Người viết trẻ Gia Lai với di sản văn hóa trong sáng tác

Vanvn- Trong dòng chảy của văn học cả nước, văn học Gia Lai vẫn âm thầm như những nhánh sông đổ về biển lớn. Trong vô vàn đề tài các tác giả, văn nghệ sĩ đề cập đến ở các sáng tác của mình, ta nhận ra một mạch ngầm vẫn len lỏi âm thầm chảy trong đời sống văn học tỉnh nhà. Mạch ngầm ấy là mảng đề tài dân tộc thiểu số gắn liền với di sản văn hóa địa phương với những nét truyền thống quý giá đậm đà bản sắc dân tộc.

Nhà thơ Ngô Thanh Vân – Phó Chủ tịch Hội VHNT Gia Lai, tác giả bài viết.

Trong khuôn khổ bài viết, với quan điểm cá nhân, tôi có một vài nhận xét về thực trạng hiện nay đối với di sản văn hóa từ góc nhìn của người trẻ.

I. Đặt vấn đề

Văn kiện Đại hội XIII nêu rõ quan điểm chỉ đạo của Đảng, định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030 xác định: “Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”. Đi liền đó, nhiệm vụ trong nhiệm kỳ cũng được chỉ rõ: “Có chính sách cụ thể phát triển văn hóa trong đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS)”. Đặc biệt, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có bài phát biểu quan trọng. Trong đó, Tổng Bí thư phân tích, chỉ rõ sự cần thiết phải nhận thức đầy đủ, toàn diện, sâu sắc về văn hóa và giá trị của nó; Đảng và Bác Hồ đã chú trọng vấn đề xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam như thế nào;… tại Hội nghị văn hóa toàn quốc vào cuối năm 2021.

Gia Lai là địa phương có 44 dân tộc được hội tụ, sinh sống, đồng nghĩa với việc Gia Lai có nền văn hóa đa dạng, phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc. Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn, nhà nghiên cứu văn hóa và dân tộc học, cho rằng: “Tây Nguyên và nhất là Gia Lai – Kon Tum là nơi bảo lưu những yếu tố văn hóa bản địa cổ xưa của bán đảo Đông Dương và cũng là nơi mà các cư dân đã tạo cho bản thân một phong cách văn hóa thống nhất”. (Các dân tộc tỉnh Gia Lai – Kon Tum, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1981).

Đây chính là nơi có kho tàng di sản văn hóa (DSVH) với bề dày lịch sử, phong phú và đa dạng. Những di sản văn hóa vật thể, phi vật thể đã chứng minh được nét văn hóa đặc trưng vùng miền và có giá trị tinh thần to lớn. Việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa này luôn là điều trăn trở của lãnh đạo các cấp, nhất là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Hội Văn học Nghệ thuật cùng rất nhiều người dân sinh sống, làm việc nơi đây cũng như các dân tộc bản địa.

Văn nghệ sĩ Gia Lai là một trong những yếu tố không thể thiếu trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa của địa phương thông qua hoạt động sáng tạo và nghiên cứu văn học nghệ thuật của mình ở tất các các chuyên ngành: văn học, âm nhạc, mỹ thuật, nhiếp ảnh, văn nghệ dân gian, múa, sân khấu biểu diễn. Đặc biệt là đối với những người trẻ, họ chính là thế hệ kế tiếp giữ vai trò và nhiệm vụ quan trọng, nặng nề với phương châm “gìn giữ cho muôn đời sau”. Những người viết trẻ thuộc lĩnh vực văn học cũng không ngoại lệ. Họ luôn ý thức được việc sáng tạo của mình từ hoạt động cá nhân hướng đến lợi ích cộng đồng trước những di sản văn hóa đặc sắc của địa phương.

II. Nội dung

1. Thực trạng

Trong khuôn khổ bài viết, với quan điểm cá nhân, tôi có một vài nhận xét về thực trạng hiện nay đối với di sản văn hóa từ góc nhìn của người trẻ.

Văn học Gia Lai đã có những tên tuổi thành danh, đĩnh đạc như: Văn Công Hùng, Thu Loan, Hương Đình, Phạm Đức Long… với rất nhiều tác phẩm viết về đề tài Dân tộc thiểu số, trong đó thể hiện sự am hiểu với ăm ắp những tư liệu, kiến thức, vốn sống và những nét văn hóa đặc sắc vùng Tây Nguyên nói chung và Gia Lai nói riêng. Chính bản thân họ và tác phẩm của họ đã ghi danh mình vào lịch sử Văn học Gia Lai giai đoạn sau giải phóng đất nước đến nay.

Trước đó, không thể không nhắc đến những tên tuổi lừng lẫy như nhà văn Nguyên Ngọc với tác phẩm tiểu thuyết: Đất nước đứng lên, Rừng Xà nu;  nhà văn Trung Trung Đỉnh với hàng loạt tác phẩm viết về mảnh đất Tây Nguyên khốc liệt trong chiến tranh: Những khoảnh khắc đời người, Ngược chiều cái chết, Lời chào quá khứ, Lạc rừng, Lính trận; nhà thơ: Vũ Hữu Định, Kim Tuấn,  Lê Nhược Thủy…, hiện nay, các nhà văn nhà thơ không còn sinh sống trên địa bàn tỉnh Gia Lai nữa. Điều đáng trân quý là các tác phẩm và tên tuổi của họ đã làm nên diện mạo của Văn học Gia Lai trước 1975.

Thế hệ kế tiếp như một mạch ngầm chảy mãi hơn 20 năm để làm nên một đội ngũ sáng tác trẻ đầy nhiệt huyết và ý thức trong nghề. Điểm danh lần lượt theo thời gian xuất hiện trên văn đàn: Hoàng Thanh Hương, Ngô Thanh Vân, Miên di, Lê Vi Thủy, Lê Thị Kim Sơn, Đào An Duyên, Trương Thị Chung, Thuận Ánh, Lữ Hồng, Trúc Phùng, Mai Hương, Trần Hồng Vân, Minh Hạnh, Nguyễn Thị Thanh Thúy… Và gần đây một số cây bút trẻ xuất hiện và đang dần dần khẳng định mình: Li Phan, Kim Lý, Võ Duy, Nguyễn Mỹ Linh…

Các bạn trẻ viết khỏe, đa dạng đề tài, dày cảm xúc và chú tâm học hỏi trau dồi để “nâng cao tay nghề”. So với mặt bằng chung của cả nước, đội ngũ văn học trẻ Gia Lai đông về số lượng (gần 20 người) và cũng có một số tác giả đã định danh được mình trên văn đàn cả nước. Đây là một tín hiệu vui cho văn học Tây Nguyên nói chung và Gia Lai nói riêng. Mỗi một tác giả là một cây xanh góp mình cho vườn cây văn học của tỉnh nhà.

Đối với các nhà văn nhà thơ “tiền bối”, đề tài chiến tranh cách mạng và dân tộc thiểu số trong các sáng tác của họ có dấu ấn sâu đậm. Để lại những tác phẩm nghệ thuật có giá trị về lịch sử và văn hóa sâu sắc. Có thể lý giải điều này bởi sự học hỏi, trau dồi, tích lũy, am hiểu và đam mê với đề tài văn hóa trên mảnh đất Tây Nguyên này của thế hệ đi trước. Họ có ý thức tìm tòi nghiên cứu bằng việc thâm nhập thực tế, đến tận bản làng heo hút xa xôi ở các huyện, xã. Cùng ăn ở, sinh hoạt, để trải nghiệm và tìm hiểu một cách thấu đáo nhất cuộc sống của người dân tộc địa phương khi chưa bị hiện đại hóa đời sống vật chất và tinh thần. Chính những tác phẩm của họ phần nào đã đóng góp vào việc gìn giữ, lan tỏa và phát huy những giá trị tinh thần, di sản văn hóa vô cùng quý báu của địa phương.

Thế hệ viết trẻ hiện nay tại Gia lai tuổi đời dao động từ 30 – 45, đây là “lứa tuổi vàng” để thỏa sức trải nghiệm, tung tẩy, thể nghiệm đủ mọi thể loại trong công việc sáng tạo để từ đó tìm tòi và định hình phong cách cá nhân. So với cả nước, số lượng người viết trẻ tại Gia Lai được gọi là đông đảo và có nhiều tác giả được đánh giá cao về năng lực sáng tạo, uy tín nghề nghiệp. Đây là một điều đáng mừng và đáng ghi nhận, đáng trân trọng. Bởi giữa cuộc sống cơm áo gạo tiền với bao nhiêu trách nhiệm ràng buộc, họ vẫn miệt mài với văn chương điều này thật đáng quý biết bao.

Những người viết trẻ luôn ý thức được những nét văn hóa truyền thống mang giá trị tinh thần to lớn, đậm đà bản sắc nơi vùng đất mình đang sống nên trong nhiều tác phẩm của mình, họ đã chọn những đề tài viết về dân tộc thiểu số, về những nét văn hóa đặc trưng của Tây Nguyên nói chung và Gia Lai nói riêng như một cách thể hiện tình yêu của mình đối với mảnh đất Tây Nguyên. Tuy nhiên, có thể vì tuổi đời, tuổi viết còn gọi là “trẻ” nên có nhiều hạn chế khi khai thác đề tài này. Vì vậy, trong đa số các sáng  tác của người viết trẻ, chưa có tác phẩm nào mang đậm dấu ấn vùng miền sâu sắc, có sức bật, gây tiếng vang trong dư luận.

Tác giả là người dân tộc bản địa hiện nay là một khoảng trống, điều này thật đáng tiếc. Ở Đắk Lắk người viết là người dân tộc bản địa khá đông so với khu vực: NSƯT, nhà văn Linh Nga Niê K’Đăm, nhà văn Niê Thanh Mai, nhà thơ H’Xíu H’Móc, (dân tộc Êđê), Kon Tum có nhà văn Đinh Su Giang (dân tộc Xơ Đăng). Đây cũng là một điều trăn trở đối với người làm công tác quản lý lĩnh vực văn học ở địa phương.

2. Nguyên nhân

Có nhiều yếu tố tác động đến chất lượng và giá trị tác phẩm ở mảng đề tài viết về văn hóa và dân tộc thiểu số địa phương.

Trước hết, vốn sống và những kiến thức tích lũy về văn hóa Gia Lai ở mỗi tác giả còn quá hạn chế. Có thể lý giải rằng nói đến đề tài liên quan đến văn hóa, ai cũng mang tâm lý “ngại” và “sợ”. Là sợ sai, và ngại đụng chạm. Chúng ta có thể hư cấu cốt truyện, tình tiết nhưng những gì liên quan đến văn hóa chúng ta không thể hư cấu. Văn hóa cần phải đúng. Vì điều này ảnh hưởng rất nhiều đến thế hệ sau. Một thông tin sai lệch, chưa được kiểm chứng có thể dẫn đến những hệ lụy khôn lường. Ảnh hưởng lớn đến bạn đọc khi tiếp nhận thông tin, và ảnh hưởng đến thế hệ sau về tính trung thực của yếu tố văn hóa. Từ góc nhìn “Văn học dân gian là một phần thiết yếu của di sản văn hóa của bất kì xã hội nào.” Đặc trưng của văn học văn nghệ dân gian là tính truyền miệng, và vì lưu truyền bằng con đường truyền miệng nên có tính dị bản (nhiều bản khác nhau). Khi nghiên cứu văn hóa dân gian, chúng ta thường gặp những điều tương tự (dị bản). Các tác giả tiếp cận, tìm hiểu nghiên cứu các nét truyền thống văn hóa địa phương ở các địa điểm và thời điểm khác nhau cũng ít nhiều có những ghi nhận khác nhau. Chính điều này đã gây ra rất nhiều tranh cãi khi các tác giả viết về đề tài văn hóa địa phương. Có thể đây cũng là một phần trong nhiều lý do mà các tác giả chưa dấn thân toàn tâm toàn ý về đề tài văn hóa địa phương, dân tộc thiểu số.

Trong thời đại bùng nổ công nghệ số, công nghệ 4.0, ngồi một chỗ có thể nắm bắt được tình hình trong nước và thế giới nhanh nhất, điều này cũng ảnh hưởng đến tâm lý của người viết. Thay vì đi thực tế đến tận nơi để được mắt thấy tai nghe, sau một cái nhấn chuột thì vô số điều cần tìm hiện lên trên màn hình vi tính, điện thoại, tha hồ để họ tìm hiểu. Tất nhiên có những nguồn tin chính thống, có những nguồn tin không chính thống, đòi hỏi người đọc phải sàng lọc thông tin. Chính vì sự tiện lợi này, hình thành nên tâm lý “lười” đi tìm hiểu thực tế trong đa số người viết trẻ.

Sách, tài liệu, ấn phẩm nghiên cứu về văn hóa địa phương không nhiều và ít phổ biến. Thường chỉ có thể tìm thấy ở thư viện hoặc liên hệ chính tác giả để mượn, mua, xin sách về tìm hiểu. Tác giả nghiên cứu văn hóa địa phương còn ít. Thời gian đầu tư cho việc nghiên cứu chưa tập trung vì họ còn những công tác chuyên môn và cuộc sống mưu sinh. Quá trình nghiên cứu sưu tầm cũng gặp rất nhiều khó khăn vì phải đi xuống trực tiếp đến làng, xã xa xôi. Ngoài ra còn rất nhiều yếu tố khách quan khác. Đây cũng chính là một điểm hạn chế trong việc tìm hiểu văn hóa địa phương.

Cuộc sống hiện đại ít nhiều ảnh hưởng, thay đổi cuộc sống của người dân bản địa. Có thể vì điều này mà các lễ hội truyền thống ngày càng ít đi, ít dần cơ hội để những nhà nghiên cứu, những người quan tâm đến vấn đề văn hóa được tiếp cận, tìm hiểu và trải nghiệm. Sự “xâm nhập” cộng đồng này làm chính bản thân của vấn đề liên quan đến bản sắc văn hóa tự mai một mà ta hay “đổ lỗi” là do cuộc sống “hiện đại hóa”.

Các nghệ nhân lớn tuổi, giàu kinh nghiệm cũng mất dần theo thời gian. Lớp trẻ chưa kịp tiếp nhận, học hỏi, trải nghiệm đủ sâu để có thể truyền tải và phát huy hết những giá trị văn hóa của cộng đồng dân tộc mình. Địa phương chưa đáp ứng được công tác thu thập và bảo tồn những giá trị văn hóa kịp thời, hiệu quả. Người viết là người dân tộc thiểu số rất hiếm, trước đây có phát hiện và bồi dưỡng một bạn, sau đó, vì nhiều lý do mà bạn không bước tiếp con đường văn chương vốn dĩ rất nhọc nhằn này.

Công tác quảng bá văn hóa bản địa chưa được đầu tư đúng tầm, bài bản, chưa có kế hoạch và chiến lược lâu dài để những người quan tâm muốn tìm hiểu tiếp cận được. Nếu làm tốt công tác này sẽ là một trong những yếu tố để phát triển ngành du lịch cộng đồng, du lịch “xanh”, du lịch văn hóa, du lịch tâm linh… điều này cũng đồng nghĩa với việc góp phần vào công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa địa phương.

Những nguyên nhân trên đã ít nhiều tác động đến người viết trẻ tại địa phương. Bản thân họ chưa thực sự dấn thân, tìm hiểu, nghiên cứu để có đủ kiến thức, kiến văn và vốn sống phục vụ cho công việc sáng tạo nghệ thuật. Điều này được thể hiện rõ trong các tác phẩm của họ. Những vấn đề họ viết chỉ mới là phần nổi của “tảng băng trôi”, để tác phẩm có chiều sâu, ấn tượng, thể hiện, phô diễn được hết giá trị tinh thần văn hóa khu vực Tây Nguyên đòi hỏi sự tìm tòi, nỗ lực, cập nhật, bổ sung kiến thức cả về chiều rộng lẫn chiều sâu mới có thể khai thác hết phần chìm của “tảng băng trôi”.

Số lượng tác giả trẻ đầu tư nghiêm túc vào đề tài này chỉ đếm trên đầu ngón tay. Nhưng, có còn hơn không, mong rằng, các tác giả nhận ra sự quan trọng của việc chọn, khai thác đề tài văn hóa bản địa và dân tộc thiểu số địa phương trong sáng tác của mình để góp phần vào việc giữ gìn, phát huy các giá trị di sản văn hóa của địa phương. Đây cũng là một hình thức quảng bá văn hóa địa phương với bạn đọc cả nước và ra thế giới.

3. Giải pháp

Bản thân các tác giả trẻ cần có sự học hỏi, tìm hiểu, nghiên cứu nghiêm túc và sâu sắc hơn về kho tàng di sản văn hóa phong phú đa dạng của địa phương, để củng cố bồi đắp, kiến thức, kiến văn cho mình về mảng đề tài này. Cần có những kiểm chứng đảm bảo tính đúng đắn, trung thực của các dữ liệu thu thập để tránh những sai sót không đáng có. Điều quan trọng là các tác giả trẻ ý thức được vai trò trách nhiệm của mình trong việc đồng hành giữ gìn và phát huy bản sắc di sản văn hóa địa phương. Điều này thể hiện trách nhiệm công dân đối với nơi mình sinh sống và làm việc, đồng thời là trách nhiệm của người cầm bút đối với văn học, văn hóa địa phương đương đại.

Công tác sưu tầm, nghiên cứu, lưu giữ, phổ biến cần được quan tâm chú ý kịp thời từ các cấp Lãnh đạo. Đặc biệt cần có những kế hoạch ngắn và dài hạn, chiến lược phát triển lâu dài để vừa kịp thời bảo tồn, đồng thời phát huy hết thế mạnh của giá trị di sản văn hóa bản địa.

Đầu tư kinh phí phù hợp cho những dự án sưu tầm, nghiên cứu văn hóa dân gian tùy theo quy mô, giai đoạn để công cuộc bảo tồn, phát huy đạt hiệu quả.

Bản thân các dân tộc sinh sống tại địa phương cần nhận thức và ý thức được việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc mình. Bởi đó chính là cuộc sống, là máu thịt, là tinh hoa của chính cộng đồng của họ. Chỉ khi họ có ý thức thì việc giữ gìn và phát huy mới thực sự hiệu quả.

Huy động các nguồn xã hội hóa để sưu tầm, nghiên cứu, in ấn, lưu giữ, quảng bá những đặc sắc văn hóa của khu vực Tây Nguyên nói chung và Gia Lai nói riêng tạo hiệu ứng lan tỏa và phát huy tính hiệu quả cao nhất.

Hội VHNT duy trì Lớp bồi dưỡng sáng tác Văn học trẻ – Văn học dân tộc thiểu số hằng năm nhằm phát hiện, bồi dưỡng, dìu dắt các “búp măng non” khi còn ngồi trên ghế nhà trường để gieo vào lòng các em niềm yêu thích đối với văn chương, từ đó có thể phát triển thành đội ngũ sáng tác trẻ kế cận. Đồng thời tổ chức các buổi tọa đàm, hội thảo với sự tham gia của các văn nghệ sĩ tỉnh bạn để người viết có cơ hội giao lưu, trao đổi, học hỏi lẫn nhau, đồng thời tạo sự liên kết vùng miền, cùng nhau sáng tạo và phát triển.

4. Kết quả thực tế

Chúng ta dễ dàng tìm thấy những hình ảnh, chi tiết mang yếu tố văn hóa trong văn thơ của họ như: Hoa dã quỳ, thông, núi lửa Chư Đang Ya, Biển Hồ, trang phục thổ cẩm, rượu cần, bầu rượu, bầu nước,  điệu xoang, đàn T’rưng, gùi nước, núi đồi, bếp lửa, tiếng chiêng cồng trong các lễ hội… đây cũng chính là những hình ảnh mang tính biểu trưng cho nét đặc sắc văn hóa bản địa và trở thành di sản văn hóa địa phương.

Về phương diện thơ ca, đa số các tác giả đều có những bài thơ, câu thơ viết về cảnh sắc thiên nhiên và con người Tây Nguyên. Có những câu thơ giàu cảm xúc, hình ảnh gợi tả, ám ảnh, ấn tượng với độc giả. Có thể, vì sinh sống trên mảnh đất này nên tình cảm của họ dành cho đất và người thật chân thực đầy xúc động. Ta có thể điểm qua một số tác phẩm của các tác giả, văn nghệ sĩ trẻ đang sống và làm việc tại đây, để phần nào hiểu thêm về tình cảm của họ đối với mảnh đất đã, đang và sẽ “cưu mang”, dung dưỡng, bồi đắp cho tâm hồn họ để họ được thăng hoa trong từng trang viết.

Tây Nguyên trong thơ Hoàng Thanh Hương thật sống động đầy trải nghiệm, những hình ảnh, chi tiết được chị vận dụng vừa gợi tả vừa chân thực. “Trăng ngủ trên tẩu cha đêm pơ thi/ người già kể khan/ lúc bổng như tiếng mùa sinh sôi/ lúc trầm như lòng sông mùa cạn” (Ia Pa mùa gió).

Thiên nhiên và con người, thực và hư đan xen hòa quyện đầy ma mị nhưng cũng thể hiện rõ nét cuộc sống sinh hoạt của người dân tộc bản địa:

“Chiều quạnh quẽ ta ngồi trò chuyện/ Nghe hồn đi và giấc ngủ yên lành/ Đón cho cạn tình ta luyến tiếc/ Rượu ba năm thương đủ ba năm…Đêm với lửa với chiêng ta uống/ Hồn cạn đi rồi vĩnh viễn tạ từ/ Say và hát/ Và say và cạn/ Quanh nhà mồ tro cuốn tả tơi” (Viết ở khu nhà mồ). Sau này, Hoàng Thanh Hương làm thêm việc nghiên cứu văn hóa dân gian, có lẽ vì thế mà trong thơ văn chị nét độc đáo văn  hóa dân tộc được thể hiện đậm nét.

Lê Vi Thủy phác họa mùa gió vùng Cao nguyên đầy gợi tả  “Pleiku mùa gió/ Cô gái Jrai tóc nhuộm màu nắng/ Cõng gió đi về/ Trên những cánh rừng trơ khốc” và chẳng thể thiếu loài hoa đặc trưng của vùng đất đỏ Bazan “Pleiku mùa gió/ Những ngọn quỳ vàng e ấp nở” (Pleiku mùa gió).

Những hình ảnh thực tế gần gũi cuộc sống của người dân bản địa trên  vùng Tây Nguyên được tác giả đưa vào thơ đầy chân thực: “Những khuôn mặt không trang điểm/ Nắng gió cao nguyên đen xạm/ rạng ngời giấc mơ màu trắng/ Em gái Ba-na, Xơ-đăng, Giẻ-T’riêng, B’râu, Rơ-mâm/ Bên đồi cỏ xanh màu/ Nụ cười sương mai văn vắt/ Gùi đầy hoa, đầy cà phê/Rộn rã bước chân về” (Những khuôn mặt không trang điểm). Thơ Thủy viết về đề tài Tây Nguyên khá nhiều. Với phong cách tự do, dưới góc nhìn đầy màu sắc chiều kích của họa sĩ trẻ, thơ Thủy đã góp một phần nhỏ vào việc tô đẹp, lan tỏa những giá trị văn hóa vùng miền đến với bạn đọc.

Tây Nguyên trong thơ Đào An Duyên đầy chất triết lý nhưng không xa rời thực tế: “Có những chiều ngồi mục đi như tượng/ Mặc trăm năm trôi lặng lẽ qua đời… Người ngồi đó hóa thành tượng gỗ/ Ngỡ vô tri mà dằng dặc luân hồi/ Ta thăm thẳm. Cõi người – ma hỗn độn…/ chợt thấy mình giữa bộn bề lô nhô tượng/ Một thế giới lặng im vô cùng tận…/ Lòng mục ruỗng tự thân mình tượng gỗ” (Lời tượng gỗ). Có lẽ ám ảnh với hình ảnh tượng, vì vậy mà đề tài này, Duyên đã khắc họa được những pho tượng gỗ ở góc riêng của mình đầy chiêm nghiệm: “Này tượng/ Chúng ta tự ôm khuôn mặt mình từ trong bụng mẹ/ Khuôn mặt không ưu tư không mệt nhọc/ Không dối lừa không toan tính không khổ đau/ Còn buồn nào người kể nốt đi/ Rồi nhập hồn vào tượng/ Giọt nước mắt rịn ra từ thớ gỗ ngồi ôm mặt trăm năm nghìn năm/ Khuôn mặt đăm chiêu mục đi theo kiếp nhà mồ” (Chiều tượng gỗ). Ở Mắt chiều, một hình ảnh đẹp đầy chất nữ tính, chất thơ hiện lên qua hình ảnh người đàn bà Jơ Rai ngồi dệt vải đậm nét văn hóa truyền thống: “Người đàn bà Jơ Rai ngồi dệt vải/ …bà tay mải miết đưa thoi/ Những sợi chỉ màu đan vào nhau/ Đan vào cả chút nắng chiều còn sót lại/ …Bàn tay mải miết đưa thoi/ Những sợi chỉ sắc đỏ, đen, chàm/ Màu của đất/ Của cây/ Của rừng/ …Bàn tay vẫn mải miết đưa thoi/ Những sợi chỉ sắc đỏ đen chàm hiện lên thành thổ cẩm”.

Một Tây Nguyên khốc liệt hiện lên trong thơ Lê Thị Kim Sơn đầy ám ảnh “Những cơn mưa xám/ Lở lói núi, đồi/ Cuộn trôi sùng sục Bazan ngầu bọt đỏ/ Tây Nguyên tắt nắng/ Tây Nguyên mưa/ Triền miên mưa/ Trên nương/ Trên rẫy/ Trên những mục nát thời gian rệu rã của mẩu gỗ đã từng là tượng nhà mồ/ Ngôi nhà mồ lặng im/ Âu sầu kí ức”(Mùa mưa lở lói). Cũng vẫn bút pháp tả thực, Cao nguyên một lần nữa được mô tả trần trụi đến thương “Khoảng mùa khô dài rộng và trống trải trên Cao nguyên/ Thổi bùng đám bụi/ Lũ trẻ đen nhẻm/ Cười ngây ngô trong tàn tàn nâu xám dã quỳ trụi/ Gấu xà rông nặng trĩu đám hoa văn tỉ mẩn lách cách dệt/… Mái đầu người già lại bạc thêm/ Dấu nhăn thời gian nứt nẻ theo mùa khô trường kì/ Người trẻ vẫn hát/ Tiếng chiêng đời đời truyền lại nơi đất đỏ lạc nhịp” (Khoảng trống Cao nguyên).

Một Tây Nguyên lãng mạn trữ tình như một lát cắt mềm mại đối lập với hình ảnh vừa đề cập hiện lên trong thơ của tác giả Lữ Hồng: “Hãy tìm em giữa thành phố mù sương/ mùa xuân buốt những điều chưa nói/ tóc em bay thắt anh vào sâu thẳm/ một sợi mềm như gió cao nguyên/ Về đi anh dẫu một lần như khách/ làng bây giờ có tuổi đất thành tên/ cao nguyên cháy trong quỳ vàng đốm cuối/ dìu vòng xoang vào đêm” (Hãy tìm nhau giữa mùa xuân). Những hình ảnh thi vị nên thơ với cách viết chân phương đã vẽ ra một vùng Cao nguyên mênh mông như bức tranh thủy mặc: “Miệng núi đã khô trên đỉnh thời gian/ lửa còn cháy lời nữ thần thao thức/ vòng chiêng ôm đầy chóe rượu/ hỏi người đi tìm lời ru mặt trời có về kịp khuya nay/ Hoa gạo non vẫn ửng tháng ngày/ sương quyện trà xanh rau rừng thơm suối/ thông già thêm bao cội/núi cao không giữ chim trời/ Khi mùa đến trong mắt nhau/ cao nguyên/ cao nguyên/ tóc Mẹ đã chảy tràn cơn giông đất đỏ/… Nơi khói sương hiểu lòng người” (Khi mùa đến trong mắt nhau).

Thuận Ánh với những câu thơ mềm mại, nữ tính cũng đã tự ghi dấu mình trong những lần về với buôn làng: “Ia Rnho, Ia Prong, Ia Pua – những tên làng, tên buôn quen thuộc/ Ma Hing, Ma Leo khởi sắc tươi màu/ Sẽ nhớ Đất Bằng/ sẽ nhớ về nhau/ Nhớ thác buôn Ma Giai uốn cong dòng nước/ Hoàng hôn chưa muốn nói những lời từ biệt/ Đàn bò tơ ngơ ngác sắc cầu vồng” (Về với Đất Bằng).Hình ảnh cuộc sống bình thường dung dị của người dân hiện lên thật sinh động: “Những sợi tóc tre/ vảng vương mùi khó nhọc/ bàn tay em gầy/ đen nhẻm nhựa cà phê/ Mắt em tròn vo cười trong gió vi vu/ Vàng dã quỳ/ cong con đường sang rẫy/ Tấp nập những gùi lúa, ngô, khoai, mì/ Những quả của rừng béo ngậy” (Về làng).

Trần Hồng Vân: mở ra một bức tranh trên đỉnh Chư Tao Yang thênh thang mời gọi “Trên đỉnh Chư Tao Yang mênh mang/ Lời vọng về trong gió/ Ai tôi gươm thần bằng máu/ Cho bời bời ruộng nương/ Cho êm đềm dòng chảy/ Sông Pa hiền hòa/ Mùa vàng trên tay em/ Cô gái Jrai, Bana…/Trên đỉnh Chư Tao Yang/ Ta nghe huyền tích/ Gươm thần, vua lửa/ Không ngai/ Tạc vào lòng dân…/ Trên đỉnh Chư Tao Giang nhìn về/ Cánh đồng Ayun Hạ/ Đàn cò ở đó/ Khói chiều lơ lửng/ Ánh lửa bập bùng/ Chiều Plei Ơi như bỏ bùa mê/ Cội nguồn gọi tôi” (Trên đỉnh Chư Tao Yang).

Mai Hương tha thiết trữ tình trong từng câu chữ để gởi gắm tình cảm, sự xúc động của mình trước những thay đổi của thời gian và không gian lễ hội: “Cho ta say mỗi độ mùa về/ Cùng tiếng chiêng, vòng xoang đêm lễ hội/ Ánh mắt Chư Đang Ya như ngàn đốm lửa/ Cháy lòng ta khắc khoải mối tình si. (Chư Đang Ya là em); Sắc màu bản địa đã đi vào thơ Hương một cách tự nhiên giàu hình ảnh gợi tả “Tháng ba Pơ lang sắc đỏ/ Cháy một khoảng trời thương yêu/ …Người ơi củi em đã đủ/ Cho một mùa xuân ấm nồng/ Xúng xính áo quần thổ cẩm/ Băng cài em làm cô dâu/ Củi em chất đầy góc bếp/ Cho một mùa yêu bắt đầu (Cõng củi mùa xuân).

Võ Minh Hạnh cũng gởi gắm tình yêu với Pleiku: “Chắc Pleiku mùa này trời cả gió/ Nắng chiều nghiêng qua dãy núi xanh mơ/ Dốc vẫn dốc, dốc đổ nghiêng vào dốc/ Trời đầy sương mây thấp phủ giăng mờ (Lạc phía quê nhà). Thuở hồng hoang ai biết tự bao giờ/ Nhưng chàng  Đam San trong em là có thật/ Anh-vị thần cùng những bước chân vững chãi/ Bước ra từ trong những giấc mơ em (Giấc mơ thiếu nữ)”.

Nguyễn Thị Diễm xuất hiện tương đối muộn. Diễm đến với văn chương bằng những tản văn đầy chiêm nghiệm. Tuy nhiên, những lần đặt bút làm thơ, Diễm cũng đã phác họa một khoảng tâm hồn mình với những hình ảnh gần gũi với cuộc sống của người dân địa phương: “Chiêng ngân hay ánh lửa chờn vờn/ người hoá đá cho trăng non vừa hát” (Đêm Kông ChRo). Hay: “Mặt trời nghiêng bóng nắng/ lúa rẫy bừng sắc hương/ phía nhà rông cha ngồi đếm gió/ tìm tuổi mình qua những nếp gân tay/ ban mai vừa tay em lấp lánh/ cõng nắng, rong chơi qua bao núi/ những vạt đồi cong cong mềm mại/ vắt vai mẹ tấm áo ướt lưng thon” (Mùa hoa trắng trên đồi).

Võ Duy là “lính mới”, Duy bén duyên với văn chương không lâu nhưng cách Duy lựa chọn đề tài, cách sử dụng câu từ, hình ảnh khiến người đọc khá ngạc nhiên: “Em Bana đôi lóng nước/ Gót chân xoay tròn/ Vượt dốc/ Lúng liếng/ mắt trong/ Nẩy ngực/ Chợt nắng ngừng nghiêng/ Đổ tràn lên dốc/ Nếp nương son … đang thì (Mùa treo); Đồi ngạt gió/ Ngấn mắt lưng ngày đổ mưa/ Bazan thẫm màu/ Những con dốc dài phủ rêu/ Sóng xoài đỏ oạch/ Nơi tôi lớn/ Cây rừng rỉ nhựa thơm/ Em tôi những thân trần/ Quẫy bùn đá bóng/ Những lưng đồi hạt nẩy mầm say/ Mẹ già gùi ăm ắp/ Khói bếp ngạt nhà sàn (Nơi tôi lớn).

Nguyễn Mỹ Linh cũng là cây bút mới nhưng lại viết khá nhiều so với người mới bắt đầu. Đề tài Linh viết khá phong phú và cũng dành một phần tâm hồn cho vùng đất Bazan nắng gió : “Dã quỳ vàng gieo hạt nẩy trong tôi/ Thắp hi vọng là hào quang mở lối/ Ngàn năm vẫn không nhạt phai thay đổi/ Sáng tinh khôi lên ngày mới dịu dàng/ Dã quỳ vàng trên đất đỏ Bazan/ Mưa nắng gió chịu đắng cay chẳng nản/ Đời vất vả đôi bàn tay chai sạn. Giọt mồ hôi nuôi mộng ước ngọt lành” (Dã quỳ vàng).

Bản thân tôi cũng quan tâm đến mảng đề tài này và có một vài câu thơ “rút ruột” với mảnh đất cưu mang mình khi được hòa mình vào một vài lễ hội của người dân bản địa: “Những đêm pơthi đảo chao giữa người – ma – trời đất/ Cần rượu linh thiêng trĩu nặng ân tình/ Người uống cùng ma một lần sau cuối/ Say đêm này say tận những hôm sau (Đất đỏ)” Vì đặc biệt ấn tượng với những mùa lễ hội nơi này nên từ những ngày tập tành viết lách đã gõ những dòng thơ về Mùa ning nơng: “Réo rắt chung chiêng thanh âm dài ba đồi bảy núi/ rừng mở cửa gọi mùa/ mùa vàng chảy tràn trong mắt/ mùa ăn năm uống tháng/ mùa gọi người về buôn/ những đứa con sinh ra từ núi/ những đứa con sinh ra từ rừng/ những đứa con sinh vào mùa ning nơng/ khỏe như Đam San/ đẹp như Thần nữ/ lớn nhanh và mạnh mẽ/ tập đàn goong, tập bắn cung, tập lời hò hẹn/ khi váy dệt đầy gùi, củi chất đầy sàn/ bàn chân muốn đi/ đôi tay muốn níu/ chúng sẽ sàng rời nhà sàn bằng niềm tin vững chãi/ Trong đêm” (Mùa ning nơng).

Điểm qua những gương mặt thơ trẻ để thấy được niềm đam mê với văn chương và câu chữ ở những người viết. Ở họ, chúng ta thấy được niềm yêu thích văn chương nói chung và văn hóa truyền thống của địa phương nói riêng. Có thể lúc sáng tác, họ chưa nghĩ đến những việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa. Nhưng ít nhất, họ đã có ý thức ca ngợi và lan tỏa những nét đẹp của văn hóa truyền thống đến với công chúng trên cả nước.

Ở mảng văn xuôi, một số tác giả đã tìm hiểu và dấn thân với thử thách về đề tài văn hóa bản địa. Tuy nhiên, đối với những người am hiểu về văn hóa địa phương thì chỉ cảm nhận được ở mức độ nông, gọi tên sự vật hiện tượng, điểm tên qua từng con chữ, hình ảnh chứ chưa thực sự thấy được những hình ảnh chi tiết đó được nâng tầm ở mức cao hơn, thể hiện bản sắc văn hóa đặc trưng một cách sâu sắc. Một số tác phẩm đã được tác giả đầu tư tìm hiểu và đi sâu vào khai thác những nét văn hóa đặc sắc thể hiện nét đặc trưng văn hóa vùng miền và đề tài dân tộc thiểu số như Hoàng Thanh Hương: “Những đứa con của buôn Nú, Người đi về vùng sương, Làng Nak, Về làng, Dưới tán rừng còn lại, Mùa Pơ Lang cuối cùng...(giải C Hội VHNT DTTS VN); Lê Vi Thủy với loạt truyện ngắn gây ấn tượng “Trăng đỏ, Trăng treo đầu núi, Rừng gió, Png Tơnga, Dưới ánh chiều tà Miếng gỗ mặt người (giải B – Hội VHNT Đắk Lắk phát động); Lê Thị Kim Sơn: “Làng Kong, Trăng lạc, ngọn khói Ngol thơm, Bài hát gọi ngày, Tiếng hát của rừng, Làng trong phố, Lá chắn xanh (giải B – Bộ Công an phát động)”;  Nguyễn Thị Thanh Thúy: “Nơi cơn bão đi qua, Sao cát xanh,  Thênh thang M’Đrắk (giải C cuộc thi do Tuyển tập Đường văn thuộc Hội Nhà văn Việt Nam phát động), Mai hoa quyền (Giải đặc biệt – Bộ Công an phát động)”;  Li Phan tuy mới xuất hiện nhưng đã chú tâm vào mảng đề tài dân tộc thiểu số với chùm truyện ngắn: “Dệt thương lên vải, Trong lòng Chư Nâm, Đợi những mùa hoa, Rồi ngày nắng đẹp (giải A Bộ Công an phát động);”… Số lượng tác phẩm còn dừng lại ở mức khiêm tốn. Sức nặng của tác phẩm cũng ở mức độ vừa phải. Tuy nhiên, điều đáng mừng là người trẻ đã tùy lực, tùy tâm góp phần vào việc “giữ gìn cho muôn đời sau” những nét văn hóa địa phương đậm đà bản sắc dân tộc vào từng sáng tác của mình ở mảng đề tài này. Điều này, đáng ghi nhận và trân trọng.

III. Kết luận

Trong khuôn khổ bài viết, những ý kiến của tôi mang tính chủ quan, cá nhân về diện mạo những người viết trẻ (và cả không còn trẻ) trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa của địa phương, có thể có những ý kiến bất đồng, với sự quan sát và ghi nhận của mình, tôi xin được đóng góp một phần ý kiến của mình trước vấn đề chung, vấn đề lớn mà đơn vị chủ trì nêu ra.

Trong dòng chảy của văn học cả nước, văn học Gia Lai vẫn âm thầm như những nhánh sông đổ về biển lớn. Trong vô vàn đề tài các tác giả, văn nghệ sĩ đề cập đến ở các sáng tác của mình, ta nhận ra một mạch ngầm vẫn len lỏi âm thầm chảy trong đời sống văn học tỉnh nhà. Mạch ngầm ấy là mảng đề tài dân tộc thiểu số gắn liền với di sản văn hóa địa phương với những nét truyền thống quý giá đậm đà bản sắc dân tộc.

Ý thức và trách nhiệm cũng như tình yêu với mảnh đất Tây Nguyên này luôn luôn hiện hữu trong tầm hồn và suy nghĩ của các văn nghệ sĩ tỉnh nhà. Tuy nhiên, trước những thực trạng, nguyên nhân, giải pháp và tình hình thực tế nêu trên, tôi nghĩ rằng chúng ta, những người đang làm nhiệm vụ, những người yêu thích văn hóa truyền thống địa phương cần có những hành động, quyết sách, chính sách kịp thời. Một mặt vừa bảo tồn, gìn giữ những di sản văn hóa địa phương trước sự mai một nhanh chóng của guồng quay cuộc sống, đồng thời tích cực lan tỏa, phát huy những giá trị văn hóa độc đáo để nhằm thúc đẩy sự phát triển của địa phương, nhất là mảng du lịch văn hóa trong thời gian tới.

NGÔ THANH VÂN

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *