Nhà thơ Đào Quốc Minh: Gã quái chữ từ những kinh cầu xa vắng

Vanvn- Nhiều người bảo với tôi Đào Quốc Minh quái lắm! Ấy là lúc tôi chưa gặp Minh. Dĩ nhiên tôi nghĩ văn chương ai cũng cần một cái gì đó quái, kiểu cá tính mạnh, có thế mới tạo ra cho mình một màu sắc riêng biệt. Nhưng khi gặp Minh rồi, tôi nghĩ, Minh quái trong chữ. Còn mấy điều râu ria thiên hạ đồn thổi, nói thiệt thị phi cũng chẳng làm nên chân dung một nhà văn hay nhà thơ nào hết. Căn cước xác tín một người sáng tác chính là tác phẩm.

Nhà thơ Đào Quốc Minh

1. Đào Quốc Minh tặng tôi 2 ấn phẩm phát hành gần đây của bạn ấy, vào một hôm Hà Nội chẳng dịu dàng, ở quán cà phê đâu đó phố Nguyễn Du, Hà Nội. Và tôi nói nhiều như một kẻ viết văn xuôi vốn dĩ, còn Minh lại trầm mặc như một người thơ hay giấu ý vào câu. Đại thể thế đấy. Minh có cặp mắt hiền. Dĩ nhiên cặp mắt hiền soi đời bằng trí óc chẳng giản đơn. Tôi biết thế, khi đọc thơ và truyện của Minh rải rác trên các mặt báo. Buổi đó, Minh muốn tôi đọc tập truyện của Minh trước, tập truyện mà Minh ủ vào đó nhiều cái “quái”.

Nhưng, văn chương thì ai cũng quái, tôi càng quái lạ ở cái khoản đọc. Tức là đọc tùy hứng, tùy duyên, và tùy vào tác giả. Vậy nên, đâu dễ gì tôi làm hài lòng Minh, tôi đi đọc tập thơ của Minh vậy. Tập thơ “Phục sinh” được trao Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2024. 10 ngày và nhiều trang thơ tôi phải làm giấu để thỉnh thoảng mở ra xem. Trên máy bay, trên căn phòng ở Hàng Trống, trên xe taxi, trong cả lúc chờ bay. Tôi mang tập thơ từ chặng đường Sài thành ra tận thủ đô để đọc. Một chuyến đi tôi chỉ chọn một cuốn sách đi cùng mình.

Nhưng, thơ Minh không dễ đọc, bởi cái quái trong chữ Minh, dù chuẩn bị tâm lý trước vẫn khó lòng đọc theo kiểu điểm trang, mà phải đàng hoàng tử tế đọc. Đọc trong tâm thế tĩnh lặng nhất, trong cái đắm chìm vào thơ, bỏ mặc những liến thoắng quanh mình. 180 bài thơ, ngắn dài có đủ, hiện hữu trong tập thơ gói nhiều ẩn ý. Nhiều quá thành thử ra không thể đọc vội, bởi nhiều bài như tiếng chuông lặng lẽ buông vào lòng mình những niệm ý. Mà niệm ý nào của Minh thì cũng sâu hoắm: “những – đứa – trẻ – đốt – đền/ lại trở về đứng đó lặng câm/ như pho – tượng – gỗ trầm ngâm!/ trăm năm trên nền – đất – cũ/ lại trăm năm kiếp đoạn trường/ hóa thạch bao tiếng sủa/ lại ngôi đền… mù mịt khói hương” (Những đứa trẻ đốt đền).

Tôi tin nhiều người cũng ong óng, váng vất, và rồi khi đã lấy lại cân bằng, mới thấy thơ Minh có quá nhiều nội lực. Như gã giang hồ ẩn dật chưởng ra phát nào khiến cả võ lâm chao đảo. Cái nội lực của Minh tôi tin nó đi ra từ chấp niệm với thế thời. Bởi càng đọc sâu, càng thấy trong thơ Minh là những khắc khoải, giằng xé, thậm chí cứ thống thiết về một cuộc trần quá nhiều ảo – thực đan cài rối tung cả mắt người. Minh còn trẻ, tiếng thơ còn nhiều sinh huyết, lòng thơ còn lắm đa đoan. Từ ấy mà “chưởng thơ” giáng xuống trang viết đôi lúc in hằn những đớn đau: “ôi cánh đồng cố hương tôi/ chiều Ba mươi linh hồn con chó nhỏ/ bỏ tôi đi xa tít tận chân trời/ tôi ngồi khóc trên nóc nhà không cánh/ đang trồi lên từ nhân gian bất hạnh/ những – nấm – mộ – mặt – trời/ tiếng sủa nào vọng lại phía xa xôi” (Cánh đồng cố hương).

2. Tôi nhớ có lần mình ngồi ở Hà Nội, đâu đó trên phố Lý Nam Đế, trò chuyện cùng một người anh trên văn đàn, khi nhắc về Đào Quốc Minh, anh nhấp một ngụm trà nóng rồi bắt đầu kể. Tôi lắng nghe chăm chú và gần như nín thở bởi cuộc đời của chàng trai 8X này cứ như “phép lạ”. Năm còn đang học lớp 12, Minh bị một tai nạn giao thông khi đạp xe từ trường về nhà. Tai nạn ấy để lại những di chứng hành hạ anh chàng suốt hai năm. Việc học của Minh cũng lỡ làng. May sao gặp đúng thầy chữa trị mà Minh khỏi bệnh. Lại phải nhờ cha mình là nhà văn Đào Quốc Vịnh tìm trường Đại học cho học, bởi khi bị bệnh, Minh đã bảo lưu kết quả quá 3 năm ở Đại học Ngoại thương. May mắn GS Trần Phương khi ấy là Hiệu trưởng trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ đã phá lệ. Đào Quốc Minh từ đó học xong Cử nhân lên đến Thạc sĩ kinh tế loại xuất sắc.

Tác phẩm của Đào Quốc Minh.

Ngặt nỗi, sau 2 năm thoát khỏi bệnh thì Minh lại đắm đuối với thơ, dù trước đây Minh chưa từng làm bài thơ nào, và thời còn học THPT Việt Đức thì Đào Quốc Minh học chuyên về tự nhiên, vài năm liền là học sinh giỏi toán, lý cấp thành phố. Hành trình văn chương của Minh khởi phát lạ lùng đến vậy. Nhưng, tôi tin văn chương chọn Minh như một phần an bài của số phận. Giữa dâu bể cuộc người, giữa gieo neo quãng trần, kỳ thực đôi khi văn chương chính là thứ người ta nắm níu vào nó mà ký thác niềm tin để thành toàn sống.

Văn chương cũng trổ ra lộc đời với Đào Quốc Minh khá sớm. Năm 2015, tập thơ “Những người vũ công Memphis” dày gần 600 trang đã đoạt giải thưởng Tác giả trẻ của Hội Nhà văn Hà Nội. Sau đó 1 năm, Đào Quốc Minh được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam, khi mới 30 tuổi, so với văn đàn đó là một độ tuổi còn quá trẻ.

Nhưng, nói thật lòng, tôi lại mê văn xuôi của Đào Quốc Minh hơn, bởi lối viết u u minh minh, sắc lạnh, bén ngót, gai góc và cắm sâu vào tâm khảm người đọc những hồ nghi bảng lảng. Tôi đọc truyện dịch của Minh, truyện ngắn của Minh đăng tải các báo nhưng đến khi chịu khó ngồi giở từng trang của tập truyện “Đứa con của nấm mồ” thì tôi thấy những ấn tượng ban đầu về tạng viết của Minh lại hiện rõ mồn một lên. Chỉ 22 truyện ngắn gói gọn trong 270 trang giấy mà mở ra biên niên sử của thân phận con người qua nhiều đoạn thời gian, mà thiệt lòng ta khó phân định thời thế ấy là khi nào. Đào Quốc Minh như tạo ra một màn sương mỏng che đi thời gian, chỉ đủ cho người đọc soi thấu câu chuyện của nhân vật. Những nhân vật không trọn vẹn hình hài. Những nhân vật đôi khi không tên, không tuổi. Những nhân vật không rõ còn sống hay đã chết. Và chẳng có xuất xứ nguồn cội lẫn nẻo về cố hương. Tấm màn sương đó vừa hay đủ để mờ ảo hiện ra bên trong là con bé bảy tuổi hay cười và hát những câu đồng dao lạ lùng, mụ ăn mày hôi thối như hủi, gã nhà thơ, ông nhà văn, cô gái hay múa bị dân chúng đánh đến trần trụi, ba thế hệ nhà họ Bản, đứa con không huyết thống nhận nuôi từ những nấm mồ, tên tử tù mang tên là hắn, chú tiểu, cô gái diễn kịch câm, tôi bằng nhiều ngôi kể, và thậm chí chỉ là đôi mắt.

Hệ thống nhân vật như thế, cùng câu chuyện lồng vào văn hóa và trầm tích lịch sử của làng chẳng thể tường minh thế thời nào cả. Cứ vậy, Đào Quốc Minh dắt độc giả đi theo mình, qua từng câu chuyện, cứ hết căn nhà này, đến góc làng nọ, sang thị trấn kia. Vén màn sương lạnh tanh mà đi. Đi trong trầm mặc của cõi kiếp này. Đi như thể đôi mắt càng mở to ra lại càng thấy thân phận con người bé lại. Bé đến nỗi chỉ là tiếng hát trong gió lẽo đẽo bên tai mình. Tôi cũng bị dắt đi như thế, trong mênh mông chuyện người trong một cõi trần đầy lạ lẫm. Từ “Đình làng”, tôi thấy “Thiên thần”, tôi chạm “Nhân gian”, tìm “Kinh văn”, gặp “Chúa trời”, hạnh ngộ “Thời gian” và tôi đắm đuối trong màn sương hư ảo đó mà chẳng tìm thấy lối ra.

3. Tôi khép tập truyện ngắn của Đào Quốc Minh lại khi hoàng hôn võ vàng bên con sông An Sơn, một nhánh rẽ của sông Sài Gòn xuôi về miệt Lái Thiêu. Trong bảng lảng chiều hôm, sự giao thoa nhá nhem của ngày và đêm khiến tôi thấy nội lực văn chương của cây bút 8X này kỳ thực rất đáng để mong đợi những ấn phẩm tiếp theo.

Nói thiệt lòng, Đào Quốc Minh mang đến một thứ văn chương không dễ đọc, thẩm và thấu. Chữ của Minh phải đọc thoát ra, nó không nằm ở phần xác, nó nằm ở phần hồn. Nó quái bởi sự “mượn bóng bắt hình”. Nó buộc người đọc không thể nhàn tản mà thẩm thấu. Phải mông mênh nghĩ ngợi, liên tưởng, rồi vẽ ra trong đầu mình nhiều hình ảnh, tự mình ráp nối lại, và đôi lúc chẳng thể hiểu được mình đoán định thông điệp ấy đúng hay sai. Không thể phân giải. Bởi Minh cứ viết, cứ gieo vào văn chương niệm ý của mình, độc giả cứ tự ngộ ra điều Minh chuyển tải. Mà ngộ không được thì cũng kệ. Sau câu thơ, câu văn ấy, Minh đã đi rồi. Đi vào những cuộc trầm luân nào đấy của cõi kiếp này, cày xới nó lên, nhìn ngẫm, soi căn nó, rồi khảm nó vào tâm trí Minh. Để khi chín muồi cảm xúc, Minh sẽ lại bày biện nó lên trang viết mình. Có lúc là thơ, có lúc là văn xuôi. Minh là thế, tôi biết chẳng thể dừng lại trước những biến chuyển của thời đại, chẳng thể bỏ lơ những bất hạnh của phận người. Văn chương anh chàng này như tiếng chuông gióng lên để thức tỉnh những câu kinh đã tắt từ những thời xa vắng.

Minh gọi lên gì trong thế giới phẳng ngày nay? Văn chương liệu có tắt như tiếng cầu kinh giữa lúc người trẻ đắm mình vào TikTok, Youtube, Facebook…? Văn chương liệu còn bao nhiêu năm nữa để thực sự làm người “thư ký của thời đại”? Và chữ nghĩa liệu có hấp lực hơn những phiên hàng chốt đơn tiền tỉ trên các kênh live? Thơ văn khi nào thoát lên để giá trị của nó chạm đúng vị trí trong đời sống này?

Tôi hỏi vậy, bởi văn chương trẻ ngày hôm nay cần lắm những tấm lòng, dẫu có quái, dẫu có lạ, chính thống hay ngoại biên thì họ như những cây non cần chăm sóc, tắm tưới, khích lệ, lẫn tạo điều kiện, kể cả hướng dẫn để không lạc đường trong bản năng đầy máu lửa. Hãy để văn chương lớn lên, xanh lành, đẹp đẽ và vượt thoát lên trên những lệ xưa cũ càng. Từ văn chương của Đào Quốc Minh, tôi nghĩ đến một thế hệ viết “vẽ niết bàn dang dở đã nhiều năm”. Dĩ nhiên “niết bàn” của văn chương đang nằm trong tay các bạn trẻ, thế hệ khai phóng như Đào Quốc Minh.

Trong buổi chiều bần thần khi đọc xong tập truyện của Đào Quốc Minh, tôi nghĩ nhiều về bài thơ của Minh, bài Mặt trời và ngọn nến: “ta đã đi qua/ bao nhiêu ngọn nến/ để tới được/ mặt trời…/ ta đã đi qua/ bao nhiêu mặt trời/ để trở về là ngọn nến”.

Dù văn hay thơ, tôi nghĩ, Minh cũng dắt độc giả của mình đi từ nỗi buồn ra phía niềm vui, từ hư ảo ra hiện thực. Chí ít đời người ta, cũng còn quá nhiều cơn cớ để sống, như chính câu thơ của Minh: “ngẩng đầu đi qua đời người/ trong cuộc rượu cuối cùng say khướt/ nỗi buồn thõng hai tay trắng/ ngực hồng hoang thơm mãi cánh hoa tươi.” (Lấp lánh địa cầu trong).

TỐNG PHƯỚC BẢO

Tạp chí Sông Lam 4.2026

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *