Trò chuyện với Vũ Cao – Kỳ 1

Vanvn- Tôi về công tác ở Tạp chí Văn nghệ quận đội, số 4 – Lý Nam Đế – từ cuối  năm 1971. Bấy giờ, nhà thơ Vũ Cao làm Chủ nhiệm, nhà văn Từ Bích Hoàng làm Phó chủ nhiệm. Đó là thời điểm chiến tranh đang ở giai đoạn ác liệt. Mấy lần Tòa soạn phải đi sơ tán. Năm 1972, cả cơ quan hai lần sơ tán về xã Hương Ngải huyện Thạch Thất – Hà Tây. Không chỉ lo sao cho bài vở đảm bảo, tạp chí ra đúng kỳ, Tòa soạn luôn cử các nhà văn đi mặt trận, tới các điểm chiến sự nóng bỏng. Trước đó, các nhà văn Nguyên Ngọc, Nguyễn Thi, nguyên Chủ nhiệm Tạp chí Văn Phác, Nguyễn Trọng Oánh, Nam Hà đã đi B dài từ khu 5 đến khu 6, Nam Bộ.

Nguyễn Khải đã ra đảo Cồn Cỏ, rồi lại đi chiến dịch Đường 9 – Nam Lào. Hồ Phương, Hữu Mai, Nguyễn Minh Châu, Xuân Sách, Ngô Văn Phú, Văn Thảo Nguyên, Vương Trí Nhàn, Hải Hồ, Mai Ngữ và cả nhà thơ già Thanh Tịnh, nhà văn nữ Nguyễn Thị Như Trang hoặc từng đi B ngắn, vào tuyến lửa Vĩnh Linh, đường Trường Sơn. Các nhà thơ Thu Bồn, Liên Nam, Xuân Thiều, Phạm Ngọc Cảnh, nhà văn Võ Trần Nhã nhiều năm ở chiến trường vừa ra lại đi tiếp.

Bấy giờ, hầu hết đã nặng gánh gia đình. Biết đi chiến trường là cần, nhưng không phải lúc nào cũng dứt gánh ra đi nhẹ nhàng.

Nhà thơ Vũ Cao (tên thật là Vũ Hữu Chỉnh; 1922 – 2007), được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2001.

Tổ chức sao để đưa được từng nhà văn đi vào thời gian thích hợp nhất, tới nơi họ có thể phát huy tốt nhất sở trường đã bộc lộ của mình là một trong những công đầu của hai người phụ trách Tạp chí. Nhờ những chuyến đi như thế, đội ngũ nhà văn quân đội từ một dàn đồng ca đã xuất hiện những giọng đơn ca với bản sắc khác nhau. Chẳng phải nơi nào đến hiện thực đều tốt đẹp. Tình hình chiến sự cũng như đời sống xã hội ở hậu phương cũng đã bộc lộ nhiều điều ngang trái. Ý thức chính trị, vị thế nhà văn không cho phép mọi người được phát ngôn bừa bãi. Khi gặp những ẩn ức, bực mình, khó chịu họ lại tới gõ cửa phòng hai ông từ giữ đền Vũ Cao, Từ Bích Hoàng để “dốc bầu tâm sự”. Không biết họ đã nói gì với nhau nhưng một lúc sau nghe tiếng cười sang sảng của nhà thơ họ Vũ hay nụ cười hiền từ của ông Hoàng là biết mọi chuyện đã được giải tỏa.

Thỉnh thoảng được trò chuyện với các anh, tôi đã ghi lại nội dung vài cuộc trao đổi ấy. Ghi chép sơ sài nhưng vẫn giữ được một ít tư liệu về đời sống văn nghệ một thời.

Vũ Cao (VC): Phê bình thì thế nào, tôi không rõ. Nhưng sáng tác thì phải có cái riêng của mỗi người. Những tác phẩm có cái riêng không phải bao giờ cũng hay, nhưng đã là tác phẩm hay thật thì bao giờ cũng có cái riêng trong đó. Không có cái riêng làm sao mà xúc động! Mà hay được!

* Chế Lan Viên cũng chỉ được tập Ánh sáng và phù sa và một số bài thơ năm 1965.

– Cũng không ai chỉ có toàn bài thơ hay tất cả. Vì mỗi bài thơ hay là một phần cuộc đời. Ông Tế Hanh bảo tôi, mỗi tháng phải tự đặt kỷ luật viết một bài. Ông bảo thế thì hay làm sao được!

* Những bài thơ định kỳ của Tố Hữu không phải bao giờ cũng hay.

Tôi cho rằng, công tác lãnh đạo văn nghệ với người sáng tác hình như khác biệt nhau trong một con người. Nghề nào cũng có cái khó của nó. Nhưng có lẽ làm kinh tế, làm gì đó, thỉnh thoảng viết một bài thì thơ dễ hay hơn. Chứ vừa làm lãnh đạo định hướng rồi lại làm thơ về nó thì khó mà còn thơ. Tôi thì chỉ là anh thơ nghiệp dư thôi, chứ chả ra một nhà thơ được.

Nhưng anh là người có hơi thơ rất trẻ: nhiều xao xuyến trong thơ. Trước khi gặp anh, đọc thơ anh, tôi hình dung anh hơi khác.

– Thì trong thơ ai mà già được? Vả lại, tôi bao giờ cũng nghĩ viết cho những người trẻ, về những người trẻ và hướng về họ.

Có những bài thơ chỉ hiện ra trong một khoảnh khắc của cuộc đời và chỉ có thể viết ra trong giây lát ấy.

Vừa rồi, tôi đi Vĩnh Phú với ông Ngô Văn Phú về thăm quê ông ấy. Ngồi uống nước ở chân Núi Đôi, tôi nói với ông Phú:

– Cũng may là tôi viết Núi Đôi năm đó, chứ giờ thì không thể viết được. Bây giờ Núi Đôi trồng cây xanh tốt, cột điện cao thế giăng ngang, không còn gì là dấu tích chiến tranh. Ngày xưa, nó là một quả đồi trọc, sau chiến tranh, ngổn ngang sỏi đá. Và bên cạnh đó là cái nghĩa trang. Hình ảnh lúc đó mới bật ra được tứ thơ với bao nhiêu xúc động.

Tôi vô ý để mất bức thư của ông Huyện đội trưởng huyện đội đó gửi cho tôi. Ông ấy gửi như một công văn hỏi tôi họ tên cô du kích đó là gì, hi sinh trong trường hợp nào… Cứ như cô ấy là một người có thật. Thư mất. Nhưng hồi ấy tôi cũng đã trả lời – Tôi cảm ơn ông ấy đã quan tâm, nhưng nói rõ, không có cô du kích cụ thể nào như thế cả. Đó là chuyện nghĩ ra.

Rất nhiều người hỏi tôi quanh bài thơ đó.

* Những bài thơ như vậy, nói chung, những bài thơ hay mang rất rõ không khí, tâm tình, hoàn cảnh… của những năm tháng lịch sử nhất định nào đó. Nó chỉ có thể được viết trong một thời điểm nhất định và mang rất rõ dấu ấn thời điểm đó.

– Đúng thế. Sau đó có thể viết khéo hơn, chải chuốt hơn, kỹ thuật hơn, nhưng không thể có cái tình đó, những xúc động đó

* Cũng khó nói hơi thở, tâm tình một thời đó là thế nào, nhưng trong những bài thơ hay còn lại, giờ đọc, chúng ta thấy rất rõ hơi thở, nét riêng chỉ của thời điểm đó, chỉ có thể viết ra lúc đó, và nó hay vì thế. Viết lúc khác chắc gì đã có được dấu ấn đó. Có thể kể: Tống biệt hành, Nhớ, Viếng bạn, Bên kia sông Đuống, Núi Đôi, Ta đi tới, Việt Bắc, Quê hương, Mồ anh hoa nở… những bài thơ như thế, không nhiều.

– Tôi đọc nhiều sách nước ngoài nói về cái bí ẩn của sự sáng tạo. Tất nhiên mình không tin, không duy tâm. Nhưng quả thật sự sáng tạo có những cái phức tạp, tinh tế riêng của nó mà ta chưa biết hết được, cũng như các quy luật giản đơn không bao hàm hết sự phức tạp của cuộc đời. Mỗi người sáng tạo đều có những cái riêng như thế. Cái hay bao giờ cũng gắn bó với tình cảm, những tình cảm riêng, số phận riêng của người viết.

* Nhưng ở ta thì người làm lý luận, phê bình không cần biết điều đó. Họ có một mớ quy luật chung khô khan để đo lường và phê phán những sáng tác rất khác nhau.

– Tôi đọc mấy bài thơ mới của Pháp (trên báo Văn học Pháp), chữ thì hiểu hết mà không biết bài thơ nói gì.

Aragon vừa rồi có một truyện khá dài đăng báo nói về chuyện xảy ra ở Tiệp Khắc mà thực ra là phê phán Liên Xô rất nặng nề.

Nhà văn Ngô Thảo, tác giả bài viết

27.4.1972

… Chiều mưa. Hỏi chuyện về Văn nghệ thời chống Pháp.

VC: Cảm giác chung của mình về cuộc kháng chiến trước là những năm tháng sống sung sướng, trong sạch, say mê lý tưởng, tin tưởng chân thành lắm. Tương lai luôn hiện ra trong gương mặt thật đẹp. Hấp dẫn biết bao nhiêu. Những con người đi vào cuộc kháng chiến cũng xiết bao thơ ngây, non nớt. Năm 1949, anh Trần Độ bấy giờ là chủ nhiệm báo Vệ quốc quân gửi từ trong thành ra cho cuốn Chiến bại của Phađêep. Ít lâu sau có Bão táp của I. Êrenbua bản tiếng Pháp. Tôi đọc say sưa. Khi biết tôi có sách, ông Nguyễn Đình Thi tới mượn đọc. Tôi nhớ ông Thi ở trên một cái nhà sàn, đọc hai ngày liền. Mình đã cho mượn sách lại còn phải nuôi cơm ông ấy nữa. Tất nhiên là cơm cơ quan thôi. Ông Thị về, vài hôm sau lại thấy ông Nguyễn Huy Tưởng sang. Tôi hỏi: Anh đi đâu đấy? – Sang đọc sách của ông! Vậy là lại hai ngày nuôi cơm cho ông đọc hết hai cuốn sách. Mà các ông ở bên Hội Văn nghệ cách báo Vệ quốc quân bọn mình 60 cây số chớ có ít đâu.

Thế đấy. Bằng những con đường như vậy, văn học rồi lý luận văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa tới với chúng ta. Mà thực ra bấy giờ cũng không biết ra thế nào!

Tôi nhớ trước đây có đọc một vài truyện ngắn của Goorki. Và cả Đốt (Dotxtôiepki). Nhưng Đốt có phải hiện thực XHCN đâu, còn truyện Goorki thì đọc là đọc vậy chứ cũng không biết ra thế nào.

* Cả cuộc kháng chiến trước của ta là như thế.

– Dạo đó, tôi làm ở báo Vệ quốc quân. Cuối 1949, Trần Đăng rồi Hoàng Lộc chết. Sang 1950, lại Thôi Hữu – Tân Sắc rồi Thâm Tâm chết. Trong vòng hơn nửa năm, Vệ quốc quân mất bốn người, mà toàn những cái chết có ra gì đâu, không đáng chết cả. Ông Trần Đăng thì thích đi phiêu lưu, kiểu tự do chủ nghĩa. Theo một đơn vị lên biên giới, bị một bọn phỉ Tưởng bắn chết. Ông Tân Sắc bị bom ở Thái Nguyên. Còn Hoàng Lộc và Thâm Tâm đều ốm chết cả. Vậy là phóng viên tòa soạn chỉ còn tôi. Tôi đâm ra quan trọng.

Năm 1952, được gọi sang chỗ ông Tố Hữu ở 3 tháng, viết truyện anh hùng chiến sĩ thi đua. Thì dạo đó đã biết ra thế nào đâu. Bọn tôi ở với toàn ông cỡ: Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài, cả Nguyễn Tuân – Ông Tuân không viết nhưng cũng ở đó – dưới sự chỉ đạo của ông Tố Hữu. Nhưng thực ra chẳng ai biết phải viết ra kiểu nào. Mãi sau mới tìm ra lối viết như báo cáo thành tích. Tôi viết về chị Nguyễn Thị Chiên. Ông Nguyễn Huy Tưởng cứ đùa tôi: – Ông đúng là khai… văn công thần, người đầu tiên viết truyện anh hùng chiến sĩ thi đua của nước ta.

– Tôi nhớ, năm 1953, có cuộc Đại hội Văn nghệ, bàn về khôi phục vốn cũ dân tộc. Hội nghị rất long trọng. Tiếc là không còn ảnh, tư liệu gì. Tập hợp toàn những người tai mắt Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Tưởng, Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn, kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện, ông Năm Ngũ, rồi cụ Tú Mỡ. Do ông Tố Hữu chủ trì. Tôi thuộc loại trẻ, vô danh tiểu tốt mà làm báo chứ có làm văn nghệ gì đâu. Nhưng quân đội không còn ai nữa, thì mình cứ tham gia. Tôi tưởng nghe được nhiều ý kiến lắm. Nhưng khi thấy họ thảo luận thì mình không còn biết ra làm sao cả. Thôi thì cứ bát nháo cả lên. Đến ông Tố Hữu kết luận cũng không biết nội dung như thế nào.

* Nhưng hội nghị đó lại có công lao rất lớn. Dấy lên được phong trào khôi phục vốn cũ dân tộc. Từ đó ta mới khôi phục Chèo, Quan họ, Dân ca… chứ chưa phải Tuồng. Buổi đầu ấy còn nhiều quan điểm chưa đúng, nhưng dẫu sao cũng là cơ sở tốt cho quá trình khôi phục văn hóa dân tộc sau này.

– Ngay bây giờ (1972) cũng đã có những suy nghĩ cho công tác lãnh đạo văn nghệ sau này. Gặp các anh, kể cả Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, Thép Mới, chúng tôi trao đổi, cứ băn khoăn về công tác tổ chức, lãnh đạo văn nghệ: Nếu bây giờ ngừng tiếng súng thì văn nghệ sẽ làm ăn thế nào? Làm ăn ra sao với lực lượng, tổ chức như hiện nay? Ta có lực lượng, nhưng tổ chức chắp vá, mạnh ai người ấy làm, rất nông ng- hiệp, rất thủ công: Hội một mảng, Viện một mảng, một mảng quân đội. Vừa thiếu vừa thừa. Nhiều năm lực lượng không được sử dụng đúng chỗ, trong khi nơi khác lại thiếu.

Để chuẩn bị cho giai đoạn tới, ít ra phải có ba vấn đề.

– Đường lối cụ thể, có tầm nhìn xa rộng.

– Tổ chức chặt chẽ, tập họp đầy đủ các nguồn lực sáng tạo.

– Và một chính sách hợp lý.

Cái gì cũng chưa rõ, mà cái gì cũng phức tạp. Nhưng ai có quyền làm việc đó? Đề xuất tổ chức đó? Không ai cả. Ông Hoàng Trung Thông chỉ là bộ phận nghiên cứu. Chúng tôi định họp bàn. Nhưng rồi chiến sự diễn ra phức tạp thế này nên lại thôi. Càng thấy rõ quy luật chiến tranh và quy luật kinh tế chi phối đời sống rất lớn. Nhưng không bàn sớm, thì khi đột nhiên ngừng tiếng súng, sẽ chạy không kịp.

Kinh nghiệm kháng chiến trước thật là thấm thía.

Nhiều khi tôi muốn xin trên cho thời gian viết lại hồi ký về những năm đáng nhớ đó. Không để làm gì đâu, nhưng là tư liệu rất tốt. Dạo đó, anh ngây thơ, trong sáng quá, không lường hết được. Mà cuộc đấu tranh khi đã chuyển từ tư tưởng sang quan điểm thì thật là nguy hiểm. Những tình bè bạn, kỷ niệm gắn bó cũ không còn ý nghĩa gì nữa. Và đó là điều rất kinh khủng: thành địch – ta mất rồi.

Khi hòa bình 1954 về, đang đi tham gia tiếp quản Hà Nội, tôi xin đi tiếp quản Hải Phòng. Tôi là người đầu tiên dẫn một tiểu đội ra Đồ Sơn. Sau đó, vì mệt quá, ngại đấu tranh, nên xin đi đón bộ đội miền Nam ra tập kết ở Sầm Sơn (Thanh Hóa). Lúc bấy giờ cũng giản đơn, tưởng khi về xong đâu đấy cả. Là người viết văn, những chuyện lý luận, khái quát có thể quên, nhưng chi tiết thì tôi nhớ lắm. Hôm đó, tôi đạp xe từ Sầm Sơn về Hà Nội. Sau một tháng xa. Dạo đó nghèo lắm. Đi đường bụng đói chỉ ăn bánh đúc bánh đa để có sức đạp. Mất ngày rưỡi mới về tới Hà Nội. Nhà dạo đó ở trong thành. Tôi ghé vào chợ Đồng Xuân. Trong túi còn mấy hào mua quà gì đó cho con, đại loại là thứ hoa quả gì đó. Đang đi, tới chỗ hai đường tàu điện gặp nhau thì gặp Trần Dần. Hai đứa vốn thân nhau từ trước. Dần đi đôi giày tây vàng – như giày Nguyễn Minh Châu bây giờ – hai đứa chào nhau.

– Dần đấy à? – Cao đấy à? Tôi tưởng Dẫn sẽ hỏi thăm gì về sức khỏe, gia đình. Nhưng Dần nói một câu, câu ấy tôi còn ghi trong sổ tay:

– Mình xin ra Đảng

Tôi ngớ ra, không biết thế nào! Dần là Đảng viên lâu năm, đã là Bí thư Chi bộ, Chính trị viên Đoàn văn công. Tôi hỏi:

– Thật à?

– Thật. Mình đã làm đơn xong cả rồi.

Tôi bàng hoàng cả người. Không biết thế nào, đành nói.

– Thôi, cậu cứ đi đi. Mình có việc về nhà xem sao!

Tôi bắt đầu băn khoăn quá. Thấy có một việc gì nghiêm trọng đã tới, nhưng không biết từ đâu. Về nhà, thấy bà Khang (vợ) rất buồn vì con ốm – Thằng Mạnh nhà tôi bây giờ đấy – Mặt lên những nốt đỏ – phát ban – không – à – Thủy đậu. Càng buồn. Tối đó, vợ nấu cho ăn, tôi cứ bần thần cả người. Vì mình là Tổ trưởng Đảng. Tôi cũng không nói được với vợ. Vợ tôi làm công tác hành chính, biết gì đến chuyện văn nghệ. Nhưng, tôi cảm thấy, thế là đã bắt đầu. Bão táp đã nổi. Thấy rất rõ cảm giác cơn bão đã đến và mình chỉ có lao vào.

Một lúc, thấy tôi buồn, vợ tôi mới hỏi: Độ này, anh ăn ở với bạn bè thế nào mà các anh kêu anh nhiều quá.

Tôi lại bị một đòn choáng váng nữa. Như vậy là sự việc có liên quan đến mình. Tôi vội thanh minh: – Em biết đấy, với bạn bè, anh trước sau vẫn vậy, có gì thay đổi đâu.

Vợ tôi kể, ở nhà anh Trần Dần và Tử Phác, người chính trị viên, người là Đoàn Trưởng văn công tới chơi, hỏi: – Chị có gì cho chúng tôi ăn với. Còn đĩa lạc em rang cho các anh ấy ăn. Các anh ấy kêu với em: Từ ngày về đây thằng Cao nhà chị đối với anh em không ra gì. Xưa ăn ở với nhau thế mà giờ quên hết anh em rồi. Nó sống khác lắm. Vợ tôi kể, rất buồn – Vậy là cùng lúc, vấn đề công tác quản lý, quan hệ đồng chí, bạn bè vợ con, gia đình bị xáo trộn tất cả. Cơn bão lay động tất cả và

cuộc đấu tranh bắt đầu. Đêm đó, tôi thức trắng. Vậy là từ đó. kéo dài hơn một năm sau, cuối 1955, đến hết 1956, qua đến đầu 1957, tôi lao vào cuộc đấu tranh. Khi bí mật, lúc công khai, khi nội bộ lúc hội trường, cả về tư tưởng, tổ chức… không còn mở mắt ra được.

Nhìn lại giai đoạn đó, thật có ý nghĩa.

Có lẽ tôi đã có công. Nhưng để dẫn đến tình trạng đó thì tôi có tội. Trước đó, từ chỗ chỉ có mấy người, khi hòa bình, trên cho điều người về, tôi đã lập danh sách điều một lúc đến gần một trăm người, từ Trần Dần, Hoàng Cầm, Tử Phác, Hoàng Tích Linh rồi Hồ Phương, Hữu Mai, Nguyên Ngọc, Nguyễn Ngọc Tấn, Nguyễn Khải, Phùng Quán… Lúc bấy giờ, Cục Tuyên huấn chỉ một Chi bộ, và bộ phận văn nghệ không ra một tổ chức gì, chỉ có một Tổ Đảng, gồm cả văn học, hội họa, điện ảnh, văn công… Tổ chức tập họp mà không có đường lối, không biết sinh hoạt thế nào, nên chỉ một thời gian đã dẫn đến những cuộc đánh nhau thật sự, với nghĩa đen của nó. Bao nhiêu bạn bè thành thù địch, người thân thành người sơ, người sơ thành kẻ địch. Cả những người ruột thịt cũng rơi vào cuộc phân hóa. Anh bảo không khủng khiếp sao được! Tôi muốn viết lại chuyện đó, có những chuyện chưa ai biết nữa. Chắc không có ích gì với văn chương nhưng là bài học quý về tổ chức.

– Không. Cần lắm anh ạ. Anh xem, rồi sẽ có lúc những chuyện đó được nhắc tới, bởi có người nói: Tương lai, lắm khi là quá khứ quay trở lại theo một mặt phẳng khác.

(Còn tiếp)

NGÔ THẢO

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *