Tính Thiền và triết lý nhân sinh trong thơ Lê Văn Vọng

Vanvn- Lê Văn Vọng đến với văn chương khá sớm. Ngay từ bài thơ đầu tiên được in năm 1969, tên tuổi ông đã được nhiều người chú ý đến. Ông thuộc thế hệ nhà thơ chống Mỹ. Nhưng phải đến sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, 1976- 1977, với việc đoạt giải Nhất cuộc thi thơ cho tập Người của hôm nay, do Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức, mới thực sự là một cú hích, một bước chạy đà quan trọng đưa Lê Văn Vọng đến với con đường sáng tác thơ chuyên nghiệp. Và tiếp sau đấy ông đã cho ra đời thêm 5 tập thơ nữa: Cánh rừng và ngọn gió (1982, in chung), Đến với tình yêu (1984), Cơn lốc xanh (trường ca, 2002), Mía ngọt cho ai (2004- Giải Bộ Quốc 2000-2004) và gần đây nhất là tập Nhặt nắng gieo mùa (2018).

Lê Văn Vọng Thơ là tập sách gồm các bài thơ được tuyển chọn từ 6 tập thơ ông đã xuất bản trong gần 40 năm qua (1982- 2019) và một số bài mới viết. Có thể nói tập sách vừa giống như một cuốn hồi ức bằng thơ của một người lính chiến trường năm xưa, nay trở về với đời sống thương trường cũng nghiệt ngã và bất trắc không kém, chỉ khác nhau ở phương cách biểu hiện. Dù không còn bom rơi đạn nổ, những cuộc hành quân xuyên ngày đêm hay những cơn sốt rừng dai dẳng, nhưng vẫn còn đó những đêm thức trắng với nhiều nỗi niềm đau đáu, sẻ chia mà người thơ đành chong mắt, nuốt nghẹn vào trong như là minh chứng cho một sự lực bất tòng tâm. Nó lại vừa như một thiên ký sự, ghi chép về những vùng đất và con người trên khắp mọi miền của Tổ quốc Việt Nam ít nhiều gây ấn tượng, cảm xúc, khiến ông phải hạ bút viết về họ, dù đấy là những người đồng đội, người thân trong gia đình, bạn bè, em bé bán vé số hay bà mẹ nghèo,…

Vì thế tập sách đã đem đến cho công chúng yêu thích thơ ca những trải nghiệm rất khác nhau về cung bậc, tần số rung động, tiếng vọng niệm và cả sự trơ lì cảm xúc của người trong cuộc.

Nhà thơ Lê Văn Vọng

Có thể nói, phần lớn bạn đọc thơ hôm nay đều thích đọc thơ mới hay chí ít không phải là thơ viết trong hoặc về hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc ta. Hai giai đoạn lịch sử chống ngoại xâm ấy đã sản sinh và tạo dựng nên hai nền thơ ca chống Pháp và chống Mỹ, mà các giai đoạn văn chương trước và sau đấy, dù thời gian có dài hơn cũng chưa chắc đã tạo được dáng vẻ và tầm vóc tương xứng. Có điều cần khẳng định một cách chắc chắn rằng giai đoạn thơ ca hậu chống Mỹ tuy có phong phú và đa dạng hơn về các khía cạnh đề tài, chủ đề, trường phái, giọng điệu, cấu tứ, ngôn ngữ thể hiện… nhưng cũng không thể nào khỏa lấp và thay thế được hai giai đoạn thi ca chống Pháp và chống Mỹ, bởi một lý do hết sức đơn giản là chúng đã trở thành một phần của lịch sử thơ ca nói riêng và văn chương Việt Nam hiện đại nói chung, nên chúng có sứ mệnh lịch sử riêng mà không một giai đoạn, thời kỳ thơ ca nào có thể làm thay được.

Còn một thực tế khác là với một người lớn tuổi và làm nghề viết lách chuyên nghiệp như tôi, nếu có ai hỏi thích đọc mảng thơ nào, tôi sẽ trả lời ngay, thích đọc thơ mới, thơ trẻ. Nhưng nếu có người hỏi thích ngẫm ngợi về mảng thơ nào, tôi cũng trả lời ngay là hai mảng thơ chống Pháp và chống Mỹ. Lý do tại sao xin các bạn hãy tự mình tìm ra câu trả lời.

Chính vì lẽ đó mà tôi tìm đến thơ của Lê Văn Vọng. Ở tập sách này có những cái mà không ít bạn đọc bình thường rất dễ bỏ qua hoặc không nghĩ tới. Bởi lẽ những cái ấy không nằm ở đề tài, chủ đề, giọng điệu, cấu tứ hay hình thức biểu đạt, như mọi người thường thấy ở không ít các tuyển thơ từng có mặt trong đời sống văn chương nước nhà mấy chục năm qua. Nếu đọc Lê Văn Vọng – Thơ cốt để đi tìm những thứ ấy thì các bạn sẽ rất dễ chán nản và thất vọng vì chúng không khác là bao so với những tuyển thơ khác.

Vượt qua những điều vừa nói trên, tuyển tập Lê Văn Vọng Thơ sẽ cho ta cảm nhận phần nào về tính thiền trong các sáng tác của ông. Trước hết chất thiền được biểu hiện ở khía cạnh của sự tự tại, cái tự nhiên như nhiên, không mấy vướng bận với những biến động của đất trời vũ trụ cũng như của sinh giới. Muôn đời những người nông dân ở chốn thôn quê, trong đấy có mẹ ta vẫn cứ sống và chỉ sống như thế, mặc cho dòng đời đổi thay, lòng người tráo trở, mẹ chẳng mấy bận tâm, bởi cuộc đời của mẹ đã quen:

Trọn cuộc đời sống cùng cây lúa

Thuộc từng góc ruộng, bờ mương

Không quen sống cảnh xô bồ, thật giả

Mẹ đồng quê ngơ ngác phố phường

Dậy sớm thức khuya, đợi chờ, cực nhọc

Đổi giọt mồ hôi nhận về hạt thóc

Mẹ già theo mùa vụ xoay vần.

Hạnh phúc đơn sơ gắn với cánh đồng…

(Mẹ đồng quê).

Chất thiền trong thơ Lê Văn Vọng còn được thể hiện ở luật Nhân- Quả theo tinh thần gieo mầm thiện thì sẽ gặt quả phúc, giao mầm thù, sẽ gặt quả ác. Đấy là quy luật muôn đời theo triết lý nhà Phật và đã ngấm sâu vào máu của phần lớn người dân Việt Nam. Điều ấy đã được đúc rút qua kho tàng tục ngữ, thành ngữ dân gian như: Đời cha ăn mặn, đời con khát nước hay Nước dâng, cá ăn kiến, nước cạn, kiến ăn cá,… Ở bài Chim gõ kiến dường như cũng xảy ra trường hợp tương tự:

Con chim gõ kiến chết ở góc rừng

Cái mỏ sắc còn dính đầy vụn gỗ

Đôi mắt nhắm như chưa bao giờ mở

Cái cổ dài gục xuống vẻ ăn năn

Những con kiến chỉ bằng hạt vừng thôi

Một ngày chim ăn bao nhiêu mới đủ?

Và dù nhỏ cũng là một cá thể

Một cuộc đời, tạo hóa đã sinh ra

Bên bờ cỏ xác chim nằm co quắp

Đàn kiến rừng lúc nhúc bữa liên hoan

Con chui mắt, chui mồm đục khoét

Cái nhân ấy một đời chim gieo rắc

Nên bây giờ hái quả, chẳng hề oan.

Bài thơ không dài, nhưng là sự đúc rút kinh nghiệm của một người từng trải về lẽ sống cũng như quy luật sinh tồn của vạn vật nói chung và con người nói riêng. Âu đấy cũng là bài học mà tất thảy chúng ta đều rất đáng suy ngẫm về cách ứng xử giữa con người với con người và con người với sinh gới tự nhiên, nhất là trước khi bắt tay làm bất cứ việc gì.

Ở một góc nhìn khác, dường như nhà thơ hoàn toàn bất lực, không biết làm gì trước những điều mắt thấy tai nghe đang diễn ra hàng ngày trong cuộc sống trước mắt chúng ta. Nhưng với một tâm thức hướng thiền, ông hằng mong ngay cả những lời cầu nguyện và những tiếng chuông chùa cũng đừng bao giờ quay mặt làm ngơ trước số phận con người, những đứa trẻ thiệt hòi, thiếu may mắn:

Những số phận bị chối từ may mắn

Manh áo rách gói cuộc đời bất hạnh

Đắp giấc mơ bằng giá lạnh đêm trường

Bằng nỗi đau buồn của cõi nhân gian

Những tiếng chuông chùa hãy lấp đầy thiếu hụt

 Và xua tan muộn phiền trên mặt đất

Cả những lời thỉnh nguyện

Đừng nghoảnh mặt làm ngơ…

Rộng thêm nữa vòng tay nhân ái

Dắt những ban mai khuyết tật qua đường.

(Những đứa trẻ tật nguyền).

Cùng với tâm cảm đậm chất thiền, thơ Lê Văn Vọng còn biểu hiện khá rõ nét những triết lý nhân sinh giản dị, như không có thể giản dị được hơn. Điều ấy đã ít nhiều đem đến cho người đọc cảm giác cần thiết phải biết “tự phản tư” (chữ dùng của Hegel), tức là biết soi lại chính mình qua sự gợi ý sau khi đã đọc những vần thơ của ông. Đã có không ít người, từ hàng chục năm nay quẳng tiền vào canh bạc đỏ đen, may rủi từ những tờ vé số, những mong vận may sẽ đến cho mình cơ hội đổi đời, chỉ cần một tích tắc của vòng quay định mệnh có thể biến mình từ kẻ nghèo đói trở thành người giàu sang. Nhưng trớ trêu thay, vận may đâu có phải lúc nào cũng chiều lòng người:

Những tờ vé số trước đây nửa giờ

Hoặc vài ba phút

Còn thơm tho trong ngực áo, túi quần

Mỗi chữ số chứa đầy hy vọng

Như có linh hồn, số phận thiêng liêng

Tìm may mắn đâu dễ gì có được

Thất vọng ném đầy đường chẳng ai thèm nhặt

Sự bí ẩn không còn

Thì ngọt ngào cũng hết

Những tờ vé số trở thành rác

Những tờ vé số vứt bên đường

(Những tờ vé số).

Đối với phần lớn người đời ngay từ khi sinh ra đã mang theo các mã gen di truyền của giòng họ, bố mẹ. Cho đến khi lớn lên do quá trình học tập, rèn luyện và lao động, va đập với môi trường tự nhiên và xã hội, những thói quen mới được hình thành, khả năng thích ứng được tạo tác, trí tuệ được tích lũy, kỹ năng xử lý công việc cũng vì thế mà ngày càng hoàn thiện hơn. Nhưng như vậy không có nghĩa là một sớm, một chiều anh ta có thể làm biến đổi mã sinh học và văn hóa trong căn cốt con người mình, mà khoa học gọi là gen di truyền. Thậm chí với phần đông người đời lớn lên và trưởng thành dưới sự áp chế, chi phối gần như tuyệt đối của gen di truyền, tức là anh ta dù ở môi trường nào cũng chỉ như thế này, mà không thể nào đổi khác được tâm tính, cách nghĩ và cách làm do từ đời cha ông để lại. Vấn đề là ai có thể nhận thức một cách sâu sắc và đầy đủ được điều ấy để không đem tất cả lực lượng vật chất và tinh thần mà mình có để làm con tin cho số phận của mình, giống như loài cỏ dại, ngàn đời vẫn mang trong mình phận cỏ dù cho hoàn cảnh tự nhiên và xã hội có đổi thay:

Từ khi nào cỏ được sinh ra

Mà thân phận suốt đời là cỏ

Mùa hè nóng ran, đông về giá buốt

Cỏ bền bỉ khoác màu xanh cho đất

Đã là cỏ phải tươi trong bầm dập

Đừng mộng mơ một bến bờ xa

Biết sinh nở trong lụi tàn xơ xác

Đem nỗi đau nhuộm sắc hoa mà

Một đời cỏ luôn trải lòng cùng đất

Và nâng niu những bước chân người

Thân cỏ rả dù trên cao hay dưới thấp

Thì muôn đời vẫn là cỏ. Cỏ thôi!

(Với cỏ)

Có thể nói đây là một triết lý nhân sinh khá giản đơn và phổ biến, nhưng không phải ai cũng có thể tự nhận biết được, nhất là trong thời đại cách mạng công nghệ 4.0 đang diễn ra đến chóng mặt như hiện nay.

Nói về sự tác oai tác quái của đồng tiền, tôi lại nhớ đến Đại văn hào nước Anh thế kỷ XVI, Shakespeare khi ông từng nói đại ý rằng: đồng tiền có thể biến một con đĩ thành hoàng hậu. Và trên văn chương thế giới, viết về đồng tiền cũng không phải là ít. Tuy nhiên, với đề tài này, nhà thơ Lê Văn Vọng cũng đã tìm ra được cách viết riêng cho mình và nâng nó lên thành một triết lý nhân sinh rất đáng để cho mọi người suy ngẫm:

Trong tay ta những tờ bạc như là con rối

Phương tiện trao đổi mưu sinh

Biết chăng

Rất có thể một lúc nào đấy

Những đồng xu kia lại mua chính mình/

Và chúng ta lại là những con rối!

(Những tờ bạc)

Con người vốn dĩ thật kỳ lạ, nhiều khi nó cứ loay hoay hết thế hệ này đế thế hệ khác, từ đời nọ sang đời kia sáng tạo nên biết bao cái mới đem lại lợi ích cho chính họ, bằng việc tạo nên những giá trị văn minh mới mà các cuộc cách mạng xã hội và công nghệ từng diễn ra ở hầu hết các quốc gia trên phạm vi toàn cầu là những minh chứng sinh động cho điều đó. Cùng với những mặt tích cực do các cuộc cách mạng xã hội và công nghệ mang lại, con người cũng đồng thời cũng đang phải đối diện với những nguy cơ tiềm ẩn có thể hủy hoại cuộc sống của mình do chính hậu quả của những cuộc cách mạng ấy mang lại mà con người nhiều khi không ngờ tới. Như thế, nào có khác là bao nhiêu gỗ rừng làm ra hàng triệu triệu que diêm, nhưng chỉ cần một que diêm lại có thể thiêu trụi đi cả một cánh rừng chỉ trong một nốt nhạc:

Triệu triệu que diêm được hoài thai từ những cánh rừng

Nhưng một que diêm có thề xoá cánh rừng chỉ trong

chớp mắt.

(Que diêm và cánh rừng).

Để có thể đạt đến tâm tính mang đậm chất thiền và những triết lý nhân sinh giản dị như thế, chắc chắn nhà thơ phải là người từng trải, đi nhiều, biết lắm, chấp nhận va đập trong mọi hoàn cảnh, phải sống nhiều cuộc đời trong một con người và phải có cặp mắt quan sát tinh nhạy mới có thể đúc rút ra được những điều ấy. Đấy là những điều mà bạn đọc không quá khó để bắt gặp ở thế hệ nhà thơ như Lê Văn Vọng.

ĐỖ NGỌC YÊN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *