Nhà thơ, dịch giả Dương Tường: ‘Vật liệu chính của thơ tôi không phải là con chữ mà là con âm’

Vanvn- Như tin đã đưa, nhà thơ – dịch giả Dương Tường sinh năm 1932 ở Nam Định, đã qua đời lúc 20h08 ngày 24.02.2023 tại Hà Nội, hưởng thọ 92 tuổi. Ông là người suốt đời dấn thân cho văn học, có nhiều đóng góp về thi ca và dịch thuật. Tưởng nhớ bậc lão thành đáng kính, xin trân trọng giới thiệu bài viết về ông.

Nhà thơ Dương Tường (chụp 27.01.2008). Ảnh: Nguyễn Đình Toán

>> Vĩnh biệt nhà thơ, dịch giả Dương Tường

 

Hơn nửa thế kỷ cặm cụi với công việc dịch thuật, tên tuổi Dương Tường đã gắn với các tiểu thuyết lớn của văn chương thế giới như: Cuốn theo chiều gió, Đồi gió hú, Anna Karenina, Cội rễ, Người dưng, Alexis Zorba, Bức thư của người đàn bà không quen, Con đường xứ Flandres, Cái trống thiếc, Kafka trên bờ biển, Chết chịu, Lolita… và mới nhất là bản dịch Truyện Kiều sang tiếng Anh của ông khiến dư luận thán phục. Không chỉ thế, ông còn được coi là một nhà thơ cách tân khá thành công.

“Địa đồ đàn” của thơ cách tân

Trong một lần tôi đến thăm Dương Tường tại căn nhà nhỏ yên tĩnh nằm giữa ngõ Phan Huy Chú, Hà Nội, ông nhìn tôi với đôi mắt mờ sương, mệt mỏi như luôn thiếu ngủ dưới cặp kính dầy cộp. Với Dương Tường có lẽ thi ca là điều quan trọng nhất, lần đó, trao đổi với tôi về vấn đề cách tân thơ, ông lặng lẽ lật cho xem từng trang trong tập “thơ ngoài lời” mang tựa đề Đàn được Nhà xuất bản Trẻ ấn hành năm 2003.

Trong tập thơ này, không có sự hiện diện của ngôn ngữ chữ viết, mỗi bài thơ là một bức vẽ, một hình họa, một ký tự chấm phá… mang trong mình một dạng thức biểu đạt mới theo kiểu ngôn ngữ Thơ-thị-giác.

Cho đến trước khi công bố một số tập thơ, Dương Tường đã là một dịch giả văn học rất nổi tiếng. Ông bước vào làng thơ và lập tức gây ra những tranh cãi về một thứ thơ còn xa lạ với dòng thơ chính thống. Nhưng đọc kỹ thơ Dương Tường, mới thấy ông đã chủ động xây dựng một ngữ-hệ-mới trong thi pháp Dương Tuờng nhằm mục đích tối thượng là cách tân trong sáng tạo ngôn ngữ thơ mà bài thơ đề trên mộ chí sau này của ông chỉ duy nhất có một câu “Tôi đứng về phe nước mắt” đã phần nào nói lên điều ấy.

Nhà thơ Dương Tường (phải) và nhạc sĩ Dương Thụ (chụp 24.6.2020). Ảnh: Nguyễn Đình Toán

Bàn về sự cách tân trong thơ mình, Dương Tường từng khẳng định: “Vật liệu chính của thơ tôi không phải là con chữ mà là con âm. Có lẽ điều phân biệt giữa các bạn thơ khác và tôi là ở chỗ họ làm việc ngôn ngữ trên chiều “biểu nghĩa” (signifie) còn tôi làm việc ngôn ngữ trên chiều “năng nghĩa” (significant). Những gì ở thơ họ là “đã” thì ở thơ tôi là “đang”. Nói cách khác, ở thơ các bạn đó là mặt chữ nhìn “thẳng” còn ở tôi là mặt chữ nhìn “nghiêng”. Và nếu như những câu thơ tôi có một nghĩa nào đó thì là do các âm chữ hắt ánh lên thành một thứ cầu vồng trên mặt chữ mà thôi”.

Tôi thấy, trong bài thơ ngắn Chợt Thu sau đây, các âm chữ trong thơ Dương Tường đã ngân vang lên như một thứ “cầu vồng” ngũ sắc trong 5 câu thơ của một bản nhạc mới: “Chiều se sẽ hương/ Vườn se sẽ sương/ Đường se sẽ quạnh/ Trời se sẽ lạnh/ Người se sẽ buồn”.

Và hình như chỉ với 5 câu thơ trong bản nhạc mùa Thu của Dương Tường, ta gặp một thứ âm điệu khác thường, một khúc thức khác thường, một vẻ đẹp khác thường tạo nên một hiệu ứng khác thường cả về mặt thị giác và thính giác.

Có vẻ như Dương Tường – nhà thơ rất tâm đắc với những trang thể nghiệm “thơ ngoài lời” rất độc đáo và đặc biệt này khi ông cho biết, đến nay ở Việt Nam chỉ có ông và nhà thơ Trần Dần đã từng viết kiểu Thơ-thị-giác.

“Trần Dần có 2 cuốn thơ kiểu này, một cuốn là Thơ không lời, còn cuốn kia là Mây không lời, còn tôi là cuốn Đànthơ ngoài lời” – Dương Tường bộc bạch – “Thơ tôi gần với thơ Trần Dần và tôi chịu ảnh hưởng của ông. Nếu nói thơ tôi có khác với Trần Dần thì đúng là có cái khác vì tôi vừa là bạn vừa là học trò của Trần Dần. Những cuộc trao đổi về thị ca với Trần Dần đã mở cho tôi hướng đi mới”.

Dương Tường dẫn chứng: “Ở thời điểm chúng tôi cùng trao đổi với nhau về thơ thị giác, thơ ngoài lời thì những cách tân của Apollinaire (nhà thơ Pháp), của Henri Michaux (nhà thơ Bỉ) về loại thơ này cũng đang được bàn tới trong thi ca thế giới. Lúc đó, tuy chưa tiếp cận được văn bản thơ thị giác, thơ không lời của các nhà thơ này, nhưng Trần Dần và tôi đã mở một cuộc chơi “Thơ vô ngôn”. Đến sau này, khi có được bản in thơ không lời của Henri Michaux, tôi mới thấy các thể nghiệm thơ vô ngôn của Trần Dần và tôi cũng có những nét tương đồng với họ. Vì thơ không chỉ có một cách biểu hiện bằng ngôn ngữ mà còn bằng ký tự và khi nó đến, nó có thể được kết hợp bằng cả hình ảnh và âm thanh, bởi nó là một dạng “siêu ngôn ngữ”.

“Không chịu lùi 1 mi-li-mét trên con đường thi ca cách tân”

Mở cuốn thơ thị giác, thơ ngoài lời Đàn, Dương Tường chỉ cho tôi xem những “Thư đồ thi” của Apollinaire như những hình đồ họa rồi đến loại thơ thị giác xuất hiện ở châu Mỹ. Dương Tường nói với tôi về nguồn cảm hứng dẫn ông đến việc sáng tác tập Đàn xuất phát từ sự ngưỡng mộ đối với một nữ nghệ sĩ dương cầm.

“Tập thơ tất cả chỉ có một chữ Đàn nhưng các rung cảm đưa mình đến. Bài thơ này như một cái gợi lại Hồn bướm mơ tiên nhưng vẫn là những rung động âm nhạc. Còn bài thơ này như một cái Đàn vũ trụ, khi Văn Cao xem bài thơ này, ông đã nhận ra và gọi ngay đây là Vũ trụ Đàn. Cái đàn này, âm nhạc này gợi nhớ đến Bùi Xuân Phái, tôi gọi là Đàn phố. Cái này là tranh Matisse treo ngược…”.

Vào thời gian những năm cuối 60 và đầu 70 của thế kỷ trước, những thử nghiệm về thi ca của các nhà thơ Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Đặng Đình Hưng, Dương Tường… không nơi nào in cả. Nhưng họ vẫn mê mải viết, kiên trì thử nghiệm rồi… chỉ đút vào ngăn kéo, và chỉ khi nào vui thì đưa ra đọc cho anh em bạn bè thân quen nghe trong những lúc “trà dư tửu hậu”. Thời gian gần chục năm ấy, các nhà văn này kiếm sống bằng đi dịch thuê.

Dương Tường kể lại: “Những năm tháng khó khăn ấy, tôi cùng Lê Đạt, Trần Dần, Châu Diên, Nguyễn Xuân Khánh… cứ “lăn lê bò toài” ở trong thư viện theo kiểu “cơm đùm, cơm nắm” suốt ngày ở nơi ấy. Những lúc như thế, nếu có ai đến nhà hỏi thăm chúng tôi thì người nhà đều bảo đến tìm ở mấy thư viện (Thư viện Khoa học xã hội và Thư viện Quốc gia), thể nào cũng gặp chúng tôi loanh quanh ở trong đó. Chúng tôi đến đó không chỉ để dịch sách mà còn để học nữa. Tuy vậy, trong thư viện có những tài liệu chúng tôi không được đọc.

Ngày ấy, chúng tôi không thể sống bằng công việc dịch sách văn chương mà sống bằng việc dịch thuê các tài liệu thông tin khoa học xã hội như phân tâm học, các tác phẩm triết học, các bộ bách khoa toàn thư… để cung cấp thông tin mới cho công tác nghiên cứu của các viện khoa học. Có thể nói, thời điểm khó khăn ấy, tôi đã vắt kiệt mình ra dịch tài liệu để kiếm sống nuôi vợ con và cũng để tự học thêm tại thư viện khi được tiếp xúc với các tác phẩm của những tác giả tiền tiến của thế giới, cập nhật với những cách tân mở đường của các nhà thơ hiện đại nước ngoài như Rimbaud, Mallarmé…”.

Nhận định về thế hệ thi ca mình với những gương mặt thơ như: Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Đặng Đình Hưng… nhà văn Dương Tường cho rằng “Về quan niệm thi ca, thế hệ chúng tôi không chịu lùi một mi-li-mét và không bao giờ nghĩ rằng mình đi sai đường và cái mới luôn ở trước mặt. Và có mọi con đường đi tới cái mới trong thi ca, miễn là mỗi con người sáng tạo phải phát quang con đường để đi tới cái mới. Nhóm chúng tôi đều nghĩ như vậy và mỗi người cứ lầm lũi đi vào thi ca cách tân với cách của riêng mình”.

Giờ này ở tuổi 90, nhà văn Dương Tường đang trong giai đoạn hồi phục sau ca mổ định vị cột sống, mong rằng sức khỏe của ông sẽ tốt dần lên và tiếp tục cống hiến tri thức của mình cho những dự định văn học nghệ thuật mà ông còn ấp ủ với nhiều trăn trở đổi mới.

NGUYỄN VIỆT CHIẾN

Thể Thao & Văn Hóa 4.2.2022

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *