Tiếng cười mùa xuân – Truyện ngắn Lê Hứa Huyền Trân

Vanvn- Xóm lao động nghèo không có dư dả để mỗi nhà sắm được một nồi bánh, nên như truyền thống mỗi năm sẽ luân phiên một nhà nấu, các loại nguyên liệu như gạo nếp, thịt thà sẽ được cả xóm góp mua chung, sau đó sẽ cùng đưa về một nhà, nấu một nồi lớn, đến khi bánh chín sẽ bắt đầu chia mỗi nhà ít nhất một đòn. Tuy ít nhưng kì thực là ăn lấy vị mà thôi vì cảm giác khi quây quần cả xóm cùng nhau và cùng chia sẻ dư vị Tết mới là thứ thức ăn ngon và thuần tuý nhất.

Nhà văn trẻ Lê Hứa Huyền Trân ở Quy Nhơn nay thuộc tỉnh Gia Lai 

Nhìn thấy cô chủ trọ đương đồ xôi với nước quả gấc để tạo màu đỏ rồi thấy rổ dành dành bên cạnh tôi chợt nhận ra một cảm giác thân quen. Quả dành dành sau đó cũng được cô chưng lấy nước rồi tiếp tục đồ xôi để tạo một màu vàng bắt mắt quen thuộc. Vừa nhác thấy bóng tôi, cô chủ trọ nháy mắt:

– Cũng đến từ Thái Bình, có nhận ra cô định làm món gì không?

Tôi hơi khựng người và bất chợt reo vui:

– Bánh cáy!

Làm cô bật cười đầy hào sảng. Phải xa quê rất lâu rồi tôi mới có cảm giác nghe lại được cái tên của món bánh truyền thống quê nhà, gợi lên một nỗi niềm nhớ quê tha thiết, vừa cảm thấy thèm món bánh cáy vốn đã gắn bó từ lâu với tuổi thơ tôi.

Khi còn ở quê, cứ mỗi độ xuân sang bà làm bánh cáy là lũ nhóc chúng tôi thường vây quanh để xem vì món bánh tuổi thơ ấy là thứ ăn vặt rất ngon và cũng vì vẻ ngoài bắt mắt của nó. Sau khi đồ xôi với gấc và quả dành dành để tạo thứ sắc màu đỏ vàng thì tôi thường giúp bà trộn chúng lại với nhau sau đó giã nhuyễn. Mỗi lần bà làm bánh cáy thường làm rất nhiều vì con cháu trong nhà rất đông, thường đến dịp lễ nào đó hoặc cúng lớn bà mới làm. Xôi sau khi mềm mịn, cán bột sẽ được xắt lát nhỏ rồi đem đi phơi khô. Làm số lượng lớn nhưng để phơi khô phải được xắt lát cẩn thận vì thế ngày đó khoảnh sân rộng trước nhà bà tôi đều đầy những rổ nia để từng lát xôi mềm mịn trên đó kín cả sân, cứ như mỗi bận bà phơi chuối làm chuối sấy.

Cho đến khi ước chừng đã đến lúc, bà sẽ đem mỡ lợn xào cùng với phần bánh đã sấy khô, lúc đó bếp nhà tôi khói đùn lên cùng với hương bánh phảng phất cả khu nhà. Để bánh có hình dáng đẹp và bánh dẻo thơm, ăn chắc thì sau đó phải trộn với nước đường để trong một cái âu lớn, cuối cùng là đổ ra khuôn, nén chặt và cắt ra thành từng miếng nhỏ vừa ăn. Khi mẻ bánh đầu tiên thành hình lũ chúng tôi thường tranh nhau ăn và thể nào cũng bị bà rầy:

– Cha bố mi, còn phải nén với vừng, đậu phộng và thêm ít tinh dầu bưởi nữa. Phải khi chúng tôi vì quá thèm thuồng muốn bỏ qua công đoạn thì bà mới lại mắng vì như thế mất hết cả vị ngon. Bà vẫn thường làm hai loại, một loại có nhiều gừng để dành cho người lớn, còn lũ nhóc chúng tôi thường chuộng vừng với mứt dừa.

Tôi đi xa quê kể từ khi học đại học sau đó bươn chải với đời vào tận trong nam kiếm kế sinh nhai. Cũng không nhớ đã bao lâu không về lại quê xưa, thèm vô cùng những món bánh tuổi thơ nhưng hiếm hoi có dịp ăn lại. Cô chủ trọ cũng người cùng quê, cũng lâu rồi không làm hương vị quê nhà đột nhiên lại có hứng làm vô tình khơi dậy nỗi nhớ của những người xa quê cùng cảnh ngộ. Cứ mùa xuân là nhà cô trước hay làm thức bánh này uống kèm với trà xanh. Miền Bắc có những đợt rét lạnh đến độ âm, chén trà xanh hơi chát nóng hổi ăn cùng với miếng bánh ấm nồng hương vị gừng làm cả người trở nên thoải mái, ấm nóng chống chọi với thời tiết khắc nghiệt của thời gian.

Ăn miếng bánh cáy tôi còn nhớ về tuổi thơ lớn lên bên dì cậu vì ba mẹ bận đi buôn bán nơi xa. Bánh cáy gắn liền với nếp ả, hay còn gọi là nếp cái hoa vàng, đồ xôi rất dẻo và thơm, ăn vào no lâu, hạt rất chắc lại thon đẹp. Dì thường lựa hạt rất kĩ trước khi để bà đồ xôi. Còn cậu thì thường nấu rượu từ hạt nếp, nó là một loại rượu đặc sản, uống rất êm, ngọt hậu và có mùi hương nồng nàn. Thường là khi làm mẻ bánh trước cậu sẽ bắt đầu nấu rượu, đến khi một thời gian sau bà nấu mẻ khác, cậu mới lấy rượu đợt trước uống chung với mẻ bánh. Ông uống trà xanh, cậu uống rượu, đám cháu trong nhà tay đứa nào cũng cầm từng miếng bánh cáy mà ăn, cuộc sống ở miền quê êm đềm và bình yên đến lạ.

Cũng mỗi mùa xuân đến thì căn nhà nhỏ của tôi lại thơm nồng mùi kiệu. Thuở thơ bé của tôi với kí ức là cả nhà cùng nhau quây quần muối kiệu, những củ kiệu trắng tinh nõn nà bắt đầu rót mình vào những chiếc hũ nhỏ, nhìn từ bên ngoài trông rất đẹp mắt. Nhà tôi thường muối kiệu độ thời gian đầu năm để hơn tháng nữa tới Tết là vừa đủ độ ngấm, ăn vừa ngon với cũng thư thả làm không gấp.

Tranh của họa sĩ Quỳnh Thơm

Sau khi tốt nghiệp, tôi bươn chải theo những mưu sinh nơi phố thị, bắt đầu xa rời căn nhà nhỏ nằm ở một góc quê nghèo. Vì công việc bắt đẩu trở nên bận rộn, cuộc điện thoại kề Tết của tôi lại là:

– Năm nay con không về mình được, sau Tết nếu rỗi con về phép.

– Thế bây trên đó đã có gì ăn Tết chưa? Má gửi ít kiệu lên cho bây nhan?

Tôi khẽ bật cười, như có gì đó chợt ùa về trong tâm trí lại có gì đó như mùi cay nồng của kiệu làm tôi chợt có đôi dòng lệ nơi khoé mi.

Đạp xe trong vô thức giữa phố phường, hình ảnh mùa xuân ngập tràn trong những chiếc ba lô những con người xa quê leo lên những chuyến xe cuối, những vuông cây được chia ô để những nhà còn lại nơi phố thị mua sắm quất, đào… Tôi tìm cho mình một chậu ớt kiểng nhỏ để chưng cho căn phòng, lại để lạc tâm trí thoáng nhớ về khoảnh sân nhỏ ở quê nhà với những chậu mai, chậu tắc được ba dồn sức uốn cong. Đi ngang qua khu chợ cũ, tôi thấy người ta bắt đầu bày những bánh chưng, bánh tét, và bên cạnh hàng quán là những hũ kiệu trắng tinh tươm. Tạt mua ít bánh chưng bánh tét gửi về quê, tôi cũng mua cho mình một hũ kiệu nhỏ, bỗng nhớ về những ngày tháng ở quê nhà trước kia, lòng nghe bồi hồi.

Tết ở xóm tôi mỗi năm đều có nấu bánh chưng, bánh tét, nhưng là nấu tại một nhà. Xóm lao động nghèo không có dư dả để mỗi nhà sắm được một nồi bánh, nên như truyền thống mỗi năm sẽ luân phiên một nhà nấu, các loại nguyên liệu như gạo nếp, thịt thà sẽ được cả xóm góp mua chung, sau đó sẽ cùng đưa về một nhà, nấu một nồi lớn, đến khi bánh chín sẽ bắt đầu chia mỗi nhà ít nhất một đòn. Tuy ít nhưng kì thực là ăn lấy vị mà thôi vì cảm giác khi quây quần cả xóm cùng nhau và cùng chia sẻ dư vị Tết mới là thứ thức ăn ngon và thuần tuý nhất.

Nhà tôi khi ấy cũng không có nhiều tiền để có thể mua sắm nhiều thứ chuẩn bị Tết, tôi còn nhớ mỗi khi Tết sang, ba chỉ kịp lãnh lấy tháng lương cuối, cố mua cho tôi một bộ quần áo mới là đã bắt đầu phải tính toán chi tiêu cho nhiều mối lo khác. Tuy ba mẹ tôi luôn cố giấu đi nhưng tôi đủ trưởng thành để hiểu và từ bấy về sau tôi không vòi vĩnh các bộ đồ mới ngày Tết nữa. Bù lại, mỗi khi Tết về tôi rất chộn rộn được cùng má đi chợ Tết.

Tết năm nào nhà tôi cũng tự tay làm củ kiệu. Má hay bảo tôi nếu muốn ngâm được kiệu ngon thì phải chọn kiệu quế, là loại củ khá to, rễ nhiều, lá mảnh và đầu thân rõ ràng sẽ rất đẹp sau khi được ngâm xong.

– Sau khi sơ chế rễ và lột vỏ con nhớ phải ngâm nước muối trong ít nhất tám tiếng để rửa sạch cũng như khử bớt độ hăng của kiệu.

Tôi nhớ có năm Tết mà con nước về, căn nhà nhỏ của tôi bị dột đủ đường, năm ấy không hiểu sao mùa mưa đến ngột, những thau kiệu như hứng mình cả những giọt mưa. Má sợ nước mưa rơi làm loãng những thau kiệu lại cùng ba khiêng để bên này bên kia để đứa con thơ ngồi trên giường cười khề khà khi nhìn thấy cảnh ấy… Rồi cả nhà tôi lại oằn mình bên những thau kiệu, nhưng cảm giác ấy lại rất lạ và tươi mới, mùi kiệu nồng hăng lên đã thấy không khí Tết đang về rồi.

Làm kiệu cũng lắm công phu, má vẫn hay dặn tôi sau khi ngâm nước muối xong lại phải rửa thật sạch nhiều lần với nước, rồi tới công đoạn lột vỏ và cắt rễ. Tôi nhớ ngày còn bé má thường chừa cho tôi một cái thau nhỏ kiệu, nói là thau nhưng nhỏ như một cái tô với một ít kiệu vì tôi hay cứ dành làm nhưng lúc nào làm kiệu cũng lỗi.

– Con phải cắt rễ nhưng nên chừa lại một ít, nhưng đừng cắt phạm quá nhiều vào phần thịt nếu không khi ngâm sẽ bị mềm.

Và sở dĩ tôi luôn được phân làm một phần ít vì lúc nào tôi cũng sơ ý cắt phạm vào, phải mãi sau này mới cẩn thận được. Tôi còn nhớ tôi thích đến dường nào không khí được lẫm chẫm theo ba khiêng những nia kiệu sau khi được cắt rửa gọn gàng đem đi phơi cho ráo nước, cảm giác mang tính thành tựu khi mình cũng góp phần vào một món ăn đơn sơ ngày Tết. Sau đó, ướp đường, làm giấm và trút vào hũ thuỷ tinh, cứ một lớp kiệu là một lớp mỏng đường.

Có những năm, nhà tôi làm nhiều thì còn đem đi chia thêm cho cả xóm. Tết đối với tôi những năm ấy có thể không có những nồi thịt kho tàu, cũng không có những cành đào hay những chậu cây mua vào ngày đắt đỏ nhưng không thiếu một đòn bánh chưng hay bánh tét và đặc biệt là những củ kiệu cay nồng nhưng thấm thơm mùi vị của gia đình.

Không để ý mà thời gian đưa đẩy thế nào đã bước qua năm mới, cứ cần mẫn mà làm nơi xứ người làm tôi không nhận ra thời gian trôi nhanh quá vậy. Tia nắng phía trước phòng trọ rơi xuống hoang hoải đầy sân, mang một nét đẹp ấm nóng lạ kì. Hôm nay tôi được về sớm, hàng đang về dự là qua xuân sẽ bắt đầu bận rộn để có thể đưa hàng đi trước Tết. Cái Thư dắt xe đạp đi ngang qua mảnh sân chung nhỏ của dãy trọ hỏi vang:

– Nay chị Ngọc về sớm ạ?

Tôi khẽ mỉm cười gật đầu, lại vừa thấy trên xe là đủ thứ đồ đạc lỉnh kỉnh nên ra đỡ giùm nó. Nó là sinh viên trọ học xa nhà.

– Sao đồ đạc nhiều thế?

– Em tranh thủ gửi đồ về cho ba mẹ đấy ạ. Mua được ít đồ rẻ, gửi về để dành đó tới Tết rồi cúng kiếng chứ sợ gần Tết giá cả lại leo thang. Chị tôi năm nay có về nhà không? Em nghe nói mấy công ty cho nghỉ xuân tới tận bốn ngày.

Tôi mỉm cười không nói. Công ty tôi cũng được cho nghỉ vài ngày, các công nhân chỗ tôi cũng đã tranh thủ để về quê dịp này trước khi lên lại phố để làm hàng, dự là sẽ rất bận rộn trong thời gian tới. Tôi lẩm nhẩm tính toán mua vài thứ gửi về quê chứ không định về.

– Mà nếu chị không về thì ở lại chơi với em cũng được, dù gì tháng rưỡi nữa cũng Tết rồi về luôn một bận.

Cái Thư vẫn nói với khi đang chất đồ lên xe vừa liến thoắng.

Tôi sợ Tết, cái sợ của kẻ cô đơn khao khát về nhà khi mải bôn ba ở xứ lạ để kiếm tìm một kế sinh nhai, cái sợ của những kí ức buồn trỗi dậy che lấp đi tất cả những hồi ức đẹp thuở ấu thơ, và bao giờ cũng vậy niềm đau thật nhẹ nhàng nhưng cũng mãnh liệt che lấp cả mọi thứ tuyệt vời. Tôi vẫn còn nhớ như in lần cãi nhau năm ấy của ba mẹ, với ba vì ông sốc khi người ta cho ông thôi việc vì tuổi tác mặc những công sức ông đã đóng góp hàng chục năm qua, với mẹ vì bà lo cho những ngày tới bộn bề không biết vào đâu nhất là khi tết cận kề. Mỗi người một nỗi niềm riêng, họ vịn vào cuộc cãi nhau chỉ để giải tỏa những uất ức mà cuộc đời quăng vào họ chứ tôi biết ba mẹ tôi yêu thương nhau lắm.

Tôi vừa đi làm thêm vừa học đại học vì trong mắt tôi khi ấy chỉ có cánh cửa đại học mới có thể giúp tôi tiến vào ước mơ đổi đời. Suốt bốn năm liền tôi luôn được bằng giỏi, sau khi tốt nghiệp nhờ quá trình thực tập được ấn tượng tốt tôi mau chóng được nhận vào một công ty có tiếng ở trên thành phố lớn. tôi miệt mài làm việc bất kể ngày đêm, công việc như sinh mệnh, thậm chí trong đầu tôi chỉ là làm việc kiếm tiền để gửi về cho ba mẹ và đứa em nhỏ ở quê. Cứ thế đã không biết bao mùa tết tôi không về.

Những năm đầu xa quê, tôi nghe làm Tết được tăng lương thế là cứ nán lại làm, khi cứ định về thì việc này việc khác xảy đến, những cơ hội đến liên tục khiến bao kế hoạch về quê dời lại. Năm này bỏ lỡ rồi lại tới năm sau, khi những cánh đào xuân từ từ trổ bông cho đến khi chúng trở thành những thân cây gầy guộc trơ trọi lá cành tôi vẫn là cô gái nhỏ ở một mình trong căn phòng trọ nơi phố thị và ngắm nhìn người về, người trở lại phố. Và những năm sau cứ nối tiếp, tôi cứ mặc định “năm tới mình sẽ về” thế mà ngót nghét đã chục năm tròn.

– Năm nay em lại không về à?

Anh xốc lại vali chuẩn bị về quê, nhìn tôi chăm chú. Chúng tôi hẹn hò chắc cũng đã gần hai năm tròn, làm cùng một công ty và ở cùng khu trọ này, hai phòng kế bên nhau. Anh tôn trọng và yêu thương tôi suốt từng ấy năm.

– Sắp xếp công việc và về nhà ít bữa đi em, vừa thư giãn đầu óc, vừa thăm hai bác và em. Chuẩn bị hàng về nhiều sẽ làm mệt lắm đấy.

Thật ra lúc đó tôi có hơi giận anh, quen nhau cũng đủ lâu để khiến tôi kể anh nghe tất cả mọi chuyện và hẳn anh cũng biết vì sao tôi cố gắng như thế này, nhưng khi tôi cảm thấy có hơi hướm của một cuộc cãi vã tôi quyết đinh im lặng. Anh xốc lại chiếc xe cũ và nhoẻn cười khi thấy nét mặt tôi trở nên trầm buồn:

– Lên xe đi anh đèo đi mua này hay lắm.

Anh chở tôi đi dạo chợ, chợ vào ngày xuân sang rộn rã lắm, cứ như khi sắc xuân còn chưa đến thì không khí đã tràn ngập các khu chợ rồi vậy. Mọi thứ từ bánh kẹo, mứt quả cho tôi các mâm cúng hay cả chợ hoa tạo nên một màu huyền ảo khiến tôi nhớ về gia đình da diết.

Ngày tôi còn bé mẹ vẫn hay dẫn tôi đi dạo chợ thế này và tôi sẽ mặc sức đòi mẹ mua cho mình mứt táo tàu tôi thích và thể nào cũng thòm thèm bởi những hũ chùm ruột đỏ lè ngọt xớt. Ba sẽ luôn đèo tôi sau yên xe để dẫn tôi đi dạo chợ hoa và bao giờ cũng sẽ sắm được một chậu tắc nhỏ, để lên yên sau xe đạp, ba dắt xe, tôi vịn chậu tắc cứ thế hai cha con đi cả một quãng đường xa về không biết mệt mỏi. Em tôi sẽ luôn đòi lì xì tôi dù hai người ngang tuổi nhau và bao giờ cũng xụ một đống khi tôi không chịu và sẽ cười thật tươi quên ngay vừa dỗi khi tôi nhường nó miếng mứt dừa mẹ vừa cho.

– Em về nhà nhé? Năm nay hãy coi như một ngoại lệ mà về.

Anh làm tôi bừng tỉnh cơn suy nghĩ và nhen nhóm một cơn lửa giận. Cảm giác của tôi lúc ấy như thương nhau đã lâu nhưng kì thực anh không hiểu cho mình, đâu ai muốn ở lại một thành phố cô đơn? Nhất là khi gia đình luôn là chỗ dựa và là động lực khiến tôi miệt mài kiếm tiền như thế này. Từ những lời khuyên nhỏ họ chợt cãi nhau to, tôi chỉ còn nhớ lời cuối cùng anh đã rất nặng lời với tôi:

– Những năm đầu em còn phải gây dựng nhiều thứ nên không về nhà được, giờ mọi thứ đã ổn định, sao em phải vì dăm ba đồng lương tiếc phép không chịu về. Em nghĩ tiền quan trọng nhưng nó có mua được phút giây ở cạnh gia đình không? Em cứ nghĩ năm sau, rồi năm sau nữa, tuổi tác hai bác đã cao liệu có chờ em được mãi không? Em đừng lấy lí do là vì gia đình nữa, nếu vì gia đình thì khi mọi thứ đã ổn định sao em không nghĩ tới họ?

Khi tôi bừng tỉnh cũng là lúc những cơn gió se lạnh của buổi đầu đông thổi vào từng cơn một. Anh chưa bao giờ nặng lời với tôi nhưng đúng là năm nào anh cũng khuyên tôi về ngay khi có cơ hội. Thời gian không chờ đợi ai cả, một năm cũng không có mấy dịp được nghỉ lễ nhiều ngày như thế này. Có lẽ những năm đầu quen nhau anh thấu hiểu tôi cần chứng minh mình với cấp trên nên kiên trì làm việc nhưng những năm sau anh dần cảm thấy tôi đã quên mất đi lí do ban đầu là vì gia đình mà chỉ còn lại trong tâm trí là lối sống của một con thiêu thân điên cuồng tới chết.

Kì thực năm nào tôi cũng nhớ gia đình, nhớ nồi thịt kho tàu nhỏ xíu nhưng làm ngon miệng cả nhà, nhớ chậu tắc ba để giữa nhà gắn mấy cái phong bì đo đỏ vào đúng giao thừa ba sẽ lấy xuống lì xì cho chị em tôi. Lối sống đô thị đã cuốn lấy tôi vào guồng quay của nó lúc nào tôi không biết, và tôi đã u mê để nó cám dỗ đến độ không rứt ra được. tôi cũng chợt nhớ lại từ rất lâu rồi ba mẹ luôn hỏi tôi có về nhà không, cứ hỏi tôi hoài nhưng khi công việc ngập đầu và uất ức bản thân trỗi dậy tôi đã nạt… Và kể từ ấy ba mẹ không gọi tôi nữa, chỉ thi thoảng hỏi tôi ăn uống thế nào, có gì khó không, dặn dò đủ thứ. tôi luôn có cảm giác vào những đêm giao thừa khi gia đình nhỏ gọi tôi chúc Tết, họ luôn muốn hỏi tôi có về không nhưng chần chừ vì sợ tôi buồn lòng.

Nhìn hũ kiệu mới được mua về tôi chợt nhớ không biết đã bao lâu tôi không về để làm kiệu cùng gia đình. Duy chỉ có những hũ kiệu ngày Tết là ba má tôi vẫn nhất quyết muốn tự tay làm vì cho rằng đó là những truyền thống gia đình có từ thời xa xưa không muốn mất đi. Tôi nhớ có năm khi nhìn những hũ kiệu đẹp đẽ đủ màu sắc được người ta bày bán đã không cầm lòng được mua về. Nhưng khi nhìn những hũ kiệu tôi gửi về dường như ba má không được vui nhưng không nói, sau má mới thỏ thẻ với tôi:

– Ba bây nói muốn được tự tay làm kiệu cho bây ăn với lại không muốn bây tốn tiền, để tiền mà tiêu chứ ở trên phố đồ đạc này kia nó đắt.

Tiếng điện thoại chợt reo lên, đầu dây bên kia tiếng má tôi nói :

– Ba mới mua kiệu để về làm cho bây, ngâm một hai hôm rồi kịp gửi xe lên phố cho bây ăn Tết.

Đột nhiên chợt nhớ những kỉ niệm thân thương, lại chợt nhận ra mình bị guồng quay của công việc thấm vào máu da tự lúc nào, suy nghĩ ít lâu tôi chợt nhẹ nhàng:

– Má nói ba đợi con về rồi làm, con đang xếp đồ, mai con sẽ về quê, cả nhà mình lại cùng làm kiệu. Năm nay con về sớm, ba mẹ coi nấu thịt kho tàu và bắt bé em ra bến xe đón con nha.

Vừa nghe điện thoại tôi xong, mẹ lập tức cắt ngang, khi gọi lại nhỏ em nghe máy bảo mẹ tự nhiên bật khóc rồi mau chóng quẩy cái giỏ ra chợ ngay tắp lự. Ba cười khề khà nói chêm vô:

– Mày coi về sớm sớm rồi đi chợ mua tắc với ba, chứ con bé em năm nào cũng chọn phải cây xấu, không tinh được như mày.

Nhỏ em tôi như vừa cằn nhằn ba xong, vừa quay qua nói thật khẽ với tôi:

– Chị biết không, em biết chị vất vả kiếm tiền ở xa nhưng thứ gia đình mình cần nhất luôn là một bữa cơm sum họp cả gia đình. Nhưng mà, chị về xuân như này rồi Tết có về nữa không? Em sợ…

Đột nhiên nó trưởng thành từ lúc tôi cũng không còn nhớ rõ nữa. tôi chợt phì cười trước câu hỏi của nó, tôi còn nghe rõ cả tiếng thở có phần chờ đợi nặng nề của ba mình, có lẽ ông cũng nghĩ như đứa em tôi, về dịp này thoái thác dịp khác và gia đình lại không được đoàn tụ. Nhưng cả họ cũng không dám đòi hỏi ở đứa con gái luôn cố gắng bươn chải nơi xứ người để nuôi gia đình đến độ quên mất ý nghĩa ban đầu.

– Sao lại không về? Chị về để xem em có lo cho ba mẹ đủ đầy như hồi chị dặn không chứ.

Làm cả đầu dây bên kia cười vang.

Nghĩ sao tôi bấm máy gọi cho anh:

– Anh này, anh có muốn về quê cùng em không?

Phía đầu dây bên kia tôi nghe rất rõ một tràng cười đẩy sảng khoái.

LÊ HỨA HUYỀN TRÂN

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *