều gì cho các cây bút phái đẹp? – Kỳ 3

>> Văn chương mang lại điều gì cho các cây bút phái đẹp? – Kỳ cuối 

 

Nhà văn Trầm Hương (TPHCM): Làm người, được chọn ngòi bút làm nghề nghiệp thì phúc phận bội phần

Khi tôi rẽ ngang nghề kỹ sư nông nghiệp, chọn con đường cầm bút, mẹ tôi rất lo lắng. Bà buồn rầu nói: “Lập thân tối hạ thị văn chương”. Con ơi, trường văn trận bút, là thân đàn bà con gái, nhọc nhằn, nhiêu khê lắm”. Quả là nhọc nhằn, quá đỗi gian truân. Nhưng văn chương đã mang lại cho tôi tất cả: cuộc sống, tình yêu, gia đình… Tôi đã được đền đáp khi ngòi bút của mình dấn thân, tìm đến những số phận bị quên lãng, đi vào những góc khuất, nỗi niềm; khơi dậy chất bi tráng, anh hùng đầy tự hào, đồng cảm với nỗi đau của thân phận con người…

Càng thêm tuổi tác, tôi càng thấm thía: được làm người là phúc lớn. Làm người, được chọn ngòi bút làm nghề nghiệp thì phúc phận bội phần. Dù văn chương không nuôi nổi mình, tôi sống bằng những gì gần với văn chương như viết lịch sử, biên kịch, thậm chí làm bánh, làm món chay đem bán… Tất cả nghề kiếm tiền mưu sinh là để nuôi văn chương, để được là mình khi đối diện với trang viết.

Nhà văn Trầm Hương

Con đường trở thành nhà văn của tôi gập ghềnh, không được trải bằng hoa hồng, bị kỳ thị, bạc đãi. Tôi đã viết trong những ngày đêm trước đổi mới, không ít lần tác phẩm bị từ chối. Tôi vẫn kiên trì viết, trong ngôi nhà lá giữa đồng, đèn tắt, tiếp tục đốt lên ngọn đèn dầu, gõ lốc cốc trên máy chữ, đêm này sang đêm khác. Rồi nỗ lực của mình được đền đáp. Tôi hạnh phúc vì tiểu thuyết đầu tay của mình Thị trấn không đèn góp một tiếng nói chống tiêu cực được đồng bào quê hương tôi đón nhận.

Rồi khi tôi về Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ, cuộc sống rất khó khăn. Có lúc tôi phải giặt khăn đám cưới để nuôi giấc mộng văn chương. Tôi được động viên khi những truyện ngắn, tiểu thuyết của mình được trao giải thưởng. Tôi có cảm giác linh hồn những người hy sinh cho đất nước dẫn dắt tôi đi, cho tôi gặp gỡ những người đang sống. Rồi từ những người sống, tôi tìm lại những người đã hy sinh, gặp được những viên ngọc rực rỡ của quá khứ. Những trang viết đầy lên.

Nhiều năm ròng rã làm mẹ đơn thân nuôi con, tôi xin được nói lời tri ân những người bạn đã đến, cùng nắm tay tôi, dẫn tôi đi qua những cơn nước lửa khó khăn. Tôi vẫn thường nói với các con, rằng những gì mẹ có được hôm nay là nhờ ơn nhiều người.

Nhà thơ Nguyễn Thúy Quỳnh (Thái Nguyên): Lòng trắc ẩn, đó là điều lớn nhất mà văn chương đã mang lại cho tôi

Văn chương đem lại cho tôi (cũng như cho tất cả nhân loại) sự hiểu biết về thế giới, bao gồm thế giới vạn vật và thế giới tâm hồn của con người. Văn chương dắt tôi vào cõi vô biên do trí tưởng tượng của nhà văn sáng tạo ra. Mỗi cuốn sách là một thế giới, và trong cuộc đời dài hơn nửa thế kỷ của mình, tôi đã được được sống trong vô vàn thế giới như vậy. Rồi một ngày nào đó, tôi rụt rè tạo ra một thế giới của riêng mình. Cũng như mọi người, thế giới của tôi làm bằng chữ nghĩa và cảm xúc được thăng hoa từ đời sống, kết nối với vạn vật xung quanh, với quá khứ và tương lai.

Văn chương đã mang lại cho tôi hiểu biết và cách thức tạo ra thế giới. Cùng với đó, là tình yêu cuộc sống, thương yêu con người.

Nhà thơ Nguyễn Thúy Quỳnh

Ngày nhỏ, tôi đọc sách rất sớm và ngốn sách rất nhiều. Vớ được cuốn nào là ngấu nghiến cuốn ấy. Vì sách hiếm nên thường đọc đi đọc lại một cuốn cho đến khi có cuốn mới. Đọc dấm dúi trong lớp học, giấu bố mẹ mang sách ra vườn chè đọc trộm. Và rồi có những cuốn mà đọc xong ám ảnh đến mức nhìn bìa sách đã rưng rưng nước mắt, nhưng vẫn muốn đọc lại, rồi lại vừa đọc vừa khóc dấm dứt. Như cuốn Mùa tôm của nhà văn Ấn Độ Thakazhi Sivasankara Pillai, cuốn Túp lều của bác Tôm (Harriet Beecher Stowe)…

Hay cuốn Ruồi Trâu (Ethel Lilian Voynich), tôi bị ám ảnh bức thư cuối cùng Ruồi Trâu gửi Giê-ma đến mức chỉ cần nhìn ba chữ “Dim thân yêu” là đã khóc một mình.

Cũng có những cuốn mà khép trang cuối lại lòng tràn ngập một niềm vui sướng, như Những tấm lòng cao cả (Edmondo De Amicis), hay tập truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng (O.Hen ry) có truyện ngắn đặc sắc cùng tên.

Những trang văn đã nuôi dưỡng lòng trắc ẩn đầu đời của đứa trẻ bảy, tám tuổi bằng cách gieo vào nó những xúc cảm thiện lương như thế.

Những xúc cảm thiện lương ấy là nhịp cầu nối từ trái tim tôi vào những trái tim khác, để tìm cách thấu hiểu, cảm thông và chia sẻ. Là lý do của hành động lựa chọn làm việc tốt và dừng tay trước việc không tốt, là khát khao được làm những điều tử tế cho cuộc sống, ở ngoài đời cũng như trong trang viết.

Ở tuổi ngoài năm mươi bây giờ, mối quan tâm của tôi dành nhiều cho những góc khuất trong thế giới mà chúng ta đang sống. Vì những lý do nào đó, loài người phủ lên chúng bóng tối của lầm lẫn, ngu dốt và tội ác. Văn chương giúp lịch sử dựng lại những góc khuất ấy bằng chữ nghĩa. Chạm vào chúng, có những ngày như thể phân thân. Nửa cần cù mẫn cán với những bổn phận ở đời thực, nửa chập chờn kinh khiếp và đau đớn cùng chữ, vì biết cõi Chữ chỉ là bản sao của cõi Người.

Lòng trắc ẩn, đó là điều lớn nhất mà văn chương đã mang lại cho tôi.

Với tôi, khó khăn của đời sống và khó khăn trong sáng tạo là hai chuyện chẳng liên quan gì đến nhau. Tôi đã từng sống trong cảnh túng thiếu đến mức vay cả tiền hàng xóm để mua thức ăn cho con. Hàng tháng, cả nhà chỉ chi tiêu trong một suất lương viên chức hạng thấp, suất còn lại để trả các khoản vay do gia đình gặp chuyện rủi ro và bệnh tật. Nhưng những chuyện đó chưa bao giờ ảnh hưởng đến nhu cầu sáng tạo của tôi.

Tôi nghĩ trong quá trình sáng tạo, không có khó khăn nào lớn hơn  khó khăn do chính mình tạo ra. Như sự ít học, ít đọc trong thời buổi truyền thông đa phương tiện lấn át và chi phối từ lúc thức dậy đến khi buông tay smartphone trên giường ngủ. Như sự lười biếng, dễ dãi trong lao động chữ nghĩa.

Tôi rất ngưỡng mộ nhiều người trẻ trong giới sáng tác và nghiên cứu bây giờ, họ thực sự giỏi giang và có kiến văn thông tuệ. Kiến văn ấy chẳng ai cho họ được ngoài sự học hành tử tế, lao động nghệ thuật chăm chỉ và chuyên nghiệp của chính họ.

Tóm lại, theo tôi thì thành công hay thất bại trong nghề viết là do mình cả, đổ lỗi cho đời sống là chuyện rất buồn cười.

Nhà văn Niê Thanh Mai (Đắk Lắk): Tôi giữ cho mình mối dây gắn kết với văn chương

Nhà văn Niê Thanh Mai

Tôi không cho rằng cuộc sống của mình có nhiều khó khăn. Bởi nếu nói về kinh tế, thời gian thì chẳng biết thế nào cho đủ khi mà nhu cầu của mỗi người mỗi khác. Chỉ đơn giản rằng ngay cả khi bận rộn nhất, tôi vẫn cố gắng giữ tình yêu với văn chương.

Không viết được thì đọc. Đọc của mọi người, của bạn bè. Và có điều kiện đi nơi này nơi kia, tôi  cố gắng ghi mọi thứ bằng trí nhớ, sổ tay và luôn nghĩ rằng đó là những tư liệu quý giá để rồi hôm nào đó mình sẽ viết. Cứ như thế, tôi giữ cho mình mối dây gắn kết với văn chương. Rồi khi sắp xếp được những bận rộn của công việc, gia đình, cuộc sống. Tôi ngồi vào viết. Mặc dù việc ấy không hề dễ dàng.

Nhà thơ Hoàng Việt Hằng (Hà Nội): Tôi coi viết là một người bạn tri kỷ của mình

Bởi những ám ảnh nặng lòng, muốn xua đi, muốn quên đi, mà nó cứ quanh quất trong đầu, chữ  nghĩa nhảy múa, ngay cả lúc phơi phóng quần áo hay những lúc không phơi phóng trên dây phơi, khi dọn dẹp nhà cửa, cũng phải bỏ tất cả đó. Viết đã. Chỉ  có thể viết ra mới thấy yên, thì tôi ngồi viết. Tôi chỉ viết những gì mình nếm trải, những phận người mà tôi vừa gánh lên, rồi đặt xuống với những đối thoại bằng chữ. Viết xong mới nhẹ nhõm, cho dù không in cũng được. Viết để đó, giống thứ của để dành; thi thoảng đem đọc lại, cười nói một mình trong đêm. Thế là sướng. Tôi coi viết là một người bạn tri kỷ của mình. Những đối thoại câm trong ánh sáng của ngọn đèn. Và tôi vẫn còn thích viết bút mực trên giấy trắng. Chẳng có gì phải vội khi viết điều mình thích. Cái chính là tôi còn thích viết, cảm thấy viết hàng ngày sẽ  không có sự trống rỗng.

Viết văn xuôi rất cực nhọc, làm thơ thì khó ở một dạng khác. Càng viết càng thấy khó. Khó tới nỗi, tôi đã từng bỏ cuộc. Nhưng rồi không bỏ được. Âu cũng là duyên giời cho. Tôi viết báo kiếm sống, nhưng nhớ một lần nhà văn Tô Hoài dặn: “Khi viết báo hay viết văn, cháu nhớ là phải cẩn thận, viết kỹ. Viết kỹ thì sau đó dễ in thành sách, nếu không phí phạng chữ nghĩa”. Và tôi đã nhớ được lời khuyên này, luôn cố gắng viết kỹ, để không phí phạng chữ.

Nhà thơ Hoàng Việt Hằng

Tôi chọn cách sống tối giản, không có nhu cầu gì nhiều, viết vừa sức mình, ở lĩnh vực văn hóa, chủ yếu viết những điều mình thuộc, ví dụ như: nếu sức bơi  xa được 1000 mét thì tôi chỉ bơi 300 mét thôi, để có sức nghỉ chứ không cố, càng không kham bơi cố lấy hơn 1000 mét thì dễ đuối nước. Viết cũng vậy, sức viết như bơi sải đường dài.

Tôi đã đi qua những năm tháng sống dưới gầm trời bom B52 trải thảm ở Hà Nội (1972); thời đó chỉ mong có một bát cơm gạo trắng thôi, là ước mơ to tát lắm rồi. Bây giờ cần có bát cơm gạo tám, no bụng thì không khó nữa. Cứ nhìn nhận nhẹ nhàng  mọi thứ thì tâm tĩnh, an nhiên;  nếu không mưu cầu cao về vật chất hay tinh thần thì đời sống người viết như tôi cũng xem nhẹ, khó khăn hay thuận lợi, tất thảy còn tùy thuộc vào quan niệm sống, cách thể hiện của từng cá nhân nhà văn.

Khi ngước nhìn nhà văn Việt Nam, có người hiền tài,  âm thầm viết, âm thầm ra đi. Tôi nể trọng sự âm thầm ấy, họ không phiền đến ai. Nhân cách người viết còn lại, dù họ đã ra đi.

Để đi đường dài với văn chương, người viết rất cần sức bền của chính mình. Cũng giống như một người thợ dệt vải tấm, chờ đến phiên, người dệt phải đem bán đũi ở chợ bến Đục bên suối Yến; tôi chạnh nghĩ viết văn cũng vậy. Ngoài viết được điều mình thích, viết để dành, chữ để dành.  Khó khăn thì chẳng có mẫu số chung.  Đơn giản, tôi chỉ mong khỏe mạnh từng ngày (chỉ nghĩ được từng ngày) lặng lẽ từng ngày, khi nào vàng như lá thì rơi. Tan xuống đất. Đâu cần ai hay. Sống được như lá thì thích lắm.

Nhà thơ Lê Thanh My (An Giang): Văn chương là một động lực để vượt qua mọi trở ngại cuộc sống

Văn chương đã đến với tôi như một cái duyên và nó bên tôi một cách bền bỉ chỉ vì tôi thấy mình hợp với nó và yêu nó vô cùng. Tôi xem văn chương là một động lực để vượt qua mọi trở ngại cuộc sống. Khi tôi vui buồn, khổ đau, khi tôi sung sướng hoặc khi rơi vào cùng cực tôi vẫn luôn nhìn nó một cách khoan nhượng, bởi vì nó luôn chia sẻ với tôi bằng cách riêng của nó.

Nhà thơ Lê Thanh My

Văn chương mơ hồ mà thực, cái mơ hồ của nó mà ai cũng muốn có đó là danh tiếng, còn cái thực của nó mang đến vật chất cho cuộc sống. Tôi đã gắn bó với văn chương gần như hơn nửa đời người, tôi chọn nó, học nó và lấy nó làm nghề.

Tôi không thấy khó khăn với nghề viết vì tôi biết đủ là sẽ đủ. Tôi chỉ mong muốn vượt qua chính bản thân mình để văn chương không nhìn tôi một cái nhàm chán hoặc già nua. Vì vậy mà tôi luôn đặt ra cho mình một cái đích, nhỏ thôi và từng bước một để tôi có thể bước tiếp cùng với văn chương trong phần đời còn lại mà không phải đắn đo, cân nhắc.

Nhà thơ Vũ Thiên Kiều (Kiên Giang): Sáng tác văn học giúp não bộ được nạp một năng lượng tích cực

Nếu nói văn chương mang lại vật chất thì không hẳn rồi. Bởi đâu có nhiều nhà văn thật sự sống bằng nghề viết. Nhưng với một người đam mê văn chương như tôi,  ban ngày mải mê lao động kiếm tiền lo cuộc sống và khi đêm về được đọc, được trải lòng qua các con chữ thì thật thú vị. Điều thú vị này giúp cho tôi cân bằng cuộc sống. Bởi vậy, có thể nói niềm đam mê văn chương đã cho tôi một cuộc sống thật ý nghĩa. Nhất là khi sáng tác ra một bài thơ, một truyện ngắn hoặc viết xong một tản văn… dường như não bộ lại được nạp một năng lượng tích cực. Năng lượng ấy lại quay vòng giúp tôi chi chút cho các hoạt động không tên khác.

Nhà thơ Vũ Thiên Kiều

Đời sống vật chất cũng như tinh thần của mỗi nhà văn đều có những khó khăn riêng. Nhưng họ đều có chung một niềm đam mê sáng tạo. Biển sáng tạo thì mông lung rộng lớn.Việc sáng tạo mỗi người có một phương pháp thủ thuật riêng. Với tôi, đời sống khó khăn dường như là một chất dẫn truyền cho công việc sáng tác được thăng hoa hơn. Tuy nhiên, việc sáng tạo là không dễ, phải có một tình yêu văn chương bền bỉ theo thời gian. Bản thân tôi rất xem trọng việc nuôi dưỡng tình yêu ấy. Có được tác phẩm hay là cả một quá trình nuôi dưỡng chăm sóc vun bồi. Thế nên, dù cuộc sống khó khăn, dù áp lực từ mọi phía… tôi vẫn chung thủy đọc, học và viết mỗi ngày.

Nhà văn Nguyễn Hải Yến (Hải Dương): Thế giới của tôi rộng mở nhờ văn chương

Tôi đến với văn chương như cái duyên trời định. Nói như thế bởi vì từ trước 2016 tôi thực sự không viết cái gì, không nghĩ mình sẽ viết được cái gì. Tôi chỉ có niềm đam mê đọc sách. Đọc bất cứ cái gì có chữ rơi vào tay mình. Kể cả trong lúc ăn hay lúc nằm trong bệnh viện. Cuộc sống của tôi, vốn do đặc thù nghề nghiệp là giáo viên, chỉ quẩn quanh với môi trường hẹp, mấy chục năm không thay đổi. Điều đó bình an nhưng tẻ nhạt. Lâu dần thành cùn mòn ý chí, tư duy và năng lực thẩm mĩ.

Nhà văn Nguyễn Hải Yến

Đến khi cầm bút viết, tôi nhận ra thế giới quanh mình bỗng trở nên sôi động, hấp dẫn và đầy bí ẩn cần khám phá, cần đọc nhiều hơn, cần nghĩ nhiều hơn. Còn bản thân mình bị cuốn vào đam mê, con chữ là người bạn để buồn vui cùng trò chuyện, và vì thế không bao giờ tôi biết cô đơn. Thế giới của tôi từ ấy rộng mở. Mở ra mối quan hệ với những nhà văn lâu nay tôi từng ngưỡng mộ qua trang sách. Mở ra những người bạn chân tình giúp đỡ tôi những bước chập chững đầu tiên. Mở ra những trái tim nhân hậu, yêu thương, những tấm lòng liên tài giúp những trang viết của tôi đến gần hơn với độc giả. Cái tôi được từ văn chương như thế thật đáng trân trọng.

Để nuôi dưỡng tình yêu sáng tạo, trước hết phải đối mặt với cuộc sống đầy những lo toan. Tôi phải làm tròn vai trò của một giáo viên dạy văn – công việc của nhà giáo chi phối tôi đến từng phút và chỉ thường được nghỉ ngơi thực sự sau 10h đêm. Tôi sẽ tranh thủ những lúc nghĩ ngơi để nghĩ về những điều mình đang viết dở, đọc những gì cần đọc. Tôi tâm niệm: Viết chậm nhưng cần sâu mà nghề giáo thì phù hợp với kiểu viết này. Âu cũng là một niềm an ủi và lấy đó làm động lực.

Ngoài công việc, tôi thực sự cũng rất cần những cảm thông. Niềm đam mê được viết, được làm những gì mình thích cần được trân trọng chứ không phải sự kì thị từ chính những người xung quanh.

YÊN YÊN thực hiện

(Còn tiếp)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *