Nhà thơ Đặng Nguyệt Anh: Sao lắm tơ vương hỡi lòng

Vanvn- Đọc những câu thơ mềm mại của nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh viết vài năm gần đây, ít người dám tin chị đã qua tuổi cổ lai hy từ lâu. Thanh xuân lắm giăng mắc thì thi ca dung dăng, cũng lẽ thường. Tuy nhiên, khi màu tóc phiền muộn ganh đua sắc trắng mây trời mà vẫn nhẹ nhõm vần điệu, quả thật rất hiếm.

Cầm tác phẩm “Thơ lẻ” do NXB Hội Nhà Văn vừa ấn hành, thấy mừng cho nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh còn nguyên nguồn cơn mơ mộng: “Đêm qua trăng ghé sân nhà/ Gặp nhau/ Mới nhận ra là chị em”.

Nhà thơ Đặng Nguyệt Anh

Hơn nửa thế kỷ sáng tác, nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh có một bửu bối luôn mang theo, chính là con sông Ninh ở quê nhà Nam Định. Con sông Ninh dẫu đổi bao dòng nước lắng đọng phù sa hay ồn ào giông bão, vẫn cứ hiện hữu như tình nhân trong thơ chị. Con sông Ninh náo nức chảy qua thời son trẻ: “Tháng Giêng/ Sao quá vội vàng/ Sông Ninh bối rối/ Ngỡ ngàng mùa yêu” và con sông Ninh lặng lẽ chảy vào đêm tha hương “Sông Ninh vẫn tít mù xa/ Tôi thương tôi/ Kẻ nhớ nhà/ Mộng du”. Vì vậy, con sông Ninh không phai nhòa niềm thương những ngày chị đã định cư đô thị lớn nhất miền Nam: “Em đi/ Gửi lại trời phương ấy/ Hoa cỏ thương nhau/ Đến nghẹn ngào”.

Nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh sinh ra và lớn lên ở Trực Ninh – Nam Định. Cảnh quê và tình quê trong thơ chị luôn bồi hồi cảm hứng bất tận: “Sông Ninh dạt dào sóng vỗ/ Chân đê xanh mướt cỏ non/ Chú bé thả diều trâu ăn lúa/ Hoa phượng đỏ sân trường vẫn nở/ Võng ai đưa kẽo kẹt trưa hè/ Thuyền ai về neo dưới bóng hàng tre”.

Học xong trường huyện, cô gái mới lớn Đặng Nguyệt Anh mỗi ngày qua đò theo khóa 7+2 của Trường Sư phạm Nam Định. Người thầy Chủ nhiệm của chị cũng là một giáo viên Toán cự phách – Phạm Thanh Liêm. Những giờ học giữa phập phồng tiếng kẻng báo động máy bay địch, thầy giáo Phạm Thanh Liêm vẽ hình tròn không cần compa và vẽ đường thẳng không cần thước kẽ, khiến bao nữ sinh muôn phần ngưỡng mộ.

Cô học trò Đặng Nguyệt Anh cũng để ý thầy giáo Phạm Thanh Liêm lớn hơn mình 8 tuổi, nhưng chỉ âm thầm gửi gắm vào thơ: “Em như trái đậu trên cành/ Ướp hương trời đất… chín… thành tương tư/ Giữa đời thường, thực và mơ/ Anh như ngọn gió… bất ngờ thoảng qua”. Hết khóa học, thầy giáo Phạm Thanh Liêm bắt đầu theo đuổi cô học trò Đặng Nguyệt Anh. Quê chàng – Xuân Trường và quê nàng – Trực Ninh ngày càng gần gũi hơn, cho đến ngày nàng viết: “Câu hát trao duyên vương vào khóm trúc/ Để một đời thương nhớ gỡ không ra”.

Cưới nhau vừa được mấy tháng, thì thầy giáo Phạm Thanh Liêm được lệnh chi viện cho chiến trường miền Nam. Tiễn chồng đi xa, người vợ trẻ Đặng Nguyệt Anh an ủi bản thân: “Vùi trong lòng mẹ yêu thương/ Thoáng đôi mắt mẹ nét buồn xa xăm/ Đời người dài cả trăm năm/ Chồng con ra trận vài năm rồi về”. Ngày qua ngày, người vợ trẻ Đặng Nguyệt Anh ở lại quê nhà chỉ biết ngóng trông bằng niềm riêng xao xác: “Ngày ấy/ Câu ca dao mảnh quá/ Không níu được đời em/ Phận gái như cánh chuồn kim/ Lại say miền bão lửa”.

Bìa tập “Thơ lẻ” của Đặng Nguyệt Anh

Sau 4 năm chồng vào Căn cứ trung ương Cục miền Nam, người vợ trẻ Đặng Nguyệt Anh được một người quen báo tin: “Chồng của chị bị sốt rét, nằm ở Lộc Ninh. Bây giờ tổ chức có cho anh ra Bắc, thì anh cũng không tự đi được!”. Dẫu biết sự chia ly vì lý tưởng giải phóng dân tộc, nhưng trái tim người vợ trẻ Đặng Nguyệt Anh vẫn nghẹn ngào, nửa thương chồng nửa xót mình. Chị tự nhủ: “Người đàn bà sinh ra mọi nỗi cô đơn/ Và chính họ đã nhận về tất cả”, nhưng chị không thể tiếp tục đứng ngồi không yên, vào ra một bóng với những giấc mộng hoang mang. Nhiều đêm thao thức, chị có một quyết định táo bạo: xung phong vào chiến trường miền Nam: “Biết rằng bom đạn gian nan/ Xin cha mẹ, con vào Nam tìm chồng/ Mưa chiều giăng trắng dòng sông/ Trũng sâu mắt mẹ lưng tròng lệ xa”. Cả cha mẹ ruột và cha mẹ chồng đều thương cảm ngập tràn, nhưng họ không thể không đồng tình với ý chí của Đặng Nguyệt Anh.

Cuối năm 1968, Đặng Nguyệt Anh từ giã con sông Ninh ôm ấp bao nhiêu êm đềm tuổi thơ để lên đường. Khoảnh khắc ấy được chị viết thành Trường ca Mẹ: “Thiên cổ hùng văn chưa thuộc/ Luận ngữ trên tường để mốc/ Đội câu Kiều đi suốt Trường Sơn/ Dép cao su mòn đá/ Gót chân son không đợi dấu hài/ Dồn dập những trận bom tọa độ, B52/ Trường Sơn rùng rùng đất đá/ Vẫn mơ phương trời lạ/ Khát cháy lòng một ban mai”.

Cô giáo Đặng Nguyệt Anh tuổi 24 lần đầu tiên xa nhà, không chỉ gửi lại phấn trắng bảng đen và những đôi mắt học trò thơ ngây, mà còn gửi lại bao nỗi hy vọng của hai bên nội ngoại. Bao lần vấp ngã đường mưa, bao lần co ro gió lạnh, bao lần khóc thầm bơ vơ, Đặng Nguyệt Anh vẫn cắn răng chịu đựng: “Nhìn ánh lửa gần/ Nghĩ đến chiến trường xa/ Lòng rạo rực mong trời mau sáng/ Ngày mai/ Đồng đội cùng con lại hành quân/ Đêm Trường Sơn mông mênh…”.

Vốn có sẵn sự đa cảm của người làm thơ, hành trình vượt Trường Sơn gập ghềnh và cam go vẫn giúp nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh nhận ra nhiều vẻ đẹp quanh mình: “Trăng liềm lơ lửng góc trời/ Cho em đưa võng một thời Trường Sơn”. Sau đúng 90 ngày đêm lặn lội, nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh đặt chân đến chiến khu Nam bộ trong niềm hạnh phúc vỡ oà, như những câu thơ chị tâm sự cùng người mẹ ở quê nhà Nam Định: “Chiều hè vui thật là vui/ Cao su lòa nắng xanh trời Lộc Ninh/ Đi qua trăm thác ngàn ghềnh/ Gặp chồng, con nghĩ là mình chiêm bao”.

Nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh có sở trường lục bát. Dù chị khiêm tốn: “Rằng tôi lục bát nhà quê/ Ai chia sẻ, ai cười chê cũng đành” thì cảm xúc sáu tám luôn chất chứa vui buồn của chị: “Nghìn năm/ Trăng vẫn khuyết tròn/ Trái tim đắm đuối/ Có còn khát khao?”. Thơ lục bát Đặng Nguyệt Anh không cần cầu kỳ uốn lượn chữ nghĩa mà vẫn gây xao xuyến, cả lúc chị bày tỏ day dứt: “Thần thơ Thánh chữ kiếp này/ Cũng không đổi được một ngày thảnh thơi” hoặc lúc chị thong thả bùi ngùi: “Người còn hành khất/ Sông mê/ Ta về thiền/ Giữa bộn bề/ Tương tư”. Một nỗ lực được nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh đưa vào thơ lục bát là ngắt nhịp để tạo ra những khoảng trống thẩm mỹ: “Ngày thương mến ấy/ Đã xa/ Chiều nay mưa gió/ Một ta/ Một đò”.

Cắc cớ thú vị, nếu không dùng lục bát thì thơ Đặng Nguyệt Anh có mịt mờ dư âm phía đám đông rộn ràng không? Không hề. Khi bất chợt sốt ruột rời khỏi khuôn thước lục bát, thì chị lại có những ý tứ khá mạnh mẽ và ấn tượng, để cảnh tỉnh sự tha hóa: “Đồng bạc đảo điên/ Lòng người lún mãi”, để nhắc nhở nỗi đắng cay: “Gió đâu thốc ngược triền sông Đuống/ Chở nỗi đau này đến kiếp sau”.

Đã ngụp lặn với cuộc đời ngổn ngang hỉ nộ dằng dặc bi ai, nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh cũng có có phút giây thảng thốt trước những kẻ luồn cúi và tẻ nhạt: “Sáng gặp người không xương/ Chiều gặp người không muối”. Cho nên, chị càng thấm thía và trân trọng từng mệnh kiếp long đong: “Mai rồi/ Nằm dưới cỏ khâu/ Chỉ mang theo/ Được nỗi đau/ Xuống mồ”. Trong thơ chị, cái mong manh níu giữ: “Có người trong chiêm bao/ Cứ gọi tên tôi mãi” luôn song hành cái chập chờn nuối tiếc: “Một lần tôi ngoảnh lại/ Gặp người từ hư vô”, như thái độ rõ nét của một người cầm bút biết sống và biết yêu.

Nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh dịu dàng và khiêm nhường. Chị không có cao vọng chức phận và chị cũng không có mưu cầu danh lợi. Chị tự gánh lấy trách nhiệm tận tụy gắn bó với thơ “đôi khi phải mài nhan sắc để được những câu thơ đến với người đọc và ở lại trong lòng họ”. Chị chắt chiu từng khoảnh khắc: “Tóc thơm hương bưởi/ Trên vai nắng gầy” để không ngừng thao thức tìm kiếm tri âm: “Đường ơi/ Sao lắm nẻo đường/ Lòng ơi/ Sao lắm tơ vương hỡi lòng?”. Hành trình thơ của nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh không vụt sáng, không chói gắt. Chị bền bỉ chinh phục độc giả qua từng tập thơ “Trường ca Mẹ”, “Nếu anh biết được”, “Sông Ninh”, “Bâng khuâng chiều”, “Ru lời ngàn năm”, “Trời em áo lụa”… Và chị đã trở thành một tác giả có công chúng của riêng mình.

Ở tuổi 75, nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh bộc bạch: “Mải mê thơ phú, thành thơ thẩn/ Nặng gánh văn chương, nhẹ bước trần/ Bạc tiền, danh lợi đều không hám/ Suốt đời thanh thản tích nghĩa nhân”. Thế nhưng, không chỉ như vậy, tài sản đáng giá hơn mà chị đã được sở hữu là một trái tim nồng ấm bay bổng giữa bụi bặm dân gian, bằng tất cả sự tin cậy và sự hồn nhiên: “Bờ rào con sáo ngẩn ngơ/ Có bông cúc dại đang chờ thu sang”.

LÊ THIẾU NHƠN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.