Truyện ngắn tác giả trẻ Vĩnh Thông ở An Giang

Vanvn- Vĩnh Thông là cây bút trẻ ở An Giang. Anh sinh năm 1996. Anh sáng tác ở nhiều thể loại: thơ, văn xuôi, nghiên cứu văn hóa. Hiện tại, anh đã xuất bản 9 tác phẩm, nhận các giải thưởng: Giải IV (thơ) Cuộc thi Sáng tác văn học trẻ Tạp chí Xứ Thanh (2011); Giải III Cuộc thi Truyện ngắn 10 năm thành lập TP. Cần Thơ (2014); Giải I (truyện ngắn) và Giải II (thơ) Giải Văn chương Thủ Khoa Nghĩa (2015); Giải Tác giả trẻ Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam (2018)…

Vĩnh Thông có bài đăng báo từ năm lớp 8. Từ đó, anh viết liên tục, dấn thân vào nhiều thể loại. Ở mảng nghiên cứu văn hóa, bằng nhiều phương pháp, tổng hợp, phân tích, quan sát, so sánh, đối chiếu, anh đi sâu vào tìm hiểu bản sắc văn hóa Nam bộ, từ đó đặt ra ý thức khắc phục, phát huy và bảo tồn những di sản quý giá. Trong thơ, anh thể hiện một giọng thơ phóng khoáng mà già dặn, đẹp mà buồn: “Có những nỗi buồn/ Đẹp như là khói”. Cái bảng lảng của nội tâm được anh lẩy ra, cật vấn và gọi tên: “và có ai gọi bằng/ một bản ngã/ vừa rơi…”. Cảm thức thơ anh vì thế sâu thẳm cô đơn nhưng lung linh khát vọng. Trong văn xuôi, thông qua những câu chuyện gần gũi, xảy ra xung quanh cuộc sống, anh khai thác triệt để bản ngã, thế giới nội tâm bí ẩn của con người bằng những diễn ngôn độc thoại nội tâm. Đó cũng là thủ pháp nghệ thuật mà anh thường diễn giải tâm lí nhân vật của mình.

HOÀNG THỤY ANH giới thiệu

Tác giả trẻ Vĩnh Thông

Lặng yên ngưng đọng

 

Anh không tin là Hào đã chết. Anh không tin! Có lẽ chỉ là buồn buồn đi chơi đâu đó chốc lát thôi, rồi thế nào cũng sẽ về mà.

Khi người ta nói Hào bị xe đụng, anh không tin. Rõ ràng anh thấy nó vẫn còn ở đây, ngay bên cạnh mình.

Nếu anh nhớ không lầm thì hôm đó hình như là một ngày mưa nặng. Có một chi tiết anh dám chắc mình nhớ rất rõ, là con đường nơi hai thằng dừng lại để bán đang ngập nước, bì bõm tới mắt cá chân. Anh và Hào phải xắn quần mà đi. À, mà phải rồi, đúng là có một cơn mưa ngày hôm ấy. Vì anh chợt nhớ lại hình ảnh mấy sợi tóc mai bết bát nước của Hào, vết tích sau khi một nắm mưa trượt xuống từ đỉnh đầu. Cơn mưa lúc rúc rắc, khi xóa trắng, mờ nhòe. Anh cảm tưởng thành phố rộng lớn đang mục dần trong nước.

Để coi, hôm đó Hào hát bài gì cà? Đâu như là “Mùa thu trong mưa” thì phải. Trời, hết sức thằng nầy, đã mưa ướt át mà hát bài buồn thúi ruột. Anh đổ lỗi nhiều cho cơn mưa hôm đó. Vì mưa mà chiếc micro và cái loa cứ nấc lên từng cơn sù sụ (mặc dù anh biết chúng đã có thâm niên). Vì mưa mà đường sá vắng hút heo, người đã ít lại cỏn hợp nhau ngoe nguẩy gạt phăng lời mời của anh (mưa làm họ bực dọc cũng nên). Vì mưa mà Hào không thấy chiếc xe đang lờ mờ sấn tới trong màn nước úa đục. Vì mưa mà tiếng hát của Hào đứt phăng như vừa bị một nhát chém ngọt. Một âm thanh lạ vang lên cao như nốt Sol ở quãng tám thứ ba xen giữa nền nhạc đang còn dang dở. Đơn côi và lạc lõng. Thứ âm thanh lạ đó, anh biết nó không có trong lời bài hát.

Khi người ta nói đang đưa Hào vào bệnh viện cấp cứu, anh không tin. Rõ ràng anh thấy nó vẫn còn ở đây, ngay bên cạnh mình.

Đó là độ khoảng năm phút sau khi cả một khu phố nhốn nháo trước cảnh chiếc xe tông vào thằng bán kẹo kéo bên đường. Tiếng rú rú ghê rợn của xe cấp cứu đều đều vang trong đêm vắng. Nghe nó, nhưng anh vẫn chưa tin là thật, có lẽ tiếng xe cấp cứu đó là ở đâu kìa, chứ không phải nơi mình đang ngồi. Anh không biết bằng cách nào mình đã chạy đến bên Hào, đã ngồi trong chiếc xe nầy để nghe tiếng hú hú. Rồi xe kẹo kéo mình ở đâu? Cái thằng đã tông vào Hào ra làm sao? Anh không nhớ. Anh chỉ nhớ rõ là hồi sáng sớm, nó còn líu lo nói chuyện với mình trong quán cơm vỉa hè, mới ràng ràng đó mà.

Lúc trước Hào từng nói mình ở đâu quên rồi cà? Là biên giới. Mà anh không nhớ rõ cái tên nó là gì. Tệ thiệt, ở chung trọ với nhau lâu vậy mà. Hồi mới gặp nhau, anh nghèo, Hào cũng nghèo (thì đến giờ vẫn có đứa nào khá hơn đâu). Anh với Hào đi bán chung với nhau đã bốn năm. Chi tiết nầy thì anh nhớ rất kỹ, vì Hào thường nói khởi nghiệp năm con trâu nên cực như trâu. Thằng nầy nói khơi, bán kẹo kéo dãi nắng dầm mưa chớ đâu phải làm giám đốc, khởi nghiệp năm nào mà không cực. Nếu bắt đầu làm từ năm con khỉ không chừng nó sẽ nói khởi nghiệp năm con khỉ nên chạy nhảy như khỉ. Để cho sang, nó nói hai đứa làm chung công ty, tức là ý nó đang nói “công ty kẹo kéo”.

Hào còn có ba má đã lớn tuổi, một đứa em gái học cấp hai và một đứa cháu ba tuổi con của chị hai gửi lại cho ông bà nuôi vì phải đi làm xa. Lúc nào nó cũng dè xẻn đến mức tối đa, để dành tiền gửi về cho ba má mỗi tháng. Hào thương nhỏ em gái lắm. Anh đọc được sự hân hoan và tự hào trong mắt nó khi nhắc đến đứa em hiền và học giỏi của mình. Hào ngày trước cũng học giỏi, nhưng đã nghỉ từ năm lớp sáu. Cơ hội đến trường không dành cho nó.

Khi người ta nói Hào đã không còn cơ hội nữa, anh không tin. Rõ ràng anh thấy nó vẫn còn ở đây, ngay bên cạnh mình.

Lần nầy không phải là cơ hội đi học, mà là cơ hội giành lấy hơi thở. Mấy lọn hơi thở mỏng và nhẹ đang trơn trượt, cố thều thào bám víu lấy người Hào. Hào đâu thể bỏ mọi thứ ngang xương vậy. Hào đang ấp ủ dự định đăng ký tham dự cuộc thi “Giọng hát hay toàn quốc” sẽ được tổ chức cuối năm nay. Vậy là nó bắt đầu đi học nhạc, cũng chỉ vừa mới cách đây vài tháng. Hào nói muốn nắm vững về âm nhạc để trở thành một ca sĩ thực thụ, nó sẽ diễn trên sân khấu lớn, sẽ ra album. Hoặc nếu không thể là ngôi sao thì cũng có thể hát ở phòng trà, quán cà phê, nhà hàng… miễn là những chỗ sang trọng hơn… xe kẹo kéo.

Từ khi học nhạc, Hào đem anh ra làm chuột bạch để thí nghiệm bằng những lời càm ràm. “Trời, thằng nầy, sao giọng Mi thứ mà hát La thứ”. “Ê đã biểu xuống một quãng tư, chớ hông phải quãng ba nghe chưa”. Bực cái mình! Anh chớ biết quãng tư quãng tám gì ráo. Cứ hát sao cho khách cảm thấy nghe được, và quan trọng là chịu mua kẹo là mừng rồi. “Tao bán kẹo kéo chớ hổng phải ngôi sao nghe chưa”. “Dẹp, kẹo kiếc gì thì cũng phải hát cho chuẩn”.

Anh không thể phủ nhận là Hào có một giọng hát đẹp, kể cả lúc trước khi học nhạc. Giờ thì thêm chuẩn, nó là trợ lực cho tiêu chí đẹp đã có từ trước. Thường thì khi đi bán, nó hát chính còn anh mang kẹo đi mời khách. Thỉnh thoảng anh cũng hát nhưng chỉ là để đổi khẩu vị cho đỡ nhàm chán. Anh biết mình không hay hát bằng nó, nhưng anh miệng mồm lanh lẹ hơn, gì chứ công việc chào mời là trúng tủ rồi.

Từ khi học nhạc, thay vì những bài hát kiểu em yêu anh, anh yêu em, hai đứa mình yêu nhau như trước đây, Hào bắt đầu hát mấy bài của ông Trịnh nào đó. Khi tập ở phòng trọ, anh đã thấy không ổn và cảnh báo với nó. Nhạc nầy buồn quá mà lại khó hiểu, khách nghe xong ai chịu mua kẹo. Hào nói những giai điệu đó, những ca từ đó mới thật sự là nghệ thuật. Vụ nầy thì anh thua, anh có rành nghệ thuật nghệ thiếc gì cho cao, trước mắt anh chỉ có hai trường hợp: bán chạy và bán ế.

Và, ế thiệt. Người ta không chịu nghe những bài hát đó. Khách nói sao không hát mấy bài giựt giựt sung sung, có “yêu thương, em anh” cho dễ hiểu, hát chi ba cái nhạc tào lao tào đế gì mà dòng sông nào qua đời, qua cái con khỉ, sông mà qua đời mẹ gì. Vì mấy chữ “tào lao tào đế”, “qua đời con khỉ” mà Hào buồn. Buồn cho mình ít, mà buồn cho nhạc và cho ông Trịnh nhiều. Anh thì thấy Hào khờ quá, người ta buộc miệng nói khơi thôi có là đống ôn gì, với lại ông Trịnh là ông nào có dính dấp gì tới xe kẹo kéo của mình đâu mà buồn.

Bây giờ thì có lẽ không còn ai buồn cho những đối tượng đó nữa. Khóa học nhạc vẫn chưa kết thúc, cuộc thi nó mơ ước vẫn chưa tổ chức. Hào chưa đi đến cuối chặng đường mà, sao lại có thể bỏ cuộc sớm vậy.

Khi người ta nói cái quan tài của Hào đang được đưa xuống huyệt, anh không tin. Rõ ràng anh thấy nó vẫn còn ở đây, ngay bên cạnh mình.

Anh đã làm một chuyến về quê Hào. Đây là lần đầu tiên anh biết quê của thằng bạn cùng ở chung phòng trọ, cùng “làm chung công ty”. Quê nó, nhà nó, đều nghèo khổ như nhau. Nhỏ em gái Hào cầm cái cặp da và khóc sướt mướt. Đó là món quà anh nó vừa mới mua vài ngày trước khi gặp nạn. Trước đây Hào hay đợi đến Tết để mang tất cả những món quà nó đã mua được trong năm về quê. Nhưng lần nầy nó đã phá lệ, vừa mua xong mới mấy hôm thì nó đã về quê cùng với món quà rồi. Có lẽ Hào nôn nóng quá, không kịp để chờ Tết. Nhỏ em gái khóc, anh cũng khóc. Kỳ quá, đàn ông đàn ang mà khóc gì.

Cứ như anh đang thong dong ở một chốn ký ức nào đó, dòng chảy miên man bỗng dưng khựng lại và bị bẻ cong bởi tiếng khóc. Nè nhỏ, khóc gì vậy, nhận quà vui quá nên xúc động phải không. Dứt khoát là không thể khóc cho Hào. Nó có bị gì đâu mà khóc, chỉ là té xe thôi mà. Hai thằng đi bán bị té xe hoài chớ gì, chuyện bình thường thôi, có gì to tát đâu. Ngay cả anh và chuyến đi nầy, cũng chỉ là chơi cho biết quê bạn thôi, có gì đâu mà buồn. Anh tự nhắc mình như thế cho đến khi hai hốc mắt trở nên khô khốc.

Lúc đó, hồ như anh vẫn nghe giọng hát của Hào bàng bạc phía xa.

Khi người ta nói Hào đã chết rồi, chết thật rồi, anh vẫn không tin. Rõ ràng anh thấy nó vẫn còn ở đây, ngay bên cạnh mình.

Ở những nơi thân thuộc, anh gom nhặt từng khóm ký ức rạc rời phờ phạc về Hào. Trên chiếc xe, lỉnh kỉnh những micro, loa, máy phát đĩa… tất cả đều có bàn tay Hào chạm vào suốt nhiều năm. Bước vào phòng trọ, anh chạm phải cây guitar của nó, mỗi ngày anh đều lau chùi cẩn thận vì sợ đến lúc Hào về thì nó đã đóng một lớp bụi dầy. Đến cái bàn nhỏ, bắt gặp ngay xấp tài liệu học nhạc, anh giữ gìn nó cẩn thận để khi Hào về sẽ có tài liệu mà học tiếp. Trong hộc tủ là tờ báo đăng thông tin về cuộc thi “Giọng hát hay toàn quốc”, anh vẫn giữ đó để Hào biết ngày giờ mà thi. Cho đến khi cuộc thi được tổ chức, rồi đi đến vòng chung kết, anh vẫn đón xem trên tivi mỗi tuần, nhưng không thấy Hào xuất hiện. Ừ, năm nay chưa thi được thì năm sau thi, có sao đâu.

Anh nhặt được một mảng nhỏ về Hào nơi ngã tư mà hai thằng từng té xe văng cả thùng kẹo, vậy đó mà không hề hấn gì. Anh lại lượm một ngụm chỗ quán nhậu mà hai thằng bị khách tạt bia vào mặt chỉ vì cái tội “quấy rối người ăn nhậu”. Anh thấy một mớ ở công viên mà hai thằng đã đánh nhau với một nhóm kẹo kéo khác vì chuyện giành “lãnh địa”. Anh tìm hình ảnh Hào trong những cái gật đầu và lắc đầu của khách khi mời kẹo. Trong nghề kẹo kéo người ta quan tâm đến những cái gật đầu và lắc đầu của người mua, nó tỷ lệ thuận với độ nặng nhẹ của mớ tiền trong túi người bán. Anh lại tìm được đâu đó quá khứ của mình về những cái cười cợt khinh miệt của lũ trai gái choai choai, của những vị đại gia sang trọng, anh hiểu nụ cười là dành cho cái nghề của mình.

Nhiều tháng sau đó, anh cũng không rõ là bao lâu vì không còn quan tâm đến nữa, có lần một thằng sinh viên ở chung dãy trọ đến đòi mua cây guitar. Thằng sinh viên nói đã để ý lâu rồi, tưởng là của anh nhưng không thấy anh đàn nên mới hỏi mua. Quả thật anh không biết đàn nên không đụng tới, cây guitar đó anh vẫn đặt nằm yên đúng vị trí mà Hào đã dành cho nó từ lúc mới mua.

“Tao không chơi guitar, nhưng cái đó của bạn tao, muốn gì phải hỏi nó chứ tao đâu bán khơi khơi được”.

“Em dọn tới đây hai tháng rồi thấy anh ở một mình thôi, có bạn nào đâu?”.

“Nó về quê rồi”.

Anh vẫn nghĩ là Hào chỉ đi chơi thôi, hoặc về quê như Lục Vân Tiên bỏ thi để chịu tang mẹ, hoặc trốn đâu đó một thời gian để chọc tức anh. Chiếc xe kẹo kéo giờ đây chỉ còn mình anh. Anh vừa hát vừa bán. Cảm thấy ở cổ râm ran ngứa, dần dần chuyển sau khô rát, đau buốt. Không ai hát thay hoặc bán phụ, không ai chỉnh âm thanh hay mở nhạc cho anh.

Hào đâu rồi mầy? Sao không tiếp tao một tay coi? Mầy coi tao hát vầy đúng giọng La thứ chưa, dịch lên đúng một quãng tư chưa? Anh vẫn đợi, để tới bữa nọ vừa hát xong một bài, có người nhắc: “Lộn tông rồi, Đô trưởng cha nội ơi!”. Thì đó, anh đã nói rồi, rõ ràng là Hào vẫn còn ở đây, ngay bên cạnh mình chớ có đi đâu, anh biết mà.

Tranh của họa sĩ Thành Chương

Thần làng Năng

 

Người ta nói rằng thần làng Năng linh thiêng lắm!

Sóng gió từ đâu nổi lên cuồn cuộn, gầm rú ghê rợn, chiếc xà lang chao đảo điên cuồng. Chín Nhạn bị gió nhấc bổng, cuốn ra khỏi xà lang rồi hất mạnh xuống lòng sông. Con sông ấy rất sâu, sâu hoắm. Cho tới một lúc nào đó, lâu lắm, ở một nơi nào đó, lạ lắm, ông tỉnh dậy. Xung quanh là một vùng rộng lớn tối sẫm. Có luồng sáng lờ mờ hắt ra. Nhìn kỹ, trước mặt là một ông lão có gương mặt phúc hậu, râu tóc bạc trắng, già đến mức không thể đoán được khoảng bao nhiêu tuổi…

Giấc mơ kỳ cục, quái gỡ, đáo đi đáo lại suốt mấy ngày như thế. Hôm sau y hệt hôm trước, hình như không dư không thiếu chi tiết nào. Như một đoạn phim lập trình sẵn, cứ đến giữa khuya phát ra, bóp nghẹt giấc ngủ của Chín Nhạn. “Cái gì không phải của mình thì đừng chiếm đoạt”. Chỉ một câu ấy, bao nhiêu giấc mơ trôi qua ông lão kỳ lạ cũng chỉ nói mỗi một câu ấy, rồi mất hút. Có đôi lần trong mơ, Chín định chạy đến hỏi ông ấy là ai, nhưng lúc đó giọng nói trở nên ú ớ, như có thứ gì nén chặt lại, thanh âm tắt lụi. Đến khi thức dậy, ông chạy ào ra khỏi phòng, sợ rằng mình còn nằm trong đây một phút một giây nào nữa, thì lão già ấy sẽ bắt luôn cả mình đi.

Ngoài kia, đám nhân công vẫn đang khai thác cát đều đều trong đêm bình lặng, không hề có chuyện gì xảy ra.

Chín Nhạn quyết định đi tìm lời giải. Ông rời xà lang, dùng chiếc xuồng nhỏ bơi vào bờ. Thật ra ông biết người làng Năng không ưa gì mình. Nhưng cũng may là trong làng không phải ai cũng biết mặt ông, chỉ có những người từng bơi ra xà lang khai thác cát của Chín Nhạn mới biết ông. Chính vì thế mà ông có thể ung dung lân la đến các quán cà phê ở xa xa, vậy xem như tạm yên ổn. Ông hỏi ở đây từng có ông già nào tướng tá như vầy, mặt mũi như vầy… Mọi người nghe xong ngó nhau, ai nấy lắc đầu. Ông lão là ai? Chín Nhạn suốt mấy ngày tức tối vì không ai trả lời được câu hỏi nầy.

Tối qua ông lại mơ, đoạn phim lặp lại như trước. Thức dậy mồ hôi đổ như tắm, thở ra nghèn nghẹn. Cơn lạnh ngoài sông lùa về chạy dòng dọc sống lưng, lạnh ngắt. Ông lấy ly nước uống, cố nuốt vô mà cảm thấy thấy cổ họng vẫn khan. Đêm nay ông lão kỳ lạ kia không chỉ nói một câu như trước mà còn thêm câu thứ hai. “Đất đai của làng ta thì hãy trả lại cho làng ta”. Vậy là đã tìm được câu trả lời. Nhờ câu nói thứ hai của ông lão do Chín Nhạn kể lại, người ta đã đoán ra. Dân làng Năng quả quyết rằng ông lão ấy chính là thần làng Năng.

Người ta nói rằng thần làng Năng linh thiêng lắm!

Dân làng Năng bày ra trước mắt Chín Nhạn một bức tranh lắp ghép nhiều mảnh về vị thần họ sùng tín. Những câu chuyện được mọi người thay nhau kể. Đại ý là thần luôn phù hộ những người tốt với dân làng, thẳng tay trừng trị những kẻ ăn ở ác đức. Chín bĩu môi không tin, nhưng không dám nói ra. (Nếu nói là không tin chắc sẽ bị mọi người đập tơi bời, ông đã quá sợ dân làng Năng nầy rồi). “Ông thần làng Năng linh cỡ nào? Giỏi lắm thì cũng chỉ ngồi trong đình hưởng đồ cúng. Làm gì được tao? Tao ở giữa sông, thần có bơi ra tới đây vặn cổ bẻ họng được không? Ông thần tài ba gì ngoài mấy cái trò chui vô giấc mơ để hù dọa”. Chín Nhạn vẫn chịu khó ngồi nghe và chỉ dám cười thầm trong bụng. Vậy mà không hiểu sao ông cứ mơ hồ nghe như văng vẳng đâu đó bên tai, rằng thần làng Năng linh thiêng lắm!

Về tới xà lang, mấy thằng đệ tử cho hay neo bị mắc kẹt vào vật gì rồi, nhổ lên không được. Kỳ lạ! Xà lang đi biết bao con sông, hạ neo bấy nhiêu nhiêu chỗ, làm gì có nơi nào nhổ neo không được. Một người nhổ không lên, hai ba người cùng kéo không được, cả chục người xúm lại, sợi dây vẫn nằm trơ. Tiếng hì hục, tiếng hò dô, tiếng dây cọ vào xà lang trèo trẹo, tiếng thở dài, tất cả nghe như nghẹn ứ.

“Lặn xuống!”, Chín Nhạn ra lịnh cho đệ tử. Thằng nhỏ cỡ mười sáu tuổi lặn tài tình, phóng cái đùng xuống sông rồi mất tăm, để lại một chùm tia nước hất lên cao. Đến khi ngoi lên, thằng nhỏ nói không thấy cái neo đâu. “Trời! Sao lại không thấy? Không có neo mà sao sợi dây nặng trịch kéo không lên?”. Chín Nhạn sai hai thằng lớn hơn lặn xuống lần nữa, lần nầy lặn lâu, phải mang theo bình dưỡng khí. Gần mười phút sau, hai thằng trồi lên.

“Trời ơi thấy ghê quá ông Chín ơi! Nói ra hổng biết ông tin hông nữa. Thiệt là ma quỷ gì đâu!”.

“Sao, nói lẹ coi”.

Hai thằng ú ớ, vẻ sợ sệt, ngó nhau đăm đăm. Một thằng đưa tay quẹt nước trên mặt cho tỉnh táo lại rồi nói ngập ngừng:

“Ở dưới… có ông già… ổng nói… lấy cái neo mình rồi”.

Chín Nhạn chưng hững, trợn mắt nhìn hai thằng trân trân:

“Khùng hả mầy? Bị ma nhập hả? Sông sâu làm gì có ai ở dưới được?”.

Thằng nhỏ nói tiếp:

“Bời vậy tui đã nói là khó tin lắm, kể ông cũng không chịu tin. Tụi tui bơi lại đòi mà ổng đi mất tiêu”.

Chín Nhạn bắt đầu thấy hoang mang, ngờ ngợ như nhớ ra điều gì:

“Ông già đó ra làm sao?”.

“Già già chát khú đế, râu bạc, tóc bạc, mà ổng mặc đồ đẹp ghê luôn ông Chín”.

Chín Nhạn nghe xong giựt mình, có cảm giác đầu óc bần thần, choáng váng, hai lỗ tai lùng bùng. Ông già tụi nó tả không lẽ là thần làng Năng? Có phải ông thần làng Năng linh thiêng như vậy? Chín chợt nhớ đến lời thách thức của mình ban nãy, nghe cơn lạnh lại từ đâu tràn tới chạy rần rần, xô ông liêu xiêu muốn sụp té. Trong đầu ông lại nghe văng vẳng đâu đây có tiếng nói, rằng thần làng Năng linh thiêng lắm! Ông thở dài thườn thượt.

Tối nay Chín Nhạn không ngủ. Ông không muốn giấc mơ lặp lại, nên thức một đêm cũng không sao, ban ngày sẽ ngủ bù lại. Trên xà lang, nhân công và máy móc vẫn đang làm việc đều đều. Công việc khai thác cát vào ban đêm đã không còn xa lạ. Đôi lúc Chín thấy mình thiệt tài. Năm giờ chiều ngừng khai thác đúng như quy định, đến khuya khi mọi người ngủ say, xà lang lại tiếp tục cho khai thác đến tờ mờ sáng thì ngừng, rồi bảy giờ sáng hôm sau khai thác tiếp. Như vậy mọi người sẽ nghĩ rằng xà lang khai thác cát của Chín Nhạn hoạt động đúng theo thời gian cho phép của chánh quyền. Đâu ai biết rằng hằng ngày vẫn có kẻ đang “đi đêm”.

Bữa sau, Chín Nhạn đem mâm trái cây đến đình. Không biết thần làng Năng có linh thiêng như lời đồn không, thôi cứ thử một phen, xem như tự cứu mình. Không gian trong đình yên ắng, chỉ nghe tiếng thở của Chín Nhạn. Có ánh mắt nào đó gần lắm đâu đây, cuốn trôi tuồn tuột bao dũng khí ban đầu của ông. Ông đặt mâm trái cây lên bàn thờ, khấn rằng mình làm sai và đã biết lỗi, mong thần tha thứ, lại còn hứa sẽ không đụng tới đất đai của thần nữa. Chín cảm thấy thấy cơ thể nóng bừng. Dường như thần đang có mặt ngay lúc đó, đang kề mắt sát bên ngó chăm chăm từng cử chỉ của ông. Đây đó xong xuôi, vậy mà bước khỏi đình ông lại còn đâm ra lo lắng, không biết kế sách nầy có linh nghiệm không? Cả tháng nay chuyện làm ăn đã rắc rối lắm rồi, giờ lại còn vướng vào chuyện thần chuyện quỷ…

* * *

Rắc rối! Đúng hơn phải là điêu đứng. Từng đi qua nhiều nơi, nhưng chưa nơi nào làm Chín Nhạn phải khốn đốn như cái xứ sở nầy. Nửa tháng qua, vài ngày người dân lại tụ tập ra xà lang khai thác cát của ông để gây khó dễ. Mỗi lần đi là một tốp khoảng vài chục người, trai gái già trẻ có đủ. Công việc khai thác phải tạm dừng. Nhân công đứng chết trân, mặt mày xanh lét, ngốn hết tất cả những lời chửi bới của dân làng. Chiếc xà lang thì phải hứng đủ thứ gạch, đá, trứng ung, cà chua, rau thúi… Có chạy xà lang đi cũng không xong, ghe của người dân đã bao vây bốn phía và sẵn sàng đuổi theo, đành phải đứng chịu trận.

Đơn giản là vì làng Năng lở đất quá nhiều. Đất đai của làng mỗi ngày càng bị sóng nước vồ lấy. Dân làng sợ tiếp tục khai thác cát sẽ làm trôi thêm đất xuống lòng sông. Chín Nhạn từng lấy một đống giấy tờ ra, nè, mấy ông mấy bà coi đi, khai thác được cấp phép đàng hoàng. Vậy mà cũng vô ích, suýt chút nữa tờ giấy phép đã phải tắm nước cà thúi. Dân làng ai nấy nhao lên:

“Kệ tía mầy! Hổng có cấp phép gì ở đây ráo trọi. Giấy tờ gì của mầy hông cần biết, chánh quyền cho thì kệ, nhưng bây giờ dân tụi tao không cho. Tụi bây hút cát dưới sông thì đất đai bên bờ sẽ trôi xuống”.

“Ờ, phải rồi. Có cấp phép, nhưng khai thác nhiều hơn quy định thì cũng có ai biết! Nên bây giờ nói gọn là dù khai thác ít hay nhiều cũng không được”.

Chín Nhạn đứng im thin thít, người đơ như tượng, nghe máu trong mình nóng lên sùng sục, tức muốn nổi khùng. Nhưng đành chịu. Chừng nào mệt, họ sẽ tự bỏ về. Hết cách rồi!

Đôi ba lần chánh quyền cảnh cáo người dân, nhưng vẫn không xong. Cuối cùng phải mời họp giải quyết. Đơn vị khai thác cát có Chín Nhạn và hai thằng đệ tử, trong khi dân làng thì cả một… “đại đội”! Buổi họp hôm đó xôn xao như nhóm chợ, không khí nóng hầm hập. Phòng họp chật cứng như bị giãn ra thêm bởi đủ thứ tiếng bàn tán, kể tội, chửi rủa, hăm dọa… Nhà khoa học được mời đến, nói rằng đã dùng phương pháp khoa học để thăm dò kỹ lưỡng mới cho phép khai thác cát. Họ giải thích đất làng Năng lở là do tác động của dòng chảy chứ không phải do việc khai thác cát. Người dân nhốn nháo bàn tán, rồi ai nấy lắc đầu:

“Tui hỏi mấy ông cán bộ, cát ở đáy sông bị hút lên tạo thành lõm ở dưới đó, thì đất trên bờ làm sao không chảy xuống cái lõm đó cho được? Tui không tin mấy ông đâu. Mấy ông là phe phái với nhau, mấy ông ăn hối lộ nên mới theo tụi nó”.

“Phải rồi, hút cát lên thì đất phải sụp xuống chớ. Mấy ông là nhà khoa học, giải thích sao cũng được, làm sao dân tụi tui biết. Nhưng khai thác cát ít nhiều gì cũng làm lở đất”.

Mặc kệ phiên họp chưa kết thúc, dân làng kéo nhau ùn ùn bỏ về, cửa phòng họp nhỏ xíu tưởng chừng bị tét làm đôi. Nhà khoa học lắc đầu. Chánh quyền bất lực. Cũng phải, khi thấy đất đai của mình đang bị uy hiếp như vậy, có ai chịu đứng nhìn đâu?

* * *

Chín Nhạn từ trong đình lững thững ra về. Ngoài đường, nắng vừa đủ vàng ươm rọi nghiêng nghiêng mấy bóng cây, đậu xuống mái tóc hớt cua trùi trụi của ông. Ông nghe ngực mình đánh trống thình thịch, mồ hôi rũ nhau trườn ra lưng áo. Về vừa đến xà lang, mấy thằng đệ tử mặt tươi rói, la rố ráo: “Nhổ neo lên được rồi ông Chín ơi!”. Chín Nhạn giựt mình, không tin được những gì mình đang nghe, đang thấy. Ông chạy tới nhìn trân trân. Đúng thật là cái neo rồi, nó đang lù lù ngay trước mắt. Kế bên là sợi dây neo đang nằm im re, hiền khô, yếu đuối, cứ như khác hẳn so với sợi dây trình trịch ngày hôm qua. Chín Nhạn run hai môi, bắt đầu cảm thấy nỗi sợ đang lần lần mơn trớn và áp đảo đầu óc mình. Chẳng lẽ ông thần làng Năng linh thiêng thật như vậy sao?

Trong bụng ông mở cờ.

Ông đang nghĩ đến một dự định khác.

Sáng sớm hôm sau, Chín Nhạn lại bưng một cái mâm lớn đến đình. Trong mâm lần nầy không chỉ đơn giản là trái cây như hôm trước nữa, mà là cả một con heo sữa quay, mỡ tươm ra bóng lộn. Chín hồ hởi đặt lễ vật lên bàn thờ rồi ung dung thắp nhang đứng khấn. Trong đình hôm nay, ông cảm thấy đủ tự tin hơn để đứng một mình, dẫu có con mắt vô hình nào đó đang ngó mình, ông cũng không sợ. Dường như ông nắm bắt được điều gì đó từ vị thần mà ông đang cầu khẩn. Ông cố tình khấn lớn:

“Con đây người trần mắt thịt không biết oai linh của thần nên đã có ý khinh khi, nhờ thần linh ứng dạy dỗ cho con được sáng tỏ. Nay con xin đem lễ vật đến thành tâm dâng thần, trước mong thần tha thứ tội, sau nhờ thần che chở và phù hộ cho con trong việc làm ăn. Xin thần giúp đỡ con tránh được đám dân làng phá rối, qua mắt được chánh quyền. Nếu con khai thác cát ở làng Năng lần nầy được lợi nhuận nhiều, con sẽ trả lễ thần thật hậu hỷ”.

Khấn xong, Chín Nhạn cười đầy đắc ý. Trước khi về, ông thong thả nhìn quanh một lượt, như đang muốn tìm một sự thỏa hiệp từ ánh mắt nào đó đang dòm ngó mình. Lúc không thể nhờ người khác được nữa, người ta đành cậy nhờ thế lực vô hình. Chín Nhạn hối lộ, mua chuộc cả thần linh! Khi lòng tham lên đến một mức độ không còn nhỏ nữa, người ta bắt đầu bất chấp mọi chuyện, bất chấp lẽ phải. Và lần nầy, cao hơn, Chín Nhạn bất chấp cả luật trời, cả thần thánh.

* * *

Mấy ngày sau, cả làng Năng xôn xao tin ông chủ xà lang khai thác cát bị té sông. Tuy trong làng không phải ai cũng biết mặt Chín Nhạn, nhưng nói đến ông chủ xà lang khai thác cát thì hầu như mọi người cũng đã đôi lần nghe qua. Khi hay tin ông gặp nạn, ai cũng cảm thấy bất ngờ. Sao mới đó mà gặp nạn rồi? Sao dân sống trên sông nước mà bị té như vậy? Sao còn trẻ mà ra nông nỗi nầy?

Nghe nói khi chèo từ trong bờ ra gần tới xà lang, xuồng của Chín Nhạn bị lật, làm ông té xuống nước. Không hiểu lúc đó người ngợm ông bị gì mà lại không chịu bơi? Cứ chấp chới rồi chìm dần. Đám nhân công trên xà lang nhìn thấy liền nhảy xuống sông cứu ông chủ của mình. Họ lặn giỏi, nên không lâu sau đó đã cứu được Chín Nhạn. Sau khi hô hấp nhân tạo, ông từ từ tỉnh dậy, nhưng mắt vô hồn, miệng cứ ú ớ không thành tiếng, có lúc lại cười một mình.

Hình như thần kinh ông gặp vấn đề, không còn nhận thức rõ ràng nữa. Gia đình Chín Nhạn đã nhanh chóng đưa ông đi điều trị, chiếc xà lang khai thác cát cũng đã rời khỏi khúc sông bên cạnh làng Năng, không biết có còn trở lại nữa không?

Dân làng kháo nhau rằng đó là báo ứng dành cho người làm hại làng Năng. Họ nói những người muốn lấy đất đai của làng để làm giàu cho bản thân mình thì phải chịu trừng phạt như thế, và quả quyết rằng tai nạn của Chín Nhạn chính là do thần làng Năng trừng phạt chứ không phải vì lý do nào khác. Cái gì không phải của mình thì đừng chiếm đoạt, đất đai của làng Năng thì phải trả lại cho làng Năng.

Người ta nói rằng thần làng Năng linh thiêng lắm!

VĨNH THÔNG

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *