Vanvn- Hơn một năm nay, tôi có dịp làm việc nhiều hơn với nữ nhà văn xinh đẹp Nguyễn Thị Thu Huệ. Trước đây cũng có, nhưng ít. Tôi thường ngại gặp những người gọi là có chức quyền như Huệ; chức quyền của chị đủ để có thể chi phối một việc gì đó với những người như tôi.
Từ xa, tôi quan sát và đọc văn của Huệ, nếu gặp thì chị em chào nhau. Thi thoảng nhắc đến mẹ chị – nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Tú – và cậu em của bà là thầy Nguyễn Ngọc Khôi, thầy dạy vật lý ở Trường Mỹ thuật Công nghiệp thời tôi học ở đó. Nhưng hình như Huệ với tôi lại có phần chủ động thiện cảm hơn, điều mà gần đây tôi mới nhận ra…
Nhan sắc, cá tính và đôi mắt “nhìn thấu người đối diện”

Nguyễn Thị Thu Huệ kém tôi hơn 10 tuổi, thuộc lớp nhà văn 6X trưởng thành đúng vào giai đoạn văn học Việt Nam bước qua thời kỳ đổi mới – một thế hệ vừa đủ trẻ để thoát khỏi quán tính văn chương cũ, vừa đủ từng trải để cảm nhận sâu sắc những biến động dữ dội của đời sống đô thị, tâm lý con người và đặc biệt là thân phận người phụ nữ trong thời hiện đại.
Nguyễn Thị Thu Huệ có nhiều “lợi thế”: Nhan sắc, cá tính và năng lực nghề nghiệp song hành rất rõ nét, tạo nên một chân dung văn chương vừa sắc sảo vừa giàu năng lượng. Những ai từng gặp Nguyễn Thị Thu Huệ ngoài đời thường nhớ trước tiên đến đôi mắt. Một đôi mắt đen sâu, nhìn rất thẳng, rất tỉnh, sắc như dao cau, có thể khiến người yếu bóng vía ngại ngùng. Cảm giác như Huệ nhìn thấu những điều người ta đang muốn giấu đi…
Gương mặt đẹp kiểu đàn bà Hà Nội nhưng không cổ xưa nền nã, mà có chiều sâu cá tính của thế hệ mới: Có bản lĩnh, tự tin về sức mạnh của mình. Nhan sắc ấy, cộng với sự thông minh và khả năng ứng xử nhanh nhạy, khiến Nguyễn Thị Thu Huệ từ rất sớm đã trở thành một gương mặt nổi bật trong giới văn chương cũng như truyền hình. Người “gieo bão” trong văn học một thời, cả về văn chương lẫn nhan sắc…
Vì thân với thầy Khôi nên tôi hay đến ngõ Chợ Khâm Thiên – địa chỉ xuất hiện rất nhiều trong văn chương của Huệ – nơi bà ngoại chị sống cùng người con trai út. Huệ sống với gia đình; cha là Nguyễn Ngọc Chánh, cán bộ miền Nam tập kết, một người từng đi qua chiến tranh và mang trong mình vốn sống của nhiều vùng đất, nhiều số phận.
Thi thoảng gặp nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Tú – tác giả tiểu thuyết nổi tiếng ‘’Đất làng’’, một trong những cây bút nữ quan trọng của văn học Việt Nam thế kỷ XX – tôi rất lúng túng, giải thích rằng mình đến hỏi bài, nhưng thật ra là tò mò về đời sống của tác giả cuốn sách mà tôi rất thích đó. Sau này, khi tôi gửi bản thảo ‘’Lời cuối cho em’’ đến NXB Thanh Niên, bà đã rất ủng hộ khi trao đổi với nhà văn Cao Tiến Lê để giấy phép xuất bản được cấp nhanh chóng.
Huệ hồi bé cũng học vẽ. Nhưng lớn lên trong môi trường văn chương từ nhỏ, với cha mẹ đều là người cầm bút, chị theo văn chương và sớm thành công. Nhiều năm sau, tôi cũng thường đến nhà Huệ ở Thành Công, khi thì họp với mẹ Huệ về công việc của Ban Nhà văn nữ. Nhìn Huệ – con một – mà vẫn thoăn thoắt mọi việc nhà cửa, bếp núc. Nhà có khách là nhà văn. Những cuộc trò chuyện quanh bàn ăn toàn chuyện sách vở, nhân vật, chiến tranh, đời sống. Huệ lúc là vai con, nhưng nhiều khi cũng là đồng nghiệp, chuyện trò thoải mái, ai cũng quý.
Huệ thẩm tranh rất tốt. Mê đồ cổ. Cũng không ít lần sưu tập được đồ cổ thiêng rồi cúng dường đến các chùa…

Từ văn chương đến truyền hình: Dấu ấn của một người đàn bà nhiều năng lượng
Với tôi, văn chương Nguyễn Thị Thu Huệ gây được sự chú ý và thiện cảm của người đọc cũng như đồng nghiệp bằng những truyện ngắn có giọng điệu khác biệt. Văn của Huệ không giống kiểu tự sự truyền thống thiên về minh họa đạo đức hay lý tưởng hóa nhân vật. Huệ viết trực diện hơn vào cảm xúc con người, nhất là thế giới nội tâm của phụ nữ đô thị.
Những truyện ngắn ấy thường có tiết tấu nhanh, đối thoại sống động, không khí hiện đại và một cảm giác cô đơn rất đặc trưng của đời sống hậu chiến. Không thể quên Nguyễn Thị Thu Huệ với những tác phẩm như Hậu thiên đường, Nào ta cùng lãng quên, Xin hãy tin em, Cát đợi, 37 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ…
Nhân vật của Huệ không cam chịu, không một chiều, không chỉ là nạn nhân mà còn là những con người có khát vọng sống, khát vọng yêu và quyền được sai lầm. Huệ đưa vào văn học đời sống đô thị với nhịp sống nhanh, những mối quan hệ chồng chéo, sự rạn vỡ âm thầm của hôn nhân, cảm giác trống rỗng trong đời sống vật chất đang lên.
Nhân vật của Huệ nhiều khi không làm điều gì lớn lao, nhưng bên trong họ là những va đập tâm lý rất dữ dội. Văn của Huệ có tính điện ảnh ngay từ cấu trúc truyện ngắn: cảnh ngắn, nhịp nhanh, nhiều đối thoại, nhiều khoảng lặng. Chính điều đó khiến văn chương của Huệ rất gần với ngôn ngữ truyền hình và điện ảnh sau này. Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Thị Thu Huệ bước sang lĩnh vực truyền hình khá tự nhiên.
Khi về làm Xưởng trưởng Xưởng 2 ở VFC, sau đó vào TP.HCM làm Giám đốc kênh VTC9 Let’s Viet, Huệ nhanh chóng chứng tỏ năng lực tổ chức và tư duy sản xuất hiện đại. Điều thú vị là Huệ không chỉ là một nhà văn “ngồi viết”, mà còn có khả năng vận hành công việc rất quyết đoán, thực tế và hiệu quả trong giai đoạn truyền hình Việt Nam chuyển mình mạnh mẽ, khi phim truyền hình bắt đầu bước vào cuộc cạnh tranh khốc liệt về khán giả, nhịp sản xuất và chất lượng nghề nghiệp.
Một số người làm việc ở VTV cho biết Huệ sống rất tình nghĩa, nhưng cũng rất “rắn” trong công việc. Huệ vừa quản lý, vừa trực tiếp tham gia sáng tác kịch bản. Là một tác giả hiểu tâm lý khán giả, hiểu nhịp kể chuyện của truyền hình và đặc biệt hiểu diễn viên. Những kịch bản do Huệ tham gia thường có thế mạnh ở đối thoại và tâm lý nhân vật nữ.
Dấu ấn văn chương của Huệ không mất đi khi chuyển sang điện ảnh – truyền hình, mà trái lại còn được “dịch” sang ngôn ngữ hình ảnh khá linh hoạt. Một số bộ phim gắn với tên tuổi Huệ và giai đoạn VFC phát triển mạnh có thể kể đến như Xin hãy tin em, Hậu thiên đường… Dù ở vai trò biên kịch hay quản lý sản xuất, Nguyễn Thị Thu Huệ đều cho thấy một khả năng hiếm có: Kết hợp cảm xúc nghệ sĩ với tính chuyên nghiệp của người điều hành.
Điều khiến tôi gần với Nguyễn Thị Thu Huệ hơn sau này chính là ở khả năng dung hòa khá tốt giữa nhiều thế hệ trong đời sống văn chương. Huệ không mang “lợi thế” của mình ra để giao thiệp với lớp đàn anh đàn chị, mà luôn ấm áp, gần gũi, đôi khi còn chiều chuộng. Huệ cũng không “kẻ cả đàn chị” với thế hệ cầm bút trẻ. Chị thường giữ được quan hệ hữu hảo với đồng nghiệp ở nhiều lứa tuổi khác nhau. Đây là điều không hề đơn giản trong môi trường văn nghệ, nơi cái tôi nghệ sĩ thường rất lớn.

Giữ bản sắc riêng giữa những biến động của đời sống văn nghệ
Không quá gần gũi vì công việc chúng tôi khác nhau, nhưng một số bạn của tôi trong các lĩnh vực khoa học, doanh nhân yêu văn học thường nhờ tôi “nối cầu” để được gặp Nguyễn Thị Thu Huệ. Tôi cũng không ngại ngần. Những người ấy, nhiều năm nay nếu có dịp về nước vẫn hỏi thăm, vẫn yêu văn chương của Huệ, yêu cái ấm áp và không “ra vẻ ta đây nổi tiếng” của chị.
Thế hệ của Nguyễn Thị Thu Huệ là thế hệ bước qua chiến tranh bằng ký ức gia đình, trưởng thành trong thời bao cấp và bùng nổ nghề nghiệp đúng lúc đất nước đổi mới. Chính điều đó tạo cho họ một tâm thế rất riêng: Vừa có nền tảng truyền thống, vừa có nhu cầu phá bỏ giới hạn cũ.
Nguyễn Thị Thu Huệ là một đại diện tiêu biểu của lớp phụ nữ ấy: Đẹp, thông minh, độc lập, nhiều năng lượng và không chấp nhận sống mờ nhạt. Những nhà văn như Nguyễn Thị Thu Huệ hôm nay không còn là lớp người khô cứng, bó mình trong các khuôn mẫu cũ, luôn che giấu cảm xúc thật của mình. Huệ sống đúng như Huệ viết. Người đọc thấy phía sau vẻ mềm mại của một phụ nữ Hà Nội là một nội lực, một cái tôi có trách nhiệm với bản thân, với xã hội và gia đình.
Từ cô gái trẻ đẹp, nhiều lợi thế, bước vào văn đàn bằng những truyện ngắn gây xôn xao một thời, đến người đàn bà từng điều hành hãng phim truyền hình lớn nhất nước, rồi đảm nhiệm những vị trí quan trọng trong đời sống văn học quốc gia – đó là một hành trình không hề dễ dàng.
Và có lẽ điều đáng quý nhất ở Nguyễn Thị Thu Huệ không chỉ là thành công, mà là khả năng giữ được bản sắc riêng giữa rất nhiều biến động của đời sống văn nghệ Việt Nam. Vẫn sắc sảo, nhanh trí, tinh tế; biết tiến biết lui, biết giữ khoảng cách khi cần nhưng cũng biết tạo sự gần gũi. Một người đàn bà văn chương đúng nghĩa, vừa có chiều sâu cảm xúc, vừa có bản lĩnh để tồn tại lâu dài trong một thế giới vốn không hề nhẹ nhàng với phụ nữ tài năng.
Nguyễn Thị Thu Huệ từng giữ chức Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội. Vai trò ấy cho thấy uy tín nghề nghiệp của chị trong giới cầm bút thủ đô. Huệ được nhiều người vây quanh nhưng không thuộc kiểu nhà văn thích ồn ào diễn đàn hay tạo scandal văn chương. Chị chọn cách làm nghề đều đặn, giữ sự hiện diện bằng công việc và năng lực thực tế.
Là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam và hiện đảm nhiệm vị trí Giám đốc Bảo tàng Văn học Việt Nam, công việc này có lẽ rất hợp với Nguyễn Thị Thu Huệ. Nó đòi hỏi sự hiểu biết văn học, khả năng tổ chức và cả sự tinh tế trong quan hệ với giới văn nghệ sĩ.
Không phải ai viết văn hay cũng làm quản lý tốt, càng không phải ai quản lý tốt cũng giữ được tâm hồn nghệ sĩ. Huệ dường như có cả hai. Chị có thể trò chuyện với các cây bút lão thành bằng sự kính trọng chân thành, nhưng cũng có thể làm việc với lớp trẻ bằng tư duy cởi mở hơn nhiều người cùng thế hệ.

Từ ngày Huệ làm giám đốc, không gian Bảo tàng Văn học Việt Nam thay đổi đẹp hơn, thu hút sự chú ý không chỉ với các nhà văn hội viên mà còn mở rộng ra công chúng yêu văn học. Nhiều chương trình thơ văn sống động hơn được tổ chức để xã hội tiếp cận gần hơn với văn chương Việt. Gần đây nhất là các cuộc giao lưu với nghệ sĩ dòng nhạc cổ điển. Điều này đem lại nhiều thú vị không chỉ cho người yêu nhạc mà còn tạo ra những mối liên tài, những tương tác truyền cảm hứng sáng tác cho các tác giả văn học…
TRẦN THỊ TRƯỜNG
Tạp chí Một Thế Giới















