Trần Trí Thông – Người đi qua lửa đạn bằng những câu thơ nhân văn

Vanvn- Như tin đã đưa, sau một thời gian lâm bệnh nan y, nhà thơ Trần Trí Thông – Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam đã qua đời lúc 19h31 ngày 29.10.2025 (nhằm ngày 9 tháng 9 năm Ất Tỵ) tại TPHCM, hưởng thọ 70 tuổi. Tưởng nhớ nhà thơ quân đội có những đóng góp cho văn học, Vanvn.vn trân trọng giới thiệu bài viết của nhà thơ Nguyễn Thị Thanh Long về nhà thơ Trần Trí Thông.

Nhà thơ Trần Trí Thông (1956 – 2025). Ảnh: Mai Khoa

 

>> Nhà thơ Trần Trí Thông qua đời ở tuổi 70

>> Trường ca máu thịt của người-lính-thơ Trần Trí Thông

 

Trong những người lính – thi sĩ của thế hệ sau 1975, Trần Trí Thông là một giọng thơ đặc biệt. Ông không ồn ào, không thích nói về mình, nhưng ai từng đọc thơ ông đều có cảm giác như được ngồi lại bên một người lính kể chuyện chiến tranh bằng giọng nhỏ nhẹ, mà mỗi câu như khói, như tro, thấm dần vào lòng người đọc.

Trần Trí Thông sinh ra để làm thơ. Nhà thơ Trần Trí Thông sáng tác từ thuở còn học sinh, đã xuất bản các tập thơ: Điều anh muốn nói với em (2005); Em đừng chia nửa vầng trăng (2005 ); Lục bát tìm mùa (2006); Không thể bắt đền (2011); Tiếng gà gáy trong ba lô (2014); Chân bùn em lội (2018); Tôi em và một (2022)…

Điều khiến người đọc yêu mến Trần Trí Thông chính là chất lục bát của ông, mộc mạc mà ám gợi, thấm như hơi đất đồng quê, như khói bếp chiều quê mẹ. Trong tay ông, lục bát không còn là vần điệu cổ truyền mà trở thành nhịp thở của người lính, nhịp đời của một thế hệ:

“Tôi mang thơ đến Trường Sơn

Viết câu lục bát vào cơn mưa rừng.”

“Bao nhiêu trai đẹp – gái xinh

Hóa thân thành khúc thơ tình dở dang.”

Những câu thơ giản dị mà ám ảnh. Một “cơn mưa rừng” cũng hóa thành tiếng vọng của thời đại. Một “khúc thơ tình dở dang” cũng trở thành tượng đài cho tuổi hai mươi chưa kịp lớn.

Cái hay trong thơ Trần Trí Thông nằm ở chỗ ông không gào lên về nỗi đau, mà để nỗi đau tự hát. Ở Trần Trí Thông, mỗi bài thơ là một nén tâm hương. Ông viết cho đồng đội, cho những người không trở về, cho cả mẹ già chờ con dưới mái hiên mưa dột.

Nhà thơ Trần Trí Thông từng viết:

“Tôi từ trận mạc về đây

Câu thơ in dấu đường cày của cha…”

Một câu thơ mà người đọc chỉ có thể im lặng. Không một từ bi thương, nhưng nặng trĩu tình người. Trong những trang viết của ông, chiến tranh không còn là súng đạn, mà là ký ức, là nhân tính bị thử thách và được cứu rỗi bằng thơ.

Trần Trí Thông yêu thơ như yêu chính sự sống của mình. Dù khi mắc bệnh hiểm nghèo, ông vẫn không rời ngòi bút. Những ngày cuối, ông vẫn miệt mài chỉnh sửa bản thảo Mặt trận gần phía trước – Trường ca như một bản tổng kết trọn vẹn đời lính, đời người, đời thơ.

Có người nói: “Ông không viết để được in, mà để được sống thêm cùng câu chữ.” Quả vậy, Mặt trận gần phía trước ra đời trong chính giai đoạn ông vật lộn với cơn đau thể xác, nhưng mỗi câu thơ lại sáng trong như một lời tiễn biệt:

“Tôi ngã vào thơ như một chuyện đã rồi…”

Viết là cách ông sống. Và khi không còn viết nữa là lúc ông bình thản gửi lại tất cả cho đời.

Nhà thơ Trần Trí Thông (thứ 3 từ trái sang) cùng đồng nghiệp viếng tổ đình Long Tường ở Phú Yên

Giờ đây, Trần Trí Thông đã “dừng lại cuộc chơi chữ nghĩa”. Nhưng những gì ông để lại không phải chỉ là những tập thơ in, mà là một thái độ sống trung thực, thủy chung và đầy nhân hậu.

Trong dòng chảy thơ ca hậu chiến, thơ Trần Trí Thông như một bến lặng: không ồn ào, không đòi ghi công, chỉ âm thầm lưu giữ giọt sáng của lương tri con người. Đọc ông, ta như nghe được tiếng bước chân đồng đội trong sương sớm, tiếng thở dài của người lính già nhìn cánh đồng sau mùa gặt, và cả ánh mắt mẹ hiền giữa chiều gió lặng:

“Ừ thôi trận mạc đã xong

Vườn xuân đã nhuộm đào hồng sắc quê…”

Câu thơ ấy khép lại một đời cầm bút, khép lại bằng một sắc hồng, không phải màu tang thương. Bởi với Trần Trí Thông, thơ là sự hóa giải, là cách để đi qua chiến tranh mà vẫn còn nguyên vẹn trái tim người.

Ông đã đi rồi. Nhưng những câu thơ ấy vẫn ở lại, như một mạch nước ngầm chảy qua bao thế hệ: ấm, thật, và trong. Trần Trí Thông – người lính viết thơ bằng ký ức, người thi sĩ đi qua chiến tranh bằng lòng nhân hậu đã gửi lại cho đời một di sản không ồn ào nhưng bền bỉ: những câu lục bát sáng như ngọn đèn giữa đêm Trường Sơn.

               NGUYỄN THỊ THANH LONG

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *