Vanvn- Hector Hugh Munro (1870 – 1916), nổi tiếng hơn dưới bút danh Saki, là một trong những bậc thầy truyện ngắn xuất sắc nhất của văn học Anh thời Edward. Ông được mệnh danh là “bậc thầy của thể loại truyện ngắn châm biếm” nhờ văn phong hóm hỉnh, mỉa mai sắc sảo cùng những cái kết bất ngờ.

Munro sinh ra tại Akyab, Miến Điện (nay là Myanmar), là con trai của một sĩ quan cảnh sát cao cấp Anh. Sau khi mẹ qua đời sớm, ông được gửi về Anh nuôi dưỡng bởi bà nội và các cô ruột – những người vô cùng nghiêm khắc và hà khắc. Trải nghiệm này về sau ảnh hưởng sâu sắc đến cái nhìn cay đắng và châm biếm của ông về giới người lớn.
Trước khi trở thành nhà văn toàn thời gian, Munro từng làm cảnh sát tại Miến Điện nhưng phải giải ngũ vì bệnh tật. Sau đó, ông trở thành phóng viên cho các tờ báo lớn như The Westminster Gazette, Daily Express, và làm phái viên tại Nga, Ba Lan, Pháp. Khi Thế chiến thứ nhất bùng nổ, dù đã 43 tuổi và vượt quá tuổi quy định, Munro vẫn tình nguyện nhập ngũ với tư cách lính binh nhì (từ chối chức vụ sĩ quan). Ông hy sinh tại Pháp năm 1916 do một viên đạn bắn tỉa. Tương truyền, câu nói cuối cùng trước khi mất của ông là: “Tắt cái điếu thuốc quái quỷ đó đi!” (vì sợ ánh lửa làm lộ vị trí cho quân địch).
Bút danh Saki được cho là lấy từ tên người rót rượu trong tập thơ nổi tiếng “Rubaiyat” của Omar Khayyam.
Tác phẩm của ông gồm truyện ngắn và tiểu thuyết. Tiểu thuyết đáng kể nhất của ông là “Khi William Tới” (When William Came), tiểu thuyết viễn tưởng giả định viễn cảnh nước Anh bị Đế quốc Đức xâm lược. Đặc trưng phong cách viết văn của ông là châm biếm và mỉa mai khi ông chĩa ngòi bút vào sự hợm hĩnh, giả tạo và quy chuẩn cứng nhắc của xã hội thượng lưu Anh thời Edward. Truyện của ông luôn có cái kết bất ngờ (twist ending). Tương tự như O. Henry, truyện ngắn của Saki thường khép lại bằng những cú lật ngoạn mục, vừa hài hước vừa đen tối. Giọng văn tàn nhẫn một cách duyên dáng nhờ sự kết hợp giữa óc hóm hỉnh tinh tế và yếu tố kinh dị, rùng rợn nhẹ tạo nên chất hài đen (black comedy) rất riêng.

“Trong khu rừng nhà anh có một con quái thú đấy”, họa sĩ Cunningham nói khi đang được chở ra ga tàu. Đó là câu duy nhất anh ta nói trong suốt chuyến đi, nhưng vì Van Cheele cứ thao thao bất tuyệt suốt đường nên sự im lặng của người bạn đồng hành cũng chẳng mấy ai chú ý.
“Một hai con cáo đi lạc với mấy con chồn đuôi dài thôi. Chẳng có gì đáng sợ hơn đâu”, Van Cheele đáp. Chàng họa sĩ không nói gì thêm.
“Ý anh là sao khi nói về con quái thú ?” Van Cheele hỏi lại sau đó, khi hai người đã đứng trên sân ga.
“Không có gì đâu. Tôi tưởng tượng thôi. Tàu đến rồi kìa”, Cunningham nói.
Chiều hôm đó, Van Cheele lại thực hiện một trong những chuyến đi dạo thường nhật qua khu rừng thuộc sở hữu của mình. Anh có một con chim diệc nhồi bông trong phòng làm việc và biết tên khá nhiều loài hoa dại, thế nên người cô của anh hẳn là có chút lý do để miêu tả anh như một nhà tự nhiên học vĩ đại. Dù sao đi nữa, anh cũng là một người rất thích đi bộ. Thói quen của anh là ghi nhớ trong đầu mọi thứ nhìn thấy lúc đi dạo, không hẳn để đóng góp cho khoa học đương đại mà là để lấy đề tài làm quà chuyện phiếm sau đó. Khi những bông hoa chuông xanh bắt đầu nở, anh luôn cố tình thông báo điều đó với tất cả mọi người; dù thời điểm trong năm thừa sức cảnh báo người nghe về khả năng xảy ra điều đó, nhưng ít nhất họ cũng cảm thấy anh hoàn toàn chân thành với họ.
Tuy nhiên, những gì Van Cheele nhìn thấy vào chiều hôm ấy lại nằm ngoài tầm trải nghiệm thông thường của anh. Trên một mỏm đá nhẵn bóng nhô ra khỏi một vũng nước sâu trong hốc cây sồi, một cậu thiếu niên khoảng mười sáu tuổi đang nằm duỗi dài, tận hưởng cái nắng ấm áp để làm khô thân hình rám nắng ướt đẫm. Mái tóc ướt dính chặt vào đầu vì vừa mới lặn xuống, và đôi mắt màu nâu nhạt – nhạt đến mức có một ánh thép gần như của loài hổ – đang nhìn về phía Van Cheele với sự cảnh giác uể uải. Đó là một sự xuất hiện không ai ngờ tới, và Van Cheele nhận ra mình đang rơi vào một trải nghiệm mới mẻ: phải suy nghĩ trước khi cất lời. Rốt cuộc cái thằng nhóc trông hoang dã này từ đâu chui ra vậy? Vợ ông thợ xay gạo có mất một đứa con khoảng hai tháng trước, nghi là bị dòng nước cối xay cuốn đi, nhưng đó chỉ là một đứa bé sơ sinh chứ đâu phải một gã thiếu niên đang tuổi lớn thế này.
“Cậu đang làm gì ở đó đấy?” Anh cất tiếng hỏi.
“Rõ ràng là đang phơi nắng rồi”, cậu nhóc đáp.
“Cậu sống ở đâu?”
“Ở đây, trong khu rừng này”.
“Cậu không thể sống trong rừng được,” Van Cheele nói.
“Rừng ở đây tuyệt lắm mà”, cậu nhóc trả lời, giọng có chút bề trên.
“Nhưng ban đêm cậu ngủ ở đâu?”
“Tôi không ngủ đêm; đó là lúc tôi bận rộn nhất”.
Van Cheele bắt đầu có cảm giác bực bội như thể mình đang phải vật lộn với một ẩn số cứ liên tục tuột khỏi tầm tay.
“Cậu ăn gì để sống?” Anh hỏi.
“Thịt”, cậu nhóc nói, vặn từng chữ một cách thèm thuồng chậm rãi, như thể đang nhấm nháp nó trong miệng vậy.
“Thịt! Thịt gì cơ?”
“Nếu ông đã tò mò thì đó là thỏ, chim rừng, thỏ rừng, gia cầm, cừu non vào mùa của chúng, và trẻ con mỗi khi tôi bắt được; tụi nó thường bị khóa chặt trong nhà vào ban đêm, lúc tôi đi săn nhiều nhất. Cũng phải tròn hai tháng rồi tôi chưa được cắn miếng thịt trẻ con nào”.
Bỏ qua tính chất bỡn cợt trong câu nói cuối cùng, Van Cheele tìm cách dụ cậu nhóc nói sang chủ đề khả năng có các hoạt động săn bắn trộm.
“Cậu bốc phét hơi quá rồi đấy khi nói đến chuyện ăn thịt thỏ”. (Xét theo tình trạng tắm rửa và ăn mặc của cậu nhóc thì hình ảnh so sánh này e là khó mà phù hợp.) “Thỏ trên đồi nhà chúng tôi không dễ bắt thế đâu”.
“Ban đêm tôi đi săn bằng bốn chân”, câu trả lời có phần bí hiểm.
“Tôi đoán ý cậu là cậu đi săn cùng một con chó?” Van Cheele đánh liều đoán thử.
Cậu nhóc chậm rãi lật ngửa người ra, rồi cất tiếng cười gằn khe khẽ kỳ quặc, nghe vừa dễ chịu như tiếng cười khúc khích, lại vừa khó chịu như tiếng gầm gừ.
“Tôi không nghĩ có con chó nào lại thiết tha đi cùng tôi đâu, nhất là vào ban đêm”.
Van Cheele bắt đầu cảm thấy có điều gì đó thực sự kỳ quái ở đứa trẻ có đôi mắt kỳ dị và cách nói năng khác người này.
“Tôi không thể để cậu ở lại trong khu rừng này được”, anh tuyên bố một cách hách dịch.
“Tôi nghĩ thà ông để tôi ở đây còn hơn là trong nhà ông đấy”, cậu nhóc nói.
Việc hình dung ra cái sinh vật hoang dã, trần trụi này xuất hiện trong ngôi nhà nề nếp, chỉn chu của Van Cheele quả thực là một viễn cảnh đáng báo động.
“Nếu cậu không đi, tôi sẽ buộc phải bắt cậu đi”, Van Cheele dọa.
Cậu nhóc xoay người nhanh như chớp, lao xuống đầm nước, và chỉ trong một khoảnh khắc đã vẩy cái thân hình ướt sũng, óng ánh của mình lên nửa chừng bờ dốc nơi Van Cheele đang đứng. Ở một con rái cá thì động tác đó chẳng có gì đáng chú ý; nhưng ở một đứa trẻ thì Van Cheele lại thấy nó đủ làm anh giật bắn người. Chân anh trượt đi khi vô thức lùi lại, và nhận ra mình gần như đang nằm xoài trên bờ dốc trơn trượt đầy rêu cỏ, và có đôi mắt vàng rực như mắt hổ kia ở cách mặt mình chẳng bao xa. Gần như theo bản năng, anh đưa một tay lên che lấy cổ họng. Cậu nhóc lại cười, một tiếng cười mà tiếng gầm gừ đã gần như lấn gạt hoàn toàn tiếng cười khúc khích, rồi với một chuyển động nhanh như chớp đáng kinh ngạc của mình, cậu ta biến mất hút vào bụi cây cỏ và dương xỉ rậm rạp.
“Đúng là một con thú hoang kỳ lạ!” Van Cheele vừa tự mình gượng dậy vừa thốt lên. Và rồi anh nhớ lại câu nói của Cunningham: “Trong khu rừng nhà anh có một con quái thú đấy”.
Trên đường chậm rãi bước về nhà, Van Cheele bắt đầu xâu chuỗi trong đầu những sự việc xảy ra ở địa phương thời gian qua mà rất có thể xuất phát từ sự tồn tại của chàng trai trẻ hoang dã đáng kinh ngạc này.
Gần đây có cái gì đó đã làm sụt giảm lượng muông thú trong rừng, gia cầm ở các trang trại liên tục bị mất tích, thỏ rừng bỗng nhiên thưa thớt một cách khó hiểu, và anh cũng nhận được những lời phàn nàn về việc cừu non bị tha đi nguyên con khỏi vùng đồi. Liệu có khả năng đứa trẻ hoang dã này thực sự đang đi săn quanh vùng cùng với mấy con chó săn trộm tinh khôn nào đó? Cậu ta đã nói về việc đi săn “bằng bốn chân” vào ban đêm, nhưng rồi cậu ta lại ám chỉ một cách kỳ quặc rằng chẳng có con chó nào dám lại gần cậu ta, “nhất là vào ban đêm”. Đúng là đánh đố người ta.
Và rồi, khi Van Cheele rà soát lại trong đầu những vụ phá hoại đã xảy ra trong một hai tháng qua, anh đột ngột khựng lại, cả bước chân lẫn những suy đoán trong đầu đều đứng khựng. Đứa trẻ mất tích ở cối xay gió hai tháng trước – giả thuyết được mọi người chấp nhận là nó đã ngã xuống dòng nước chảy ở cối xay và bị cuốn đi; thế nhưng người mẹ lại luôn khẳng định bà đã nghe thấy một tiếng thét thất thanh ở phía ngọn đồi sau nhà, ngược lại hoàn toàn với hướng dòng nước. Điều đó dĩ nhiên là vô lý không thể tưởng tượng nổi, nhưng anh chỉ ước sao cậu nhóc kia đừng đưa ra câu nói quái đản về việc ăn thịt trẻ con từ hai tháng trước. Những điều kinh hoàng như thế không nên được thốt ra dù chỉ là để nói giỡn.
Trái ngược với thói quen thường ngày, Van Cheele không hề thấy hứng thú với việc đi khoe khoang về phát hiện của mình trong rừng. Địa vị của anh với tư cách là ủy viên hội đồng giáo xứ kiêm thẩm phán hòa giải dường như bị tổn hại ít nhiều bởi thực tế rằng anh đang che chở cho một kẻ có nhân thân đầy mờ ám như vậy trên đất nhà mình; thậm chí còn có khả năng một hóa đơn bồi thường thiệt hại nặng nề cho số cừu non và gia cầm bị tàn sát sẽ bị nã thẳng vào đầu anh. Trong bữa tối đêm đó, anh im lặng một cách khác thường.
“Tiếng nói của cháu biến đâu mất rồi?” cô anh hỏi. “Người ta lại tưởng cháu vừa mới nhìn thấy một con sói không bằng”.
Van Cheele, người vốn chẳng quen thuộc với thành ngữ cổ này, cho rằng câu nhận xét đó thật ngớ ngẩn; nếu anh mà THỰC SỰ nhìn thấy một con sói trên đất của mình thì chắc chắn anh sẽ thao thao bất tuyệt về chủ đề đó rồi.
Vào bữa sáng sáng hôm sau, Van Cheele nhận ra cảm giác bất an về biến cố ngày hôm qua vẫn chưa hoàn toàn tan biến, và anh quyết định sẽ đi tàu đến thị trấn nhà thờ lân cận, tìm Cunningham để hỏi cho ra lẽ xem anh ta đã thực sự nhìn thấy điều gì mà lại thốt ra câu nói về con dã thú trong rừng. Khi đã đưa ra quyết định này, sự vui vẻ thường ngày của anh mới hồi phục được một phần, và anh cất tiếng ngân nga một giai điệu nho nhỏ tươi vui trong lúc thong thả bước vào phòng tiếp khách sáng để hút điếu thuốc như lệ thường. Thế nhưng vừa bước vào phòng, giai điệu ấy đã lập tức nhường chỗ cho một lời cầu nguyện thành kính. Đang nằm duỗi dài một cách duyên dáng trên chiếc ghế nệm dài, trong một tư thế thư thái đến mức gần như thái quá, chính là cậu trai trẻ trong rừng. Cậu nhóc trông khô ráo hơn lần cuối Van Cheele gặp, nhưng diện mạo trang phục thì chẳng có thêm bất kỳ sự thay đổi nào.
“Sao cậu dám mò vào đây?” Van Cheele giận dữ hỏi.
“Ông bảo tôi không được ở lại trong rừng mà”, cậu nhóc thản nhiên đáp.
“Nhưng không phải là mò vào đây. Giả sử cô tôi mà nhìn thấy cậu thì sao!”
Và nhằm giảm thiểu tối đa thảm họa đó, Van Cheele vội vã lấy tờ Morning Post[1] che chắn càng nhiều phần cơ thể của vị khách không mời này càng tốt. Đúng lúc đó, cô của anh bước vào phòng.
“Đây là một đứa trẻ tội nghiệp bị lạc đường—và bị mất trí nhớ. Nó không biết mình là ai hay từ đâu đến”, Van Cheele tuyệt vọng giải thích, liếc nhìn đầy lo ngại vào mặt đứa trẻ lang thang xem liệu nó có định bồi thêm sự thật thà vô duyên vào những bản tính hoang dã khác của mình hay không.
Cô Van Cheele ngay lập tức cảm thấy vô cùng hứng thú.
“Có lẽ quần áo lót của nó có đánh dấu tên đấy”, bà gợi ý.
“Nó có vẻ cũng đánh mất hầu hết mấy thứ đó rồi”, Van Cheele vừa nói vừa cuống quýt giật giật tờ Morning Post để giữ nó đúng vị trí.

Một cậu nhóc trần truồng không nơi nương tựa có sức thu hút và lay động cảm xúc với cô Van Cheele chẳng kém gì một chú mèo con đi lạc hay một chú chó con bị bỏ rơi.
“Chúng ta phải làm tất cả những gì có thể cho thằng bé”, bà quyết định, và chỉ trong một thời gian ngắn, một người đưa tin được phái đến nhà mục sư – nơi có nuôi một cậu bé phụ việc – đã trở về với một bộ quần áo gia nhân, cùng các phụ kiện cần thiết như áo sơ mi, giày, cổ áo v.v. Dù đã được mặc quần áo, tắm rửa sạch sẽ và chải chuốt chỉn chu, cậu nhóc vẫn chẳng mất đi chút nào sự kỳ quái trong mắt Van Cheele, nhưng cô của anh thì lại thấy cậu thật dễ thương.
“Chúng ta phải gọi nó bằng một cái tên nào đó cho đến khi biết nó thực sự là ai”, bà nói. “Gabriel-Ernest, cô nghĩ vậy; đó là hai cái tên rất hay và phù hợp”.
Van Cheele đồng ý, nhưng trong thâm tâm anh nghi ngờ liệu những cái tên đó có đang được gắn cho một đứa trẻ ngoan ngoãn, tử tế hay không. Sự ngờ vực của anh chẳng hề giảm bớt trước thực tế rằng con chó săn spaniel[2] đứng đắn, già nua của anh đã lao vọt ra khỏi nhà ngay từ lần đầu tiên cậu nhóc bước vào, và giờ đây kiên quyết nằm run rẩy rồi sủa đổng ở góc xa nhất của vườn cây ăn quả; trong khi con chim hoàng yến – vốn thường ngày siêng năng hót hót chẳng kém gì bản tính nói lắm của chính Van Cheele – nay tự đưa mình vào chế độ chỉ dám cất lên những tiếng “chíp chíp” sợ hãi. Hơn bao giờ hết, anh quyết tâm phải tham khảo ý kiến của Cunningham mà không được lãng phí chút thời gian nào.
Khi anh đánh xe ra ga tàu, cô anh đang sắp xếp để Gabriel-Ernest giúp bà tiếp đón các thành viên nhí trong lớp học Chủ Nhật của bà đến dùng trà vào chiều hôm đó.
Cunningham ban đầu không có ý định cởi mở chia sẻ.
“Mẹ tôi mất vì một chứng bệnh về não”, anh ta giải thích, “vì vậy anh sẽ hiểu tại sao tôi lại rất ngại chìm đắm vào bất kỳ điều gì mang tính hoang đường không thể tin nổi mà tôi có thể đã thấy hoặc nghĩ rằng mình đã thấy”.
“Nhưng anh ĐÃ nhìn thấy gì?” Van Cheele gặng hỏi đến cùng.
“Những gì tôi nghĩ mình đã thấy là một điều phi thường đến nỗi không một người tỉnh táo nào có thể tin đó là chuyện có thật. Tối hôm cuối cùng tôi ở bên bạn, tôi đứng nép mình trong bụi cây cạnh cổng vườn, ngắm nhìn ánh hoàng hôn đang phai lạt. Đột nhiên tôi nhận ra một cậu bé trần truồng, tôi đoán là một người tắm sông từ đầm nước gần đó, đang đứng trên sườn đồi trọc cũng ngắm hoàng hôn. Tư thế của cậu ta gợi nhớ đến một thần rừng hoang dã trong thần thoại dị giáo đến mức tôi ngay lập tức muốn thuê cậu ta làm mẫu ảnh, và tôi nghĩ chỉ một khoảnh khắc nữa thôi là mình đã cất tiếng gọi cậu ta rồi. Nhưng ngay lúc đó mặt trời khuất bóng, và toàn bộ sắc cam lẫn hồng trôi tuột khỏi cảnh vật, để lại không gian lạnh lẽo và xám xịt. Và cũng chính vào khoảnh khắc đó, một điều kinh hoàng đã xảy ra – cậu bé cũng biến mất!”
“Cái gì! Biến mất vào không trung không dấu vết sao?” Van Cheele hỏi đầy phấn khích.
“Không; đó mới là phần đáng sợ của câu chuyện,” chàng họa sĩ trả lời; “trên sườn đồi trống trải nơi cậu bé vừa đứng cách đó một giây, nay là một con sói lớn, lông màu đen sẫm, với hàm răng nanh sáng loáng và đôi mắt vàng hung dữ. Cậu có thể nghĩ – ”
Nhưng Van Cheele chẳng hề dừng lại vì một điều vô bổ như bất cứ một suy nghĩ nào vào lúc này. Anh đã lao đi vội vã với tốc độ tối đa về phía ga tàu. Anh gạt bỏ ý định gửi một bức điện tín. Câu “Gabriel-Ernest là người sói” là một nỗ lực hoàn toàn không đủ để truyền đạt tình hình thế này, và bà cô của anh sẽ nghĩ đó là một thông điệp mật mã mà anh đã quên không đưa cho bà chìa khóa giải mã. Hy vọng duy nhất của anh là có thể về đến nhà trước khi mặt trời lặn. Chiếc xe ngựa mà anh thuê ở ga cuối chuyến hành trình bằng đường sắt thì chở anh đi với tốc độ chậm chạp đến phát điên dọc theo những con đường quê đang ửng lên sắc hồng và tím mộng mơ dưới ánh mặt trời đang lặn. Cô anh đang cất đi một ít mứt và bánh ngọt còn dở khi anh về đến nơi.
“Gabriel-Ernest đâu rồi?” Anh gần như gào lên.
“Nó đang đưa đứa con nhỏ nhà Toop về nhà,” cô anh nói. “Trời bắt đầu tối rồi, cô nghĩ để cho đứa bé tự đi về một mình thì không an toàn. Hoàng hôn đẹp quá, phải không cháu?”
Nhưng Van Cheele, dù không hề thờ ơ trước ánh sáng rực rỡ trên bầu trời phía tây, đã không nán lại để bàn luận về vẻ đẹp của nó. Với tốc độ mà anh hầu như không đủ sức cáng đáng, anh lao cuống cuồng dọc theo con đường hẻm nhỏ dẫn đến nhà gia đình Toop. Một bên đường là dòng nước chảy xiết của dòng suối chạy cối xay, bên kia là sườn đồi trọc trơ trụi trải dài. Vầng mặt trời đỏ rực chỉ còn lại một viền mỏng dính trên đường chân trời, và khúc ngoặt tiếp theo hẳn sẽ đưa anh đến trước tầm mắt của cặp đôi khập khiễng mà anh đang đuổi theo. Rồi màu sắc đột ngột biến mất khỏi cảnh vật, và một ánh sáng xám xịt rủ xuống cùng một cơn rùng mình nhanh chóng bao trùm lên không gian. Van Cheele nghe thấy một tiếng khóc thét thất thanh vì sợ hãi, và anh dừng chạy.
Không ai còn nhìn thấy bất kỳ dấu vết nào của đứa trẻ nhà Toop hay Gabriel-Ernest nữa, nhưng quần áo bị vứt bỏ của gã trai sau đó được tìm thấy bỏ lại trên đường, thế nên người ta cho rằng đứa trẻ đã ngã xuống nước, và gã trai đã cởi quần áo nhảy xuống trong nỗ lực vô vọng nhằm cứu lấy đứa trẻ. Van Cheele và một vài người thợ làm việc gần đó vào thời điểm ấy chứng minh rằng họ có nghe thấy tiếng một đứa trẻ gào thét dữ dội ngay gần nơi tìm thấy bộ quần áo. Bà Toop, người còn có mười một đứa con khác, đành ngậm ngùi chấp nhận mất mát của mình, nhưng cô của Van Cheele thì chân thành thương tiếc đứa con nuôi bị mất tích của mình. Chính theo ý nguyện của bà, một tấm bảng tưởng niệm bằng đồng đã được dựng lên trong nhà thờ giáo xứ dành cho “Gabriel-Ernest, một chàng trai vô danh, người đã dũng cảm hy sinh mạng sống của mình vì người khác”.
Van Cheele thường nhượng nhịn cô mình trong hầu hết mọi chuyện, nhưng anh thẳng thừng từ chối quyên góp tiền cho tấm bảng tưởng niệm Gabriel-Ernest.
HECTOR HUGH MUNRO
NGUYỄN VĂN CHIẾN dịch
Theo nguyên tác tiếng Anh
____________________
[1] Morning Post: Một tờ báo hàng ngày nổi tiếng theo khuynh hướng bảo thủ, được xuất bản tại Luân Đôn từ năm 1772 đến năm 1937.Trước khi được mua lại và sáp nhập vào tờ The Daily Telegraph , tờ báo này do John Bell sáng lập và từng là tiếng nói quan trọng của giới thượng lưu Anh và hoàng gia. (ND)
[2] Chó Spaniel: Tên một nhóm các giống chó tai dài, lông rậm có xuất xứ từ Tây Ban Nha và thường thuộc nhóm chó săn. (ND)















