Điệp khúc cỏ trong thơ Lê Thành Nghị

Vanvn- Đọc thơ Lê Thành Nghị, tôi nhận ra “điệp khúc cỏ” như là một hình tượng. Thật nhỏ nhoi giữa muôn loài, nhưng cỏ không dễ gì bị chìm khuất, bởi sức dẻo dai hiếm thấy. Chọn cỏ và đưa cỏ vào thơ với mật độ dày, Lê Thành Nghị như đang kiếm tìm “cái vô hạn” trong đó, vừa khiêm nhường vừa kiên cường giữa mông mênh trời đất. 

Nhà thơ Lê Thành Nghị

Từng vạt mướt xanh, từng nhành, từng cọng, cỏ tắm nắng trời, cỏ rung rinh trong gió, cỏ ngậm sương, cỏ chẳng biết đau dẫu những bàn chân dẫm đè lên cỏ. Cỏ trải qua bốn mùa hiên ngang dông bão. Cỏ là nơi cuối cùng cố nhân gửi gắm. Dường như cỏ là thành phần không thể thiếu/vắng trong thơ Lê Thành Nghị. Cỏ tạo nên điệp khúc tâm trạng bốn mùa vạn vật đổi thay, tình người chan chứa. Điệp khúc cỏ để lại dư ba day dứt khi chạm những câu thơ hồn vía:

Có những câu thơ dù thiêu cũng không thể cháy

Như thể lửa càng to, thảm cỏ mọc càng dầy    

(Thi sỹ)

Mật độ “cỏ” trong thơ Lê Thành Nghị quả thật rất dày. Ở bất kỳ vị trí quan sát nào, tâm trạng người thơ đều có góc nhìn phóng chiếu, quy nạp về với cỏ, cảm nhận tầm vóc của loài thân thảo thấp bé “nhoài” sát mặt đất, mà sức sống luôn báo hiệu những đổi thay có tính bản lề trong thiên nhiên, kích thích tính nhạy cảm của con người. Có một lời thề âm ỉ dọc cuộc đời, từ “Thuở nằm chơi trên cỏ” cho tới “Giờ sắp nằm dưới cỏ” mà không sao/không thể thực hiện được việc “đánh cắp của thượng đế một ngôi sao” để tặng người con gái. Sự không thành ấy, tất nhiên là thế, thể hiện trong bài thơ vỏn vẹn hai mươi bảy từ, phân phối không đều ở bốn câu (câu thứ hai mười hai từ), mà sao cấu thành nên một tứ thơ, biểu hiện sự ăn năn, dằn vặt mãi không thôi. Bởi, như chính câu thơ đầu tiên trong bài Lời thề, nhà thơ xác định, cỏ đã ám ảnh ông từ thuở hoa niên, cái tuổi hồn nhiên duỗi mình trên cỏ mà mộng với mơ. Hơn thế, cỏ là tác nhân để ông về với mẹ:

Lá rụng ngày đi như cuốn gió

Dế kêu tê dại cỏ trong vườn

Ai về tát cạn ao phiền muộn

Để mẹ thôi buồn, thôi ngóng trông

Cái “ao phiền muộn” ấy kết nối hai nỗi nhớ, của người mẹ nhớ con và của người con không nguôi ngoai nhớ mẹ, thành một sợi dây nghĩa tình mẫu tử. Chưa dừng lại ở đấy, sợi dây tiếp tục đan thành tấm lưới quan hệ đa chiều giữa cha và con, giữa mẹ và con, giữa cha và mẹ, giữa người và cảnh, giữa cảnh và cảnh, giữa động và tĩnh, giữa thực tại và quá khứ. Nhà thơ viết:

Mẹ mất rồi… rau má mọc vườn hoang

Khoai lang bò ruộng nhà, bè rau ngoi nước nổi

Tháng ba nắng, xanh xao xóm đói

Cha một mình lặn lội nuôi con  

(Cha tôi)

(Gọi là “rau” vì người ta nấu canh để ăn, giã ra lấy nước để uống, chứ rau má cũng là một loài cỏ, dẻo dai như bao loài cỏ hoang dại khác). Những câu thơ hoạ nên một bức tranh hài hoà màu sắc và đường nét trong bố cục có chiều sâu ngẫm suy.

“Cỏ” trở thành ký ức, theo nhà thơ đi khắp mọi miền quê hương của Tổ quốc và vượt qua biên giới. “Cỏ ký ức” không chỉ để tác giả hoài niệm, mà tiếp sức cho nhà thơ chiêm nghiệm trên mỗi chặng đường, ở mỗi nơi dừng chân. Đường lên Chùa Đồng Yên Tử, nơi “Tiếng chuông tê buốt suốt mùa thu”, khiến nhà thơ

Ta về ngơ ngẩn cùng tre trúc

Kìa lối vào mây đến cửa thiền

(Yên Tử)

thì khi ngước nhìn hòn Vọng Phu trong khung cảnh “Lá vàng dặm cỏ/ Mây cuốn chân trời”, nhà thơ nghiệm ra rằng

Hình như không thể mềm hơn được nữa

Em hoá thành yên lặng giữa mưa bay

(Cánh buồm đỏ thắm)

Và, khi lên Xứ Lạng, một điều chiêm nghiệm khác

Anh vẫn biết, mềm không riêng gì nước

Thế nghĩa là núi cũng phải trôi thôi

Em từ thuở với đá ngầm ở lại

Giấu nỗi buồn trong suốt chảy trăm năm

(Trong suốt sông Kỳ Cùng)

Sự “mềm” và sự “cứng” ấy, tất cả đều hoá thân vào cỏ với sức sống tiềm ẩn, với sự tinh khiết lan trên bề mặt đất, tới mọi miền quê.

Có gì như… vạt cỏ nắng lên

Như nàng tiên lung linh hiện từ đáy chén

Ôi quê hương!

Chỉ có thể quỳ trước quê hương

Như quỳ trước những gì tinh khiết nhất!

(Rượu quê)

Giữa hội thơ, sinh hoạt thơ, người thơ nhận thấy “cái ác” sẽ phủ lên kéo dài bóng tối và tin rằng

Những ồn ào, những hoả mù phù vân

Và cái ác sẽ hoá thành tro bụi!

và khẳng định

Thời gian sẽ đến tìm sau đám cháy

Những gì không thể cháy mà thôi!

(Thi đàn)

Đó thái độ dứt khoát của nhà thơ. Cũng như khi tưởng nhớ Xuân Diệu, Lê Thành Nghị chân thật đến sắt se:

Này con chim đến từ núi lạ

Đừng thả những câu thơ vàng xuống thảm cỏ xanh

Tôi lo những người đến sau nhặt lá

Vô tình đụng phải thơ anh!

bởi

bởi

Trong tay kẻ đê hèn thơ anh đồng loã với bóng đêm vụng trộm

(Vội vàng lên với chứ)

Lê Thành Nghị viết:

Bờ muốn anh hoá cỏ tím chờ sông

Mà quên không buộc gió!

(Dự định)

Đó không phải niềm tiếc nuối, mà là nhận chân cuộc đời trong biến thiên của quy luật, những quy luật khắt khe, ràng buộc, bởi chỉ đi tới giác ngộ con người mới tìm được cách tồn tại trong đó. Ngẫm về mẹ là một giác ngộ:

Sớm muộn rồi ai cũng sẽ trở về với mẹ

Cho dù mẹ ta ra đi khi còn rất trẻ

Người mang theo những mùa tóc xanh vào biếc cỏ

Thôi kệ những thành bại, sang hèn, buồn vui, sướng khổ

Ta sẽ bay như mẹ giữa mây cao!

(Mẹ trên cao)

Đã là giác ngộ thì uỷ mị, đớn hèn, bi luỵ không có chỗ chen chân. Bởi, như những chú dế kia

Vui thì hát mà buồn cũng hát

Khi bờ sông cỏ tím đã vào thu

(Bờ sông tiếng dế)

như cây bàng nọ

Những chiếc lá mùa thu sẽ viết

Sẽ đọc thầm trong cỏ suốt mùa thu

(Ký ức mùa thu Hà Nội)

như dọc dòng suối

Cỏ bên bờ mơ mộng mọc lên

Hoa thơm ngát hình như vì nước chảy

(Nhớ suối tận nguồn)

và ngay cả bản thân

Ta về làm đất chờ hạt xuống

Hoá những cánh diều bay trăng

(Mùa thu đến rồi đi)

Như nhiều câu thơ khác, những câu thơ này người thơ như đắm mình vào bản hoà tấu của cuộc đời, lắng nghe hợp âm chủ của thiên nhiên dẫn dắt con người lên nốt cao nhất và luyến xuống cung bậc trầm trong nhịp điệu không gian và thời gian, vừa xác định vừa vô định.

Ai xui mặt trời xuống vội

Trai gái đưa nhau về miền cỏ dại

(Nắng của ngày đã mất)

Cái thực, cái hư của lãng mạn, của xa xót náu ngay ở tên bài thơ – cái gì đã mất: “nắng của ngày” hay riêng “ngày” mà thôi (?); và, cái “dại” nơi cỏ hay ở hành động của người (?); tất cả đều có thể. Nhà thơ cảnh báo cô gái (em) đừng dẫm lên cỏ và

Đừng ghen thầm với cỏ

Em xanh được mấy mùa?

(Trong cỏ)

Đó không chỉ là thực tế mà là quy luật muôn đời, dẫu phải nói lời cay đắng. Với hoa cũng vậy

Loài hoa đêm, loài hoa… làm đêm lạ

Vô hạn xa – nhưng cũng – vô hạn gần

(Mùa hoàng lan)

Cuộc sống muôn loài ở cõi vô thường là vậy

Nước cứ chảy giữa hai bờ hư thực

Nối âm với dương, nối đêm với ngày

(Dưới chân cầu)

Cái hữu hạn đời người trong cái vô hạn của tạo hoá khiến người ta cảm thấy chật chội, hờn dỗi vì tưởng bị lãng quên. Nhưng, cỏ nhắc người:

Vô hạn những triền sông, ngút ngát những chân đê

Một nền xanh dưới chân mây… là cỏ

Em nhớ không dưới nền xanh lặng đó

Nhân loại ngủ im lìm

(Trong cỏ)

Đấy là sự thật, người thơ không phát hiện sự thật ấy, mà thức nhận, mà giác ngộ để cùng nhau sống tốt hơn, hướng thiện nhiều hơn. Qua câu chữ, vốn từ, nhà thơ góp phần nhận thức cái đẹp đầy đủ hơn, gần bản chất hơn, từ đó nâng dần giá trị thẩm mỹ của thơ. Ngày nay có thể sự tiếp nhận thơ không liền mạch, song người yêu thơ không có lý do nào quay lưng lại với thơ, ngược lại luôn trông chờ được thưởng thức những bài thơ “đúng thơ”, “đầy chất thơ”. Sự lựa chọn của công chúng yêu thơ luôn là động lực cho thơ không ngừng đổi mới. Cánh đồng thơ đang ấp ủ những thửa ruộng hứa hẹn năng suất cao, chất lượng với thương hiệu mới. Bởi:

Bờ cỏ mực mùa thu gom hết tím

Cát không tin, cát vẫn lặng yên chờ

(Cát vẫn lặng yên chờ)

“Cỏ” trong thơ Lê Thành Nghị như một hình tượng để nhận biết cái hay, cái đẹp, cái nhịp điệu luân chuyển không ngừng trong bản chất thực của quan hệ giữa con người và thiên nhiên. Từ “nhịp điệu cỏ” biến tấu sang nhịp điệu hoa, lá, gió, trăng…, để tạo nên những phức điệu của âm thanh gọi màu sắc lên hương:

Giã từ mùa hạ sang thu

Trời xanh như ngọc, bãi bờ như mây

Người đi – gió sóng đôi bay

Nắng xanh nhẹ, con đường đầy tiếng chim

(Sang thu)

Mùa thu như điểm hẹn, nhắc nhớ mỗi người dừng chân sau chặng đường dài, nhìn trời cao xanh thẳm mà đón nhận không khí mát rượi, mà ngắm mây thung dung ngả trắng trong ánh nắng vàng như mật, để rồi dưới trăng sao vằng vặc mà ngẫm, mà chắt lại những lắng đọng thâm trầm của cuộc đời.

Ôi nghìn năm trước ta

Và một nghìn năm tới

Sông vẫn thì thầm điềm tĩnh chảy giữa bờ ngô

(Sông Nghèn gặp lại)

Sau bão táp rất cần sự điềm tĩnh để tiếp tục xông pha vào bão táp phía trước mà vững tin

Chính tuyết làm run rẩy cả không gian

Sông ào ạt trong mùa băng vỡ

Cây ngày mai sẽ xanh kín lá

Thảm cỏ nhung lộng lẫy nắng bên đường

(Matxcơva, mùa tuyết tan)

Trong “điệp khúc cỏ”, sự “xuống” của mưa, của lá, của mùa, như những “nốt chấm dôi” (trong nhạc), làm tăng độ ngân nga của nhịp

Trời đang xanh, nắng đang trưa

Bỗng dưng xuống một cơn mưa rửa đền

(Về Phong Châu)

Từ “xuống” thật đắc địa, riêng nó tạo một nhịp, nhấn mạnh tiết tấu câu thơ thêm chắc và có độ rung trong cấu trúc 2-1-3-2; khác với nhóm ba từ “mùa lá xuống” tạo nhịp và tiết tấu mềm hơn, như ở những câu thơ dưới đây:

Bên kia mùa lá xuống gió theo về

Thoáng hư vô lướt trên nền lá thực

Tầu đến sân ga, ta về mùa lá xuống

Nhớ khôn nguôi hoa thuở ban đầu

(Hoa thuở ban đầu)

Nhà thơ tránh không dùng hình ảnh ra đi mất hút của từ “rơi” hoặc “rụng”, mà dùng từ “xuống” nhằm kích thích tâm trạng hướng tới sự hoà nhập (hay sự dịch biến) của sự vật này vào sự vật khác, tạo nên hình ảnh mới. Đó chính là ý tại ngôn ngoại trong thơ.

Ngay cả trong bài thơ văn xuôi Mưa trong thành phố, thủ pháp này cũng được Lê Thành Nghị sử dụng triệt để:

Chẳng có gì tươi hơn được cỏ/…/ Ta chỉ là hạt mưa xuống đất. Như Ngàn Hống đêm đêm tự đốt mình làm đuốc. Sưởi ấm ta bằng những trận cháy rừng. Hãy thử góp nghìn cơn mưa lớn. Dập trong ký ức ta những trận cháy rừng.

Bài thơ có ấn tượng. Song, phải chăng là hợp lý khi xếp bài thơ vào thể thơ văn xuôi? Những dấu chấm (.) đã nói rằng, “duỗi” các câu thơ ra, ý và tứ của bài thơ vẫn không có gì thay đổi, chỉ có độ dài là tăng lên.

Tôi rất ấn tượng bài Bốn bông hồng bất hạnh của Lê Thành Nghị. Nói “điệp khúc cỏ” là nói “tính điệp khúc” trong Thơ Lê Thành Nghị. Còn điệp khúc một bài là điệp khúc trong Bốn bông hồng bất hạnh. Bài thơ này tác giả chia thành bốn đoạn (1-2-3-4), mỗi đoạn bốn câu và đều có 34 từ, thì ba đoạn 2-3-4 điệp lại đoạn 1:

Tôi lật tìm thời gian sau những lớp bụi thời gian

Và gặp một bông hồng đã khô trong sách

Thế đấy! Đôi khi hương thơm và sắc đẹp

Ngủ vùi bên những câu thơ!

Ở ba đoạn tiếp sau, câu thứ tư có thay đổi một số từ, nếu đoạn 1: “Ngủ vùi bên…”, thì đoạn 2 là “Bị chôn vùi bởi…”, đoạn 3: “Ngủ quên cùng…”, đoạn 4: “Chết cùng với…”; ở đầu câu hai của mỗi đoạn chỉ là sự “thay thế” từ: “và-lại-và-và”. Sự lặp lại hầu như toàn bài thơ và sự thay đổi từ ở câu thứ tư mỗi đoạn, có chủ đích, toát lên tâm trạng của tác giả trước nỗi bất hạnh song trùng của hoa và thơ trong sự tăng tiến, mà cũng là phản ánh thực trạng/tình trạng của thơ trong đời sống kinh tế thị trường với những tác động theo hướng tỉ lệ nghịch. Tâm trạng ấy là có thực và phổ biến trong bối cảnh hiện nay. Nhưng đó không phải là tâm trạng bi quan.

Thơ đẹp như hoa. Nhưng hoa chỉ đẹp dưới ánh mặt trời. Thơ cũng chỉ đẹp trong cuộc sống, được cuộc sống cưu mang, nâng đỡ. Chính cuộc sống khiến

Ta nhận ra hai bờ xanh đến thế

Và nụ hoa trong cỏ tím dường kia!

(Sông Nghèn gặp lại)

Người đi – gió sóng đôi bay

Nắng xanh nhẹ, con đường đầy tiếng chim

(Sang thu)

Trực giác của nhà thơ là vậy. Dẫu gian truân, người thơ mang hồn thơ thổi bay khó nhọc, lấp đầy khổ đau.

Sau cơn mưa hoa sữa xuống bên đường

Hoa thả xuống một ngày thăm thẳm nắng

Người đi đâu để thềm hun hút vắng

Nàng đi đâu để lại một hồ sương

(Chiều Hồ Tây)

Bài thơ bốn câu đem đến tâm trạng bâng khuâng trước vẻ đẹp dịu dàng, thuần khiết của cảnh và người, nhất là câu kết.

Thơ Lê Thành Nghị có thể trích dẫn rất nhiều câu thơ hay, câu thơ đẹp. Ông là nhà thơ tài hoa. Ông giấu cái tài hoa ấy trong những câu thơ trầm tĩnh, nhưng xao động ở nhịp khoan thai, ở độ rung của sự nhạy cảm. Đọc thơ Lê Thành Nghị, tôi nhận ra “điệp khúc cỏ” như là một hình tượng. Thật nhỏ nhoi giữa muôn loài, nhưng cỏ không dễ gì bị chìm khuất, bởi sức dẻo dai hiếm thấy. Chọn cỏ và đưa cỏ vào thơ với mật độ dày, Lê Thành Nghị như đang kiếm tìm “cái vô hạn” trong đó, vừa khiêm nhường vừa kiên cường giữa mông mênh trời đất.

Có những câu thơ dù thiêu cũng không thể cháy

Như thể lửa càng to, thảm cỏ mọc càng dầy

Là thi sỹ, Lê Thành Nghị đã có những câu thơ đằm sâu ngẫm suy như vậy.

Tháng 5-2022

CAO NGỌC THẮNG

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.