Tuần phủ Lê Trung Ngọc với việc bảo tồn di tích

Vanvn- Lê Trung Ngọc là vị quan có tinh thần dân tộc cao và rất có ý thức trong việc bảo tồn văn hóa, di sản, cổ tích của dân tộc. Việc định lệ Ngày Quốc lễ giỗ tổ Hùng Vương là một minh chứng rõ nét, một kết quả lớn từ một cái tâm lớn là điều không ai bàn cãi,…

Tuần phủ Lê Trung Ngọc (1867-1928) người ấp Tân Quảng, huyện Bình Dương, tỉnh Chợ Lớn (nay là TP Hồ Chí Minh). Ông từng trải qua nhiều chức vụ trong triều như: Án sát Vĩnh Yên, Sơn Tây, Tuần phủ Sơn Tây, Phú Thọ, Bắc Giang, Quảng Yên, Tổng đốc Hải Dương và cuối cùng là Tổng đốc tòa thượng thẩm Hà Nội.

Chân dung Tuần phủ Lê Trung Ngọc. Nguồn: Trung tâm lưu trữ Quốc gia 1.

Như chúng ta đã biết, năm 1917, khi làm Tuần phủ Phú Thọ, Lê Trung Ngọc đã làm bản tấu trình, và được Bộ Lễ đồng ý định lệ hàng năm lấy ngày 10 tháng 3 Âm lịch để tổ chức quốc lễ Giỗ Tổ Hùng Vương. Việc này đã được ghi rõ trong tấm bia “Hùng miếu điển lệ bi” (Bia điển lệ miếu Hùng Vương) do Hội đồng kỷ niệm tỉnh Phú Thọ lập và dựng tại đền Thượng – Đền Hùng mùa xuân năm Quý Hợi, niên hiệu Khải Định năm thứ 8 (năm 1923).

Trong bài viết “Tuần phủ Lê Trung Ngọc với việc định lệ Quốc lễ Giỗ Tổ Hùng Vương” trên webiste của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 1, tác giả Phạm Bá Khiêm – Hội Văn nghệ dân gian Phú Thọ đã có nhận xét rất chính xác về Tuần phủ Lê Trung Ngọc: “Tuần phủ Lê Trung Ngọc luôn được người đời tôn trọng vì ông là ông quan gần dân, thương dân, cảm thông với nỗi khổ của người nông dân; đồng thời ông cũng là người có tư tưởng tiến bộ, có ý thức tiết kiệm ngân khố của dân, của nước” và “Lê Trung Ngọc là người có công đầu trong việc chính thức định lệ ngày quốc lễ trọng thể này”.

..Lăng mộ vua Hùng, khoảng 1920-1929. Ảnh lưu trữ của Pháp.

Lê Trung Ngọc là vị quan có tinh thần dân tộc cao và rất có ý thức trong việc bảo tồn văn hóa, di sản, cổ tích của dân tộc. Việc định lệ Ngày Quốc lễ giỗ tổ Hùng Vương là một minh chứng rõ nét, một kết quả lớn từ một cái tâm lớn là điều không ai bàn cãi, không những thế, qua những tư liệu tìm được, chúng tôi nhận thấy tư duy, nhiệt huyết đó của Tuần phủ Lê Trung Ngọc là nhất quán, xuyên suốt trong những thời gian làm quan của ông.

Trong bài Diễn thuyết về nông nghiệp tương tế hội ngày 22.5.1924 ngày 1.7.1924 Lê Trung Ngọc có nói: “Ý hướng và tính nết một dân tộc lớn không phải sức người tạo lập ra được, không phải bởi một sự học mà làm thành ra được. Bởi thế tôi kết luận lại rằng, trong nước mà quốc dân còn tín ngưỡng điều gì là “còn có phúc”, ngày nào mất hết lòng tín ngưỡng là hết đức tốt vậy” (Tập san Hội Trí Tri, số 3.1924).

Đặt niềm tin vào “tín ngưỡng” của quốc dân tức là đặt niềm tin vào văn hóa, phong tục, sự trường tồn của dân tộc. Trên Thực nghiệp dân báo, số 1279 – 1280 ngày 22 và 28.1.1925, Tuần phủ Lê Trung Ngọc viết bài “Ta nên bảo tồn cổ tích”, như một lời nhắc nhở và báo động với xã hội trong việc ứng xử với di tích của cha ông.

Cổ tích – di tích theo quan niệm của Lê Trung Ngọc rất gần gũi, thực tế. Ông viết: “Lấy con mắt thường mà coi, thì một viên ngói, một hòn gạch, một mô đất, một bức tường, trải bao gió táp mưa sa, rêu phong bụi lấm, còn có vẻ gì là tráng lệ khả quan đáng nên gìn giữ. Song lấy con mắt của một nhà khảo cổ mà xem xét thì những vật ghi tích đó biết bao nhiêu là tinh thần, anh khí, mĩ thuật kì công của cổ nhân, khiến cho ta còn có thể bởi đó mà phảng phất cao phong, thăm dò dấu vết nhớ đến việc xưa mà sánh đến việc nay, lấy việc trước làm thước đo mà đo sự tiến bộ, thoái bộ. Bởi vậy cho nên người nước văn minh thận trọng cổ tích, đề xướng lên việc bảo tồn cổ tích, là có ý cao thượng ấy vậy”.

Năm 1917, khi làm Tuần phủ Phú Thọ, Lê Trung Ngọc đã làm bản tấu trình, và được Bộ Lễ đồng ý định lệ hàng năm lấy ngày 10 tháng 3 Âm lịch để tổ chức quốc lễ Giỗ Tổ Hùng Vương. Việc này đã được ghi rõ trong tấm bia “Hùng miếu điển lệ bi” (Bia điển lệ miếu Hùng Vương) do Hội đồng kỷ niệm tỉnh Phú Thọ lập và dựng tại đền Thượng – Đền Hùng mùa xuân năm Quý Hợi, niên hiệu Khải Định năm thứ 8 (năm 1923).

Từ đó, Tuần phủ Lê Trung Ngọc bày tỏ nỗi ngậm ngùi, luyến tiếc nếu những di sản của cha ông không được bảo tồn: “Những nơi rêu phong cỏ mọc kia, tức là một pho sử, một mảnh gương để cho ra soi xét về trình độ tiến hóa. Những tinh hoa thuần chú của các đấng cổ nhân còn phảng phất di lưu tạ đó. Những cái di sản quý báu như thế trong một cõi sơn hà đã bốn ngàn năm thật là cổ lắm, mà nay không bết bảo tồn lấy, để cho phong tràng, vũ hãm tiêu diệt đi mất, trong lòng ta đáng bùi ngùi biết nhường nào. Đời sau lấy trong di tích mà làm cúng cho lịnh sử. Thế thì những nơi cổ tích may mà còn sót lại đây, sau này mất hay còn,, cài then chốt thật là quan hê ở tấm lòng. Tiền cổ của quốc dân ta lúc này vậy”.

Quang cảnh lễ hội đền Hùng, khoảng 1920-1929. Ảnh lưu trữ của Pháp.

Điểm qua những di tích vào thời điểm đó, Lê Trung Ngọc mang cái tinh thần của người yêu di sản, văn hóa cha ông mà thấy ngổn ngang trong lòng: Các lăng mộ về đời nhà Lý thì “lăng nào cũng thành từng quả núi con một, không có xây gì cả”. Tám ngôi lăng của các vua nhà Trần ở xã Yên Sinh, và một ngôi ở xã Đạm Thụy, đều thuộc về huyện Đông Triều tỉnh Hải Dương thì có xây, song “vì từ xa, người khuất cũng là giặc Tầu tàn phá, nên nay rất là tiều tụy, mộ thành một nơi tổ thỏ, hang hổ”. Tám ngôi lăng ở xã Yên Sinh này, “nếu các quan tỉnh Hải Dương không nhiệt thành mà tìm cách giữ lấy để cho một nơi cổ tích quý báu như thế chỉ phó thác vào một xã sở tại đó trông nom, thì nơi đó cũng khó lòng mà bảo tồn được”; Lăng vua Lê Thái tổ ở Thanh Hóa thì “Hoang vu, tịch mịch”. Cho nên, “nay rất nên mau kíp tu bổ và tìm cách bảo thủ lấy trước là bảo tồn được một nơi cổ tích, sau là tỏ tấm lòng trung hậu đối với các đấng tiên vương; nên ta cứ nguội lạnh hững hờ chắc không bao lâu cũng sẽ theo mãi gươm vua Lê mà trầm một ở đất hồ Hoàn Kiếm, chả là một sự thiệt thòi cho ta lắm ru?”

Cuối bài báo, Tuần phủ Lê Trung Ngọc đưa ra quan điểm tu bổ, “canh cải”, nói theo ngôn ngữ ngày nay gọi là trùng tu. Theo đó, quan điểm này của Lê Trung Ngọc vẫn còn khá phù hợp với việc trùng tu di tích ngày nay. Ông viết: “Còn như tu bổ thì tu bổ làm sao? Điều ấy đã có các quan địa phương lo liệu, duy thiển nghĩ chính chỗ do tính thời chỗ nào hư hỏng thì chỉ nên sửa lại cho được như nguyên chứ không nên canh cải, để cho người xem mà biết việc xưa, còn bao la ra ngoài muốn làm thêm việc gì cho tráng lệ thì làm hẳn riêng ra chứ chẳng nên nhân nền cũ mà châm chước sửa đổi thì cũ chẳng ra cũ, mới chẳng ra mới, mất hết tinh thần cổ tích vậy”.

NGUYÊN PHONG

Trí Thức Nông Dân

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *