Nhà văn Ngô Thảo một nhân cách – một trái tim

Vanvn- Những người đã đi qua chiến tranh với cây súng trong tay, thì hầu như họ không thể quên được những gì đã trải qua. Càng về sau, kỷ niệm nào cũng nhạt nhòa, quên nhớ. Vậy mà chỉ những tháng năm trận mạc là nằm lại, ám ảnh mãi mãi.

Ngô Thảo cũng vậy.

Sinh ra trong loạn ly, quân ngũ trong khói lửa, anh như thể được đóng dấu ấn của một thời. Độc quyền. Vĩnh viễn.

Dù sống nhiều tháng năm hòa bình, Ngô Thảo vẫn còn nguyên: Trí óc chiến chinh. Trái tim người lính.

Những gì anh viết ra, chẳng thể đi đâu ngoài Thao thức phần đời chiến trận, Dĩ vãng phía trước …

Hỏi rằng liệu anh có muốn thoát ra khỏi bóng phủ quá khứ ấy không. Chắc chắn một điều: Không còn nó, Ngô Thảo cũng chẳng còn lại gì cho mình, cho đồng đội, cho cuộc đời.

Một người luôn sống với quá khứ trước mặt, thì tương lai cũng thuộc về ngày xưa mất rồi, thì trái tim người ấy hỏi còn có mấy chỗ cho ai.

Trên văn đàn, Ngô Thảo là trường hợp, hay hiện tượng đặc biệt.

Đặc biệt không phải người gây chú ý ngay từ đầu bằng cuốn sách đầu tay gây tiếng vang. Càng không phải người vì mang nhiều giai thoại, biệt danh mà được bạn bè, đồng nghiệp trìu mến, hài hước nhắc tới lúc trà dư tửu hậu. Mà đặc biệt bởi cách anh sống, điều anh làm.

Không thể nhìn nhận, đánh giá từ bất cứ góc chủ quan hay khách quan nào, anh đơn giản trong phức tạp, mãnh liệt trong bình thản và cực kỳ sôi động trong lặng lẽ…

Vì tính cách ấy, Ngô Thảo gắn bó máu thịt với phần đời chiến trận, những nhà văn mặc áo lính, trân trọng vô cùng tác phẩm đồng đội lúc nào cũng nóng bỏng đạn bom và những di cảo họ để lại khi ngã xuống.

Không thể khác được, bởi một thời anh sống cùng đồng đội, cùng trải qua quãng thời gian khắc nghiệt mà hào hùng nhất của lịch sử Đất nước.

Cuộc chiến tranh vệ quốc ấy đã thu hút tất cả những người cầm bút dũng cảm. Họ lăn xả vào cuộc chiến, coi miền đất chết là nơi tác phẩm ra đời, cất cánh bay lên. Không được đi chiến trường, với họ là điều thiệt thòi lớn, thậm chí không thể chấp nhận được. Vì sống và viết ở mặt trận chính là biểu hiện trọn vẹn, đáng nể trọng và tự hào nhất của nhân cách.

Thử lửa mặt trận, được coi là phẩm chất, tài năng xác thực nhất của nhà văn.  Cứ như phải có mặt ở nơi nóng bỏng nhất, dễ chết nhất, cảm nhận và viết về nó, nhà văn mới hoàn thành thiên chức vậy.

Nhà văn Ngô Thảo

“Giá trị lớn nhất, trước nhất, quan trọng và chủ yếu của mọi sáng tác trong những năm chiến tranh là giá trị của những bằng chứng về sự có mặt của văn nghệ sĩ bên cạnh người lính ở mọi điểm lửa của cuộc chiến đấu. Giá trị của từng tác phẩm, trước hết vẫn là giá trị một thứ nhân chứng, tài liệu, tư liệu, số liệu chính xác kiểu thực mục sở thị, mắt thấy tai nghe…” (Ngô Thảo).

Để làm được điều đó, họ phải vượt qua gian khổ, thậm chí nỗi sợ bản năng, chấp nhận tình huống xấu nhất là phải trả bằng mạng sống.

Ngô Thảo cặm cụi, chịu khó “đi nhặt”, chắt chiu những ngắn dài tác phẩm: Truyện, ký, ghi chép, cảm nhận tức thì…của những nhà văn – chiến sĩ. Anh nâng niu như chính những đứa con mình, chính thịt xương mình đổ xuống để lại cho đời những tinh lọc bằng máu… rồi cẩn trọng cất giữ, trang trọng bình luận, thận trọng in ấn và…trân trọng giới thiệu ra công chúng.

Có thể, Thao thức với phần đời chiến trận chưa phải là cuốn sách hay nhất của Ngô Thảo. vì cho đến tận bây giờ, amh vẫn đều đều ra sách. Nhưng chắc chắn, “phần đời chiến trận” từng làm anh thao thức, đau đáu để viết về nó lại là phần đời, phần văn hay nhất, bi tráng nhất được anh viết hào hứng, cảm xúc nhất.

Phần đời chiến trận của anh rất cụ thể: Đó là Nguyễn Thi, là Chu Cẩm Phong, Lê Anh Xuân, Thu Bồn… Những nhà văn cầm súng.

Vô cùng hiếm hoi, thậm chí không mấy ai nhìn thấy Ngô Thảo ăn mặc đẹp, xúc động rưng rưng bước lên sân khấu trong ánh sáng chói lòa, tiếng nhạc hào hùng và hãnh diện đưa ngực cho ai đó gắn huân chương.

Một nhà phê bình đã “bình” thế này:

“Tự xếp mình vào trường phái “phù suy”, nhiều năm Ngô Thảo đi tìm

chân dung, tiểu sử các nhà văn đã hy sinh trong hai cuộc kháng chiến. Từ Trần Đăng – người văn nghệ binh thứ nhất đổ máu ở chến trường, Thôi Hữu, Thâm Tâm. Nguyễn Đình Lạp, Thúc Tề, Chu Cẩm Phong, Dương Thị Xuân Quý … Đặc biệt dành nhiều công sức nghiên cứu và giới thiệu nhà văn Nguyễn Ngọc Tấn – Nguyễn Thi…”

Đi tìm, sưu tập và giới thiệu, Ngô Thảo không hề giấu diếm lòng ưu ái của mình dành cho những nhà văn đã ngã xuống. Nói về người đã khuất, đạo lý Việt Nam luôn trân trọng, ca ngợi là chủ đạo. Đối với anh, đó lại là chốn thiêng liêng. Bước vào đó, anh chỉ có thể cúi đầu.

Đây là gương mặt văn chương Nguyễn Thi: “Nếu ở miền Bắc hòa bình 6 năm (1956 – 1962), anh chỉ in được 2 tập truyện ngắn thì chưa đầy 5 năm ở chiến trường (1963 – 1968) thời gian dành cho sáng tác không nhiều, điều kiện tất nhiên vô cùng khó, anh đã có một số lượng trang viết nhiều gấp 3 lần.  (Sự tích Đất thép, Truyện và ký, Người mẹ cầm súng, Ước mơ của đất, Ở xã Trung Nghĩa, Sen trong đồng, Cô gái đất Ba Dừa …). Nguyễn Thi bằng tác phẩm của mình đã tạc nên bức tượng đài bất tử của những người anh hùng…”

Còn đây là chân dung Chu Cẩm Phong: “Quán xuyến trong những trang viết của Chu Cẩm Phong là một tình yêu rất đậm với quê hương, với những người đang chiến đấu: Đã xúc động chứng kiến và trực tiếp tham gia vào những giai đoạn thăng trầm, gian lao, quật cường vật lộn với giặc ở quê hương. Anh kể lại với giọng nhỏ nhẹ mà điềm tĩnh, hiền lành… Khi vui không ồn áo, khi buồn không bi lụy, khi chiến đấu ác liệt cũng không lên gân. Đây là cốt cách văn phong cũng là của chính con người Chu Cẩm Phong” .

Vĩnh cửu nằm trong trái tim Ngô Thảo là quá khứ. Anh dành tình cảm trân trọng, yêu thương nhất cho những nhà văn chiến sĩ. Họ đã sống trọn cuộc đời ngắn ngủi nhưng vinh quang cho cuộc chiến tranh vệ quốc.

Những người bạn, đồng đội của Ngô Thảo ngã xuống, anh không bao giờ quên họ. Cả đời anh là sợi dây bền bỉ, thắm đỏ nối những người đã khuất ấy với cuộc sống, bất kể thời gian trôi, khắc nghiệt. Đơn giản, với anh, họ bất tử.

Những người bước vào cuộc chiến đấu và ngã xuống –  Tâm hồn và linh hồn họ bước vào trang văn Ngô Thảo, vĩnh viễn nằm lại cả nơi đó nữa.

Viết về những người con ưu tú của Dân tộc ấy, Ngô Thảo phóng bút, hầu như không phải suy tư nhiều, lựa lời nhiều. Dòng cảm xúc ào ạt từ chính trái tim của người lính Ngô Thảo.

Có lẽ chính vì vậy, dần dần bạn bè, người đọc không gọi anh là nhà phê bình hay lý luận. Cái tên Nhà văn Ngô Thảo – theo họ – là hợp nhất với con người tuy cầm “ngọn roi” phê bình nhưng lại giàu lòng bao dung, tinh tế. Không vậy, sao ông nhìn thấy những điều chưa viết thành lời trên trang văn, cảm nhận và khẳng định điều chưa có song chắc chắn sẽ có trên dòng chảy của lịch sử Dân tộc và lịch sử Văn học. Nói rằng anh tiên đoán hay dự báo được, cũng là cảm nhận và công nhận của những người chịu đọc, chịu hiểu Ngô Thảo vậy.

Anh đủ thời gian, hay đủ tài để bao quát toàn bộ nền văn học nước nhà, từ đó đề xuất, gợi mở một hướng đi, một con đường. nhưng anh cũng đủ rộng lượng để dung nạp tất cả, bao dung tất cả.

Thật khó mà tưởng tượng trong dòng chảy miệt mài, thao thiết của văn học, lại thiếu một Ngô Thảo. Không uyên bác đến mức gì cũng khẳng định được. Không quá nghiêm khắc để những cây bút sợ hơn là nể phục. Một cách phê nhẹ nhàng những sâu và chính xác. Một lối bình để động viên khuyến khích. Cuối cùng là một ccon đường được mở ra trong nhân văn.

Chính vì vậy, đọc phê bình của Ngô Thảo, nhất là khi viết cho người đã khuất, cùng với những kỷ niệm đẹp về họ, giọng văn anh ít chất “phê”, thậm chí hạn chế cả “bình”, mà tự sự, suy ngẫm như với chính mình. Thấp thoáng phía sau là nụ cười hóm hỉnh. Đặc biệt là rộng lượng. Rộng lượng với cả những khiếm khuyết của những người tài năng, xuất chúng.

Với những nhà văn chiến trường, anh coi họ như quốc bảo. Khi những vì sao ấy mất đi trên bầu trời nghệ thuật, anh là người đau đớn nhất: “Nét đặc sắc của Việt Nam thế kỷ XX, là trải mấy cuộc kháng chiến liên tục, dân tộc ta chịu muôn vàn hy sinh. Nhưng từ trong lớp lớp người cầm súng chiến đấu đã xuất hiện … và hình thành một đội ngũ văn nghệ sỹ đông đảo, hùng hậu với tài năng trong nhiều ngành nghệ thuật… Những năm tháng chiến tranh đã lùi xa, đang rất xa rồi. Bộ phận lớn trong số họ đang bước vào thế hệ cổ lai hy. Mà con sóng thời gian cứ khách quan và vô cảm vỗ vào bờ bãi cuộc đời, cuốn về nơi vô tận những con người rất đáng quý, đáng yêu. Mấy ai vượt được vòng đời sinh tử!”

Nhưng anh cũng thẳng thắn chỉ rõ những gì là non nớt chính trị, mơ hồ hay ảo tưởng mục đích phục vụ của nhà văn, dù họ “lớn” đến đâu, chỉ rõ những “gót chân Asinle” của những lực sỹ văn chương, từ đó, anh mạnh mẽ kê lại nhận thức những giá trị: “Đó là sự không hoàn thiện của những người có tài năng nhưng nông nổi và non nớt. Mới có một ít tác phẩm được bạn đọc biết đến đã vội kiêu căng, không chịu đặt mình vào khuôn phép nghiêm ngặt của quân đội vừa ra khỏi chiến tranh. Tinh tướng, vô kỷ luật, phát ngôn bừa bãi. Tự đồng nhất mình với cái mới, cái sáng tạo. Coi thường các tác giả lớp trước. Và từ đó người ta đã dựa vào tổ chức để phê phán và kỷ luật. Khuyết điểm, thiếu sót thông thường của tuổi trẻ. Đòn roi ra tay cũng cần thiết…”

Hiếm khi Ngô Thảo nghiêm khắc đến giận dữ như thế.

Chưa khi nào thấy Ngô Thảo dùng những “từ khó”, cao siêu, càng khó hiểu càng thông thái. Anh đặc biệt cũng không xen cài những dòng về mình để tiện thể khẳng định, giới thiệu cá nhân. Văn Ngô Thảo dễ đọc, dễ cảm vì nói trực diện bằng từ ngữ đời thường với những nhận xét tinh tế, bất ngờ. Đây là cái cách mà anh đãi cát tìm vàng: “Tác giả lớn tuổi này … ( Nguyễn Trung và tiểu thuyết Dòng đời ) không có ý định chia sẻ lo nghĩ một bộ phận người viết đang muốn ve vãn và làm lóa mắt người đọc bằng ngôn ngữ không giống ai, hay thể hiện trần trụi nhiều cảnh sinh hoạt mà một thời húy kỵ … Cho đến nay, trong văn học Việt Nam, chưa có một cuốn sách nào – nói thế vì một số người không coi đây là tác phẩm văn học – có dung lượng thời gian, không gian, tầm vóc nhân vật, lĩnh vực xã hội và tư tưởng rộng dài, sâu sắc và đa diện, đa dạng như Dòng đời…”

Dạt dào cảm xúc với những ghi chép có khi vội vã ngoài mặt trận của Nguyễn Thi, Chu Cẩm Phong… mà cũng kiên nhẫn vô cùng khi đồng hành với Nguyễn Trung, đi cho tận tới hết Dòng đời.

Với tâm và thế ấy, Ngô Thảo “nhìn” thấy ánh sáng khi mới chỉ le lói cuối đường hầm. Từ đó anh phát hiện rất sớm những gì nhà văn cũng chỉ mới mơ hồ nhận ra hay hy vọng, gửi gắm trong tác phẩm. Nhưng anh cũng không bỏ qua những góc khuất, điểm tối tồn tại ngay cả trong ánh sáng chan hòa của thời đại. Anh thẳng thắn nhìn vào hiện tượng, để cảnh báo nó đang trở thành bản chất:

“Thời gian và cuộc sống làm cho nhiều điều ngỡ là chân lý bất dịch biến thành trò đùa của lịch sử.  Nhiều sai lầm đẫm máu từ bước đi lên chủ động của chúng ta đã và đang đặt ra những câu hỏi xé ruột xé gan, bao năm quằn quại, trằn trọc, thao thức những người có lý trí mà chưa ai nêu ra được lời giải đáp hợp lý? Vì thế, sự rạn nứt trong lòng đất nước, dân tộc sau bao nhiêu năm vẫn tiếp tục rỉ máu! … Xây dựng đất nước thời bình chắc chắn phải chiến đấu trên những mặt trận hoàn toàn mới lạ… Đó là những thế lực sờ không được, nhìn không thấy… Chính chiến thắng này đặt ra câu hỏi: Đất nước này của ai? Chiến thắng này của ai? Của một phe, một phía hay của cả một dân tộc? Chậm trả lời câu hỏi này, dư chấn của chiến tranh tiếp tục cướp đi nhiều hơn, phá đi nhiều hơn tinh thần, tình cảm con người.”

Nói “đá lạc đội hình” kể ra không chính xác cho lắm. Vì nhà văn Ngô Thảo cũng từ nhà lý luận, phên bình Ngô Thảo vậy. Anh bảo sống đến tuổi này, mình cũng đã ngộ ra nhiều điều. Vậy đây có phải một trong những điều đó không?

“Chúng ta cũng ngộ ra rằng: Những tác phẩm toàn bích đời nào cũng là của hiếm. Có khi cái gọi là sai lầm, thiếu sót, thậm chí lệch chuẩn, không hợp thời, nếu có, của một tác phẩm, tác giả, hóa ra không quá quan trọng như một số người vẫn tưởng. Tác phẩm văn học thường có giá trị độc lập, bất chấp lý lịch chính trị của tác giả”.

Nhưng – cũng lại phải nhưng – Ngô Thảo là người kiên quyết đặt ra yêu cầu về văn chương, đặc biệt là nhân cách người cầm bút: “… Bạn đọc đã có thể nhận ra một bộ phận sát thủ văn chương ấy không phải ai cũng tin vào điều họ viết (…) vì vốn hèn nhát, trốn tránh trong chiến tranh, đến hòa bình phải cố tỏ ra có lập trường để khỏa lấp quá khứ…”

Bây giờ chiến tranh càng lùi xa hơn nữa, còn những “nhà văn” như vậy không, khi quyền lợi của họ quá lớn, tham vọng của họ quá cao?

Bất kể dòng đời chìm nổi, cuộc sống lắng cặn bồi lấp đi những giá trị từng được trân trọng, Ngô Thảo vẫn bướng bỉnh trung thành với ngòi bút xưa, dù đôi lúc, đôi khi không thể không xen vào vị chua chát, đắng đót. Chắc vậy nên chẳng cần so sánh nhiều với văn chương chiến trận, văn hóa vệ quốc, anh nhìn ngay ra một thời kỳ có tên văn chương kinh tế thị trường: “Tính dân chủ đã tước đi vẻ thiêng liêng của nhiều chủ thể quen sống bằng sự tôn sùng truyền thống. Văn học nghệ thuật cũng nằm trong phạm trù các giá trị đó!”

Tầm vóc khẳng định giá trị. Hiểu biết tạo sức thuyết phục. Bao dung biến thành nhân cách.

Trong làng văn, dù nhiều hay ít, đều có ít nhiều ghen tỵ, đố kỵ… Nhưng với Ngô Thảo, chưa khi nào, thậm chí không bao giờ. Anh vui vì thành công, buồn vì thất bại của người khác, của thăng trầm cả thế sự và “văn sự”. Cứ như Ngô Thảo sinh ra dưới ngôi sao trách nhiệm vậy. Đương nhiên là phải thế. Tất nhiên sẽ là như thế.

Nhiều người không mấy để tâm Ngô Thảo trong vai trò nhà phê bình. Có lẽ anh chỉ là người bạn chí tình, hay vác tù và hàng tổng và đặc biệt rất kiệm lời. Anh đứng lùi về phía sau, không khác nào người ngồi hàng ghế khán giả khi vở kịch cuộc đời đang được diễn. Đến một ngày, nhiều người nhận ra: Rất nhiều người, sự việc… bước vào trang sách của anh từ bao giờ: Khái quát mà chắt lọc, lý sự mà… nhân hậu.

Tưởng cái tôi Ngô Thảo chìm đi giữa dư luận, bạn bè. Nhưng gặp đá ngầm, lại “ác liệt” quá, anh cũng lặng lẽ rơi nước mắt một mình.

Trong xã hội, trong văn chương, tấn kịch của cuộc đời, khi “diễn” xong, người ta trút vai diễn, phục trang … Có một người sau cùng đứng dậy, lặng lẽ rời đi từ chiếc ghế khán giả. Người đó là Ngô Thảo.

Chiến tranh kết thúc. Vấn đề đặt ra cho nhà văn đã hoặc chưa qua chiến trường: Thoát ra khỏi chính mình, tạo được cái nhìn xuyên suốt cuộc chiến… anh khẳng định “Muốn tác phẩm mình vẫn là bạn đồng hành của người chiến sĩ ở những mũi nhọn mới của cuộc sống, tưởng không có lối nào ngắn hơn”.

Nhiều khi Ngô Thảo đứng ở vị trí người chiến sĩ, đối tượng được miêu tả để đánh giá văn học thời kỳ này. Đơn giản, vì anh cũng là một người lính.

Dành biệt nhãn cho những nhà văn viết về chiến tranh. Anh không đồng tình với đòi hỏi rằng: Phải có ngay tác phẩm đủ tầm cỡ cho cuộc trường chinh vĩ đại, đằng đẵng ba mươi năm của dân tộc!

Theo anh, có tác phẩm đó chăng nữa, chưa chắc đã được coi là đền bù, trả nghĩa xứng đáng. Nhà văn thế hệ hòa bình cũng có đòi hỏi một chỗ đứng trong văn học không khác gì trong chiến tranh vậy. Đồng thời với trân trọng, đánh giá cao quả bói đầu mùa, anh không ngần ngại đặt trọn tình cảm và lòng tin vào một mùa bội thu trong tương lai. Áp lực thời gian hầu như không được tính đến. (Vậy người Nga có đòi hỏi một tác phẩm khác, cao hơn Chiến tranh và Hòa bình của L. Tonxtoi không? Có! Nếu không nhiều thì cũng có. Nhưng họ đòi hỏi trên cơ sở chưa có Chiến tranh và Hòa bình, khác đòi hỏi khi chưa có môt “Chiến tranh và Hòa bình” trong văn chương Việt Nam).

Lại một câu chuyện vui mà chưa chắc vui của hội Nhà văn VN: Có người đùa rằng số tiền đầu tư hàng năm của nhà nước cho Hội Nhà văn đừng chia ra nữa, mà tập trung vào nhà thơ nào bảo đảm mình sẽ có tác phẩm ngang Truyện Kiều, nhà văn nào sẽ ra được tiểu thuyết tầm cỡ như Chiến tranh và Hòa bình. Không ai giơ tay!

Phải chăng Ngô Thảo cũng giấu khát vọng đó đằng sau trang viết?

Anh khẳng định giá trị to lớn, vĩnh cửu của văn học chống xâm lược thời đại Hồ Chí Minh: Phản ánh nóng bỏng, tức thời cuộc sống chiến đấu của cả

Dân tộc nên có tác dụng cổ vũ, khẳng định chủ nghĩa anh hùng cách mạng, dù sau này có tác phẩm tầm cỡ hơn. Vì theo Ngô Thảo, thực tế đất nước vừa có chiến tranh vừa xây dựng, Văn học nghệ thuật phải trên mũi nhọn. Hơi thở cuộc sống là quan trọng nhất.

Nhưng rồi cũng có lúc phải đối mặt với một sự thật cay đắng mà anh gọi bằng cái tên “nghệ thuật không tải”. Xót xa hơn là anh nhìn thấy ngay và trước mọi người: “Sự giàu có của số lượng sách không đi liền với giàu có về tư tưởng…phù hợp và phục vụ công cuộc đổi mới đất nước hiện nay. Ngỡ như chúng ta khai quật lên nhiều thi hài đã làm xong nhiệm vụ sống”. Rồi cũng phải nhận diện những nhà văn … đại diện: “Nếu hầu hết đội ngũ văn nghệ sĩ chọn được chỗ đứng cùng với nhân dân, chấp nhận mọi hy sinh để luôn kiên định lý tưởng cách mạng, thì cũng từng có một bộ phận chọn chỗ đứng cho riêng mình, từ lạc lõng trở nên xa rời đội ngũ, bị đào thải hoặc tự đào thải khỏi nền văn học cách mạng…”

Ngô Thảo hòa mình vào dòng chảy lịch sử, vào nhiều giai đoạn của cách mạng Việt Nam để nhìn nhận, đánh giá tác phẩm. Quy chuẩn là Độc lập tự do của dân tộc.

Sau này, anh trở về với sở trường: Quan tâm đến những vấn đề văn hóa. Nói quan tâm e chưa chính xác lắm. Vì không chỉ có nhận định của một nhà phê bình cần phải làm; mà anh còn mang hết tất cả: Quá khứ chiến trận, lịch sử dân tộc, cả đến cá tính khó bỏ của bản thân vào từng trang viết. Anh bi tráng trong bom đạn nên cũng hồ hởi trong hòa bình. Như bao người cầm bút khác, anh tin văn hóa cũng như những người “của văn hóa” sẽ mở ra trang sử mới cho lớp trẻ, cho văn chương.

Nhà văn Ngô Thảo với bạn văn

Vui buồn theo từng bước chân, thành công hay thất bại của những người viết trong hòa bình, anh yêu mến họ ra mặt, nhưng vẫn có mạch ngầm của lý trí. Bởi Ngô Thảo vừa là nhà phê bình cần mẫn, vừa là người bạn tình nghĩa và trách nhiệm, là người anh bao dung, là người thầy nghiêm khắc.

“Chúng ta đã nhân đạo với cái cũ, trong đó có kẻ thù cũ. Nhưng với cái mới do anh em, đồng đội, đồng chí ta sáng tạo ra, ta có đủ lòng nhân ái và công bằng đó không? Ta bất bình với một số bạn, qua tác phẩm đã bộc lộ cách nhìn cực đoan, thiển cận, có khi như phủ định sạch trơn quá khứ. Nhưng khi phê bình, có phải chúng ta lặp lại đúng nguyên khuyết điểm đó?”

Khi nhiều người “đứng nhìn” thì Ngô Thảo, với “máu Đông Ky sốt”, anh cương quyết nắm lấy sợi dây cuộc sống, ra sức gióng lên những hồi chuông dồn dập. Ai không nghe hay cố tình không nghe, vẫn phải thấy trước mắt cái chuông thức tỉnh đang rung lắc dữ dội.

Cũng chẳng phải anh “đá lạc đội hình”. Bởi trong nhân cách và trái tim con người ấy, vẹn nguyên một chiến sỹ, một công dân và … một tâm hồn.

Đó cũng là lý do anh tìm về gốc rễ của văn nghệ: đó là chính trị, xã hội… Không biết những gì anh thấy có “đau đớn lòng” hay không, mà những dòng viết “nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào”:

“Chúng ta đang xây dựng một xã hội thiếu tính bền vững, ổn định. Các công trình vật chất đã và đang xuống cấp trước thời hạn. Nhưng nguy hiểm hơn là nền tảng tư tưởng, tinh thần của xã hội đang biến chất nhanh chóng. Các công trình đó không chỉ phơi bày tư cách, phẩm chất, trình độ của những chủ đầu tư và người thực hiện; mà quan trọng hơn là bộc lộ sự bất cập, yếu kém của cấp quản lý. Đằng sau đó lộ rõ trình độ, tầm vóc, tầm nhìn, tầm văn hóa, đạo đức công dân của người quản lý và người thực hiện.”

Vậy là công trình vật chất kia – với Ngô Thảo – đã trở thành công trình văn hóa, văn nghệ rồi!

Thế là Ngô Thảo kiên nhẫn, kiên cường đi tìm “vacxin” văn hóa.

“Văn hóa thuộc phạm trù ý thức (được in đậm). Con người lớn lên đồng thời phải được giáo dục về kiến thức khoa học, kỹ thuật, chính trị, xã hội… còn cần được giáo dục kiến thức văn hóa và thói quen, kỹ năng tiếp nhận và hưởng thụ văn hóa…”

Đã có vacxin Văn hóa đi nữa, mà “đẳng cấp” của người làm văn hóa chưa theo kịp trình độ thưởng thức, thì cũng chính là bi kịch. Có lẽ, nỗi đau này đã làm Ngô Thảo không còn có thể nín lặng mãi, mà phải gọi tên chính xác, dù đau đớn thế nào:

“Đã đến lúc phải nói thẳng, làm văn hóa văn nghệ nghiệp dư như nước ta hiện nay, thì mặt trận văn học nghệ thuật, mặt trận văn hóa của chúng ta sẽ đón nhận kết quả chắc chắn là thất bại. Văn hóa sẽ là mặt trận bỏ ngỏ cho âm mưu diễn biến hòa bình. Không kịp thời tổ chức thì đội hình văn nghệ sỹ đang có hiện nay –  đã yếu ớt, ít hiệu lực –  cũng sẽ tan đàn sẻ nghé!”

Nối đau ấy nhà văn mang nặng trên vai.

Dù năm tháng cứ điềm nhiên trôi đi.

Mà Ngô Thảo cũng không còn trẻ nữa…

LÊ THU HẠNH

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *