Mùi lạ – Truyện ngắn của Như Tấn

Vanvn- Năm tôi lên mười, chị Hiền tôi lấy chồng. Ngày cưới cả nhà rộn ràng, náo nức. Mọi người ai cũng bận bịu, duy chỉ có cha tôi trầm ngâm, lặng lẽ. Không rõ cha buồn hay vui. Mẹ tôi thì khác – nỗi buồn như hằn sâu nơi đáy mắt. Đến lúc người ta đón dâu, mẹ khóc nức nở. Cả nhà ai cũng rưng rưng theo.

Cha và bác Vương là anh em kết nghĩa, gắn bó như ruột thịt. Họ cùng nhau khai phá, mở mang khu ruộng hố ông Dương – từ đó cả hai gia đình trở nên khá giả bậc nhất trong làng. Chị Hiền về làm dâu nhà bác Vương theo sự sắp đặt. Cưới nhau vì nghĩa, rồi sống với nhau vì tình. Anh chị đi đâu cũng có đôi, như cặp bồ câu gắn bó. Cuộc sống đủ đầy. Bạn bè của chị nhiều người xuýt xoa:

– Con Hiền có phước ghê!

Tôi nghĩ thầm: chắc chị chưa từng có mối tình đầu, chưa biết đến cảm giác yêu đương. Cũng thiệt thòi cho chị lắm lắm!

Nhà văn Như Tấn tên thật Nguyễn Tấn Tới, sinh 1953 quê quán Quảng Ngãi, hiện sống tại Đắk Nông, đã xuất bản 2 tập truyện ngắn, 1 tập tản văn.

Từ ngày chị đội nón theo chồng, nhà trở nên trống vắng hẳn. Bữa cơm thiếu đi tiếng cười, câu chuyện cũng ít hơn. Mãi sau này tôi mới hiểu: mẹ tôi thương chị nhất nhà – bởi chị là con gái duy nhất, mà “phận gái” thì luôn là bến nước mười hai, không biết sẽ trôi dạt về đâu.

Anh Ba – chồng chị – người lực lưỡng, nước da nâu sậm, mắt sáng ngời. Dáng to cao, vai rộng, cánh tay rắn như gốc cây rừng. Anh ít nói, thâm trầm, ai nhìn cũng nể.

Có lần bạn bè anh tụ tập ở đại lý bán xăng dầu, rôm rả chuyện vác phi xăng. Một gã mạnh miệng thách:

– Mày mà vác nổi một phi xăng đầy đi năm chục mét, tao cho luôn cả phi xăng đó!

Cả đám cười ồ, tưởng chỉ là lời nói gió bay. Ai dè, anh Ba đứng dậy, bình thản:

– Vác kiểu gì là việc của tôi. Miễn không lăn ra đất, tôi sẽ đi được – và đi cho mấy người thấy.

Anh chọn phi xăng đầy đặn nhất, dùng dây neo thắt hai đầu để làm đai. Phi xăng mà không đầy thì dễ bị chao, khó giữ thăng bằng. Anh khom lưng, kề dây qua vai, rồi bất ngờ đứng dậy, phi xăng oằn trên lưng như cọp tha mồi. Mỗi bước đi dứt khoát, chắc nịch, tiếng bước chân vang trên nền đất. Anh đi một mạch cả trăm mét, đến điểm dừng mới thả phi xăng xuống.

Tiếng va chạm vang dội, làm đất lún một góc sâu. Cả đám nín bặt, rồi phá lên vỗ tay thán phục. Ai cũng ngỡ ngàng trước sức mạnh hơn người của anh Ba.

Mùa xuân năm ấy, làng mở hội: có đánh cờ người, có đá bóng. Người ta đồn, cờ người nếu thua dễ có chuyện mất mạng – nên chị tôi không dám cho chồng tham gia. Nhưng đá bóng thì không ngăn nổi. Anh vốn mê từ nhỏ, lại được chọn vào đội bóng xã đấu giải.

Hôm chung kết, có hai cầu thủ chơi xấu khiến anh bực mình. Không nói nhiều, anh Ba lao đến, cho hai cái trán “cụng nhau”. Cả sân chết lặng. Từ đó, chẳng ai dám đụng đến anh nữa. Đội anh nhờ đó mà gắn kết, chơi ăn ý, và đoạt luôn chức vô địch.

Một hôm, chị Hiền nói với chồng, giọng vừa buồn vừa trách:

– Em thấy người ta làm rẫy, làm nương dữ dội. Còn mình thì cứ bám cha mẹ hoài, không lo tương lai… Mai mốt con nó lớn, lấy gì mà nuôi?

Anh Ba lặng im một lúc rồi đáp khẽ:

– Cha đã bàn với anh rồi, nhưng anh thấy chưa ưng bụng, còn phải tính nữa…

Rồi bất ngờ, một buổi sáng, anh về khoe:

– Mình có rẫy rồi!

– Rẫy đâu? Anh làm như mơ ấy!

Anh cười, như muốn dành một sự bất ngờ cho vợ. Vài hôm sau, khi khu rẫy hình thành dưới chân đồi Kè, ai cũng ngỡ ngàng. Anh khai phá từng khoảnh đất, đào mương dẫn nước từ đồi cao về. Chỗ nào đất đứt đoạn, anh bắc cầu tre, đan vĩ lót nylon để nước chảy qua. Nhờ thế, ba bốn hecta cây trồng quanh năm xanh tốt, không lo thiếu nước tưới.

Từ đấy, anh chị tôi đi lên. Nhà có rẫy, có ao, có hoa màu, đồi cà phê, vườn tiêu. Cuộc sống no đủ, vững vàng.

Hôm giỗ ông cố, cả nhà tề tựu đông đủ. Anh chị Ba về sớm, mang theo nào thịt heo, chả giò, hai đòn bánh tét. Cúng kiếng xong, cả nhà ngồi quây quần bên mâm, chuyện trò rôm rả. Anh Ba kể:

– Có thằng bạn tôi, bữa nọ, tụi tôi thách nó ăn mười tô phở. Nó nhịn từ sáng tới chiều, vào quán gọi liền một lúc mười tô. Bà chủ quán trố mắt: “Anh đùa tôi à?” Nó nói: “Cứ làm đi!” Rồi ngồi ăn liền một lèo, hết sạch. Bà chủ nhìn mà sững người.

Cả mâm cười vang. Tôi hỏi:

– Ủa, ai vậy anh Ba?

Mẹ tôi chen vào:

– Thì nó chớ ai! – rồi bật cười.

Cha tôi nhìn anh, cười hiền:

– Nó ăn khỏe thì nó làm khỏe. Lo gì! Chỉ sợ không ăn, không làm mới khổ vợ con.

Một hôm, thằng Chu – em họ tôi – mới vào lập nghiệp, sáng sớm ghé nhà tôi với vẻ mặt buồn xo. Tôi mời nó ly cà phê rồi hỏi:

– Có chuyện gì vậy em?

Nó thở dài:

– Thằng Long, sát ranh đất vườn em mới mua, nó lấn đất. Em nói hoài mà nó không nghe, còn văng tục. Em một mình thì làm sao cản nổi. Nhờ anh ra nói giúp.

Tôi gật đầu:

– Ừ, để anh gọi anh Ba. Chuyện này phải có ảnh mới được!

Tôi dẫn thằng em đến nhà anh Ba, kể lại đầu đuôi. Anh không nói nhiều, chỉ “Ừ”, rồi vào nhà lấy con rựa, buộc sau xe, chở chúng tôi đến khu đất.

– Thằng Long đâu? – Anh Ba gọi lớn.

– Dạ… em đây!

– Mày chỉ ranh đất mày coi. Còn Chu, mày cũng đưa giấy tờ tao xem.

Sau khi xem xét, anh Ba chặt một ôm cọc cây rừng, vót nhọn rồi cắm dọc theo ranh giới. Vừa làm xong, anh tuyên bố:

– Đứa nào nhổ mấy cọc này là chết với tao!

Thằng Long tái mặt. Từ đó, chuyện ranh đất yên luôn, chẳng ai dám đụng vào nữa.

***

Một buổi sáng, anh Ba đi rừng – thăm bẫy gà, bẫy chồn. Vai vác cây rựa, tay xách bao tải, anh đi bộ mấy cây số như cơm bữa. Đến nơi, bắt được một con gà rừng, anh cho vào bao, rồi ngồi nghỉ dưới tán cây.

Bất chợt, tiếng voi rống vọng lại. Cây rừng xào xạc. Mặt đất rung nhẹ. Một con voi rừng to lớn, ngà cong, xuất hiện từ bụi rậm, lao thẳng về phía anh. Nó gầm lên, giẫm gãy mấy thân cây to.

Anh Ba bình tĩnh, nghĩ nhanh: nếu chạy, nó sẽ đuổi kịp. Liếc nhìn cái bao đựng gà, anh chụp lấy, quăng mạnh về phía con voi, rồi hét lớn. Bị thu hút bởi chuyển động, voi quay sang đuổi theo chiếc bao. Nhân lúc đó, anh lao xuống con dốc dựng đứng bên suối, trượt dài về phía xa.

Tối về, anh kể lại mà ai nghe cũng xanh mặt.

Có người bảo:

– Voi nó đâu dám xuống dốc. Nó mà lăn thì y như trái banh!

Anh Ba lại cười ha hả, như thể đó chỉ là một chuyện vui trong đời.

***

Chiến tranh ác liệt. Anh Ba sống trong vùng “xôi đậu”, thanh niên đến tuổi không đi lính thì cũng bị bắt. Bạn bè anh – đứa ra trận, đứa bỏ mạng. Anh trốn mãi cũng không xong. Một hôm, người ta lùng bắt được. Nghe tin, chị Hiền khóc nghẹn:

– Sợ ảnh đi rồi không có ngày về… Vườn tược ai lo… Mà chị lại sắp sinh…

Tôi lặng người. Nhìn chị vừa lau nước mắt vừa xếp lại quần áo chồng, tôi nghèn nghẹn, thương mà chẳng biết làm gì hơn.

Thỉnh thoảng, anh có thư về, nhưng chỉ riêng gửi chị. Mỗi lần tôi ghé chơi, thấy chị đang đọc, chị liền xếp vội vào tủ, nâng niu như báu vật. Những cánh thư ngắn, nhưng giữ chị sống vững vàng qua những tháng năm chờ đợi.

***

Vài năm sau, vào một trưa oi bức, khi cả nhà đang ngồi ăn cơm, bỗng một bóng người chống đôi nạn lững thững bước vào sân. Là anh Ba.

Chị Hiền bật đứng dậy, tôi cũng buông đũa, chạy ra đỡ lấy anh. Ôm anh, tôi thấy lạnh như ôm bức tượng gỗ. Chiếc nạng gỗ trượt khỏi tay anh, rơi xuống nền đất, vang một tiếng khô khốc.

Cha tôi thảng thốt:

– Trời ơi! Con bị gì vậy?

Anh chưa vội trả lời, chỉ “dạ… dạ…”, rồi từ từ ngồi xuống. Nhìn đôi chân gầy guộc, chiếc giày ba-ta cụt mũi, tôi không dám hỏi. Một lúc sau, anh kể:

– Con xin đi học lái xe. Người ta bảo tướng con hợp lái thiết giáp. Ra trường, lái được ít lâu, con xin chuyển sang xe con. May mắn được chọn làm tài xế cho ông chỉ huy.

– Rồi sao? – tôi hỏi.

Anh im lặng, giọng chùng xuống:

– Một lần chở ông đi công vụ, xe cán phải mìn. Ổng ngồi ghế trước, bị hất văng ra ngoài… còn con không biết gì. Tỉnh dậy thì đã trong bệnh viện, chân mất nửa bàn. Bác sĩ bảo do mìn Claymore… Giờ họ cho con về dưỡng thương, chờ làm thủ tục xuất ngũ.

Cả nhà lặng người.

***

Mỗi người một nết, mỗi người một cảnh. Vào lính rồi, cũng phải theo kỷ luật, nhưng cái thói đời vẫn theo mãi. Anh Ba không hay kể nhiều về lính, trừ những hôm uống vài ly rượu, khí khái nổi lên, mới thủng thẳng nói vài điều.

– Hồi đó, nhiều vụ phức tạp nhưng rồi cũng qua. Cái vụ ma cũ ăn hiếp ma mới. Mẹ nó, khi còn trong trung tâm huấn luyện, thằng này ăn hiếp thằng kia, nhất là cái anh “sồn sồn”, la hét, nộ nạt, xem trời bằng vung… Nhân trận chia nhau đánh giặc giả, “súng thật – đạn giả”, con cho vào viên đạn thật. May là nó không chết, chỉ bị thương. Từ đó trở về sau hết dám hó hé.

Chị tôi hỏi lại:

– Tụi nó không điều tra à?

Anh Ba nhếch môi:

– Cả đám bắn nhau, biết súng nào đạn nào, rồi họ đổ lỗi cho người này người kia. Chả ai ngu nhận, cuối cùng huề cả làng.

Tôi nhìn anh, nửa tin nửa ngờ. Nhưng chuyện lính mà, có khi còn khốc liệt hơn chiến trận.

Anh về, không còn lực lưỡng như xưa. Chân đi khập khiễng, da xanh, tay gầy, nhưng nụ cười vẫn rạng rỡ. Chị tôi nửa mừng, nửa tủi. Chỉ cần anh còn sống, thế là đủ.

***

Anh Ba lại bắt tay vào việc. Từng ngày, anh dọn cỏ, tỉa tiêu, sửa bờ rào. Rẫy nương được chăm chút như xưa. Cuộc sống dần trở lại ổn định. Cha mẹ tôi mừng ra mặt, nhưng vẫn giấu những tiếng thở dài khi quay lưng.

Tranh của họa sĩ Trần Thắng

Mãi sau này, khi nước nhà thống nhất, anh mới kể thật:

– Hồi đó thấy bạn bè chết như rạ, con sợ. Tính đào ngũ mà chưa biết làm cách nào. Có thằng trốn bị bắt, đem ra làm bia tập bắn… bắt mặc áo không cổ, sau lưng có chữ LCĐB – “lao công đào binh” – bị khinh rẻ, hành hạ. Con không muốn thế…

– Vậy… sao cái chân? – chị Hiền hỏi khẽ.

Anh cúi đầu, giọng nghèn nghẹn:

– Hôm xe trúng mìn, ổng chết rồi. Con biết không còn cơ hội. Lúc loạn, con lấy quả mìn trong thùng đồ nghề, giấu ở sau xe… đứng yên, nhắm mắt… đạp…

Không ai nói được gì.

***

Thời còn ở lính, anh Ba từng quen một người – chị Hoa. Chị là y tá quân y, vừa có chuyên môn, vừa có giọng hát trời phú. Chị đẹp, duyên dáng, mặt tròn phúc hậu, tóc dài đen nhánh. Trong đơn vị, chị được nhiều sĩ quan để ý, cưng chiều. Có lần, người ta đồn rằng chị sinh con, nhưng chẳng ai rõ cha đứa bé là ai, sau rồi cũng im.

Một ngày nọ, chị Hoa đưa một người đàn ông về thăm. Ông ta lớn tuổi, gầy gò, mặt hốc hác nhưng ăn mặc chỉnh tề: bộ đồ sĩ quan bốn túi được ủi hồ sắc cạnh, tay áo xắn cao, chân mang đôi bốt da bóng lưỡng. Dáng đi thẳng đơ, khuôn mặt nghiêm nghị như đi duyệt binh, nhưng ánh mắt thì lạc lõng, buồn như đã để quên linh hồn ở một thời quá khứ.

Nền nhà tôi là đất nện, vậy mà mỗi bước chân ông ấy đi vang lên “cộp… cộp”, khô rốc như tiếng vọng xa xăm.

Tối đó, họ đi bách bộ đến khuya. Hôm sau, chị Hoa ghé nhà chị Hiền, mặt mày rạng rỡ:

– Ổng tên Mai, bạn trai cũ của mình. Ổng từ trên tỉnh xuống thăm, cho mình hai cây bảy vàng. Mình mừng quá!

Từ hôm ấy, chị Hoa hay lui tới nhà tôi. Thân thiết với cả anh Ba và chị Hiền. Mọi người không để ý – cho đến sau một mùa vụ, anh Ba phát bệnh.

Lúc ấy, vườn rẫy vừa thu xong. Người ngã trước, hoa màu ngã sau. Anh Ba bị sốt cao, mệt mỏi, biếng ăn, than nhức đầu, ê ẩm cả người. Nghe tin, chị Hoa đem thuốc đến tận nhà:

– Anh không cần đi viện đâu. Để em lo.

Chị xoa bóp tay chân, nấu cháo, đo nhiệt, lo cho ảnh từng chút một. Chị Hiền thấy trong bụng cũng lạ, mà thôi, cũng cảm ơn.

Vài tháng sau, chị Hoa về sống với ông Mai trên phố. Rồi có tin chị sinh cho ông một đứa con trai kháu khỉnh. Ông chăm sóc vợ con tận tình, sửa nhà, mua xe, sắm vàng – không thiếu thứ gì. Ai thấy cũng bảo: đời chị Hoa cuối cùng cũng “trúng số”.

Nhưng đời vốn lắm khúc quanh. Một buổi sáng, người ta đưa ông Mai vào viện vì đột quỵ, huyết áp tăng cao. Rồi có tin đồn râm ran: “Già rồi còn dại… Cà cuống nuôi con tu hú… Đáng đời!”

***

Mùa mưa năm đó, ông Mai bỗng biến mất. Không một lời từ biệt. Chị Hoa tưởng ông về quê ít hôm, nhưng rồi cả tháng vẫn biệt tăm. Em gái ông từ quê lên tìm, mới phát hiện: ông không hề về nhà. Chị Hoa tá hỏa, nhờ người dò hỏi, cuối cùng, người ta tìm thấy xác ông ở một lán rẫy bỏ hoang. Xác đã phân hủy, chỉ còn lại đôi dép da cắt quai hậu, và chiếc nhẫn bạc khắc chữ “M” đeo ở ngón út.

Cái chết ấy khép lại một kiếp đàn ông nghiêm nghị mà dở dang, để lại chị Hoa một mình nuôi con. Chị lần lượt bán hết đồ đạc trong nhà, rồi bán cả căn nhà, dọn vào một con hẻm nhỏ, sống chật vật.

Nhưng lạ thay – chỉ vài năm sau, người ta lại thấy chị giàu trở lại. Nữ trang sáng lấp lánh, áo váy đủ màu đủ kiểu. Ai cũng ngỡ ngàng. Không ai hiểu chị lật lại được phận đời bằng cách nào.

***

Một chiều từ rẫy về, anh Ba chở sau xe ba buồng chuối mật. Gặp anh Công – bạn thân – đang rảo bước trước cổng, anh khựng xe gấp, chống chân xuống đất, chỉ tay ra phía sau:

– Ê, sáng mai ghé quán mụ Năm Rần ăn cháo lòng, uống cà phê cho đã, rồi bốp chát cho vui nghe mậy!

Nói xong, anh cười ha hả, sảng khoái như chưa từng vướng bận chuyện đời.

Ngày xưa, mụ Năm đẹp kiểu… đàn bà thiếu lửa. Không hở hang, không ỡm ờ, nhưng mỗi lần chạm mắt đàn ông lạ là người bà rung lên như điện giật, rồi ánh nhìn lịm xuống như chim trúng gió. Có người bảo bệnh tim. Mẹ tôi bảo:

– Ờ, chắc nó bị loạn tim…

Nhưng bà Sáu bán chè đỗ đen ở góc chợ Chồm Hổm thì nói toẹt:

– Tim gì! Nó thèm đàn ông thì có!

Từ dạo đó, mụ có biệt danh bất hủ trong vùng: mụ Năm Rần.

***

Hôm khác, trời vừa dứt cơn mưa giông, anh Ba hằm hằm xách khẩu carbine từ ngoài sân bước vào nhà. Cây súng dài gần bằng cánh tay anh, lấp lánh nước mưa. Mặt anh đanh lại, trán hằn vệt giận. Thấy vậy, chị Hiền hoảng:

– Trời ơi! Anh làm gì mà xách súng về nhà vậy? Ở đâu ra?

Anh nghiến răng:

– Mẹ kiếp! Thằng Tòng chủ tịch xã – chủ tịch gì mà nhậu về lè nhè, vác súng dọa bắn vợ như du côn! Anh đi ngang nghe vợ nó la, ghé vô hỏi, thấy chướng quá, giật luôn khẩu súng. Tặng thêm mấy bạt tai cho tỉnh người.

– Rồi… rồi nó có sao không? – chị Hiền lo lắng.

– Nó chắp tay xá lia lịa: “Anh Ba ơi, em xin lỗi, anh tha cho em!”.

Anh bảo nó: “Xin lỗi tao chi! Mày xin lỗi vợ mày kìa!”.

Nó khóc ròng. Nhìn mà tội. Anh xách súng về luôn. Giờ tính hỏi cho ra: súng đâu mày có?!

***

Tính anh Ba  mà– lầm lì, cứng đầu, không thích rùm beng, nhưng gặp chuyện ngang tai trái mắt là ra tay liền, mà đã ra thì rốt ráo, không nửa chừng. Trong mắt làng xóm, ảnh không chỉ là người trụ cột – mà còn là người đứng ra chấn chỉnh những lệch lạc kiểu thôn quê, theo cách riêng của mình.

Người ta nhớ rất kỹ, sau khi hòa bình, giấy tờ được rà soát lại, chuyện cũ tưởng như lặng lẽ trôi qua bỗng được khơi lên. Anh Ba bất ngờ được truy tặng Huy chương Người có công – ghi nhận những năm tháng lặng lẽ nuôi giấu cán bộ, âm thầm gùi gạo, vượt đèo tiếp tế cho kháng chiến…

Tấm huy chương đỏ au ấy được gửi về muộn màng, sau một cơn bão. Nhưng không ai quên được cái ngày, anh Ba đã chọn dùng mìn phá hủy thân thể mình, để khỏi phải cầm súng quay lưng với đồng đội.

***

Sau đợt xuất cà phê và tiêu cho đại lý, chị Hiền mở két chuẩn bị thanh toán tiền cho khách hàng thì giật mình phát hiện hụt một khoản lớn. Chị không nói gì, âm thầm kiểm tra sổ sách, dò lại từng khoản chi. Có thể là sai sót, cũng có thể… con cái lấy. Nhưng với anh Ba – người bạn đời bao năm – chị tuyệt đối tin tưởng.

Dù vậy, chị vẫn nhờ một người thân kín tiếng theo dõi giúp.

Nửa đêm, điện thoại chị rung bần bật. Đầu dây bên kia hốt hoảng:

– Anh Ba nhập viện rồi chị ơi! Cấp cứu… nguy lắm!

Chị bủn rủn tay chân, gọi xe chạy ngay trong đêm. Đến nơi, bác sĩ nói:

– Cả hai bệnh nhân – nam và nữ – cùng nhập viện do uống phải “thuốc” giả, gây rối loạn tim mạch nghiêm trọng. May mà phát hiện kịp.

Người đàn bà nằm giường bên… là chị Hoa.

Biết rõ đầu đuôi, chị Hiền chết lặng. Lát sau, chị gượng nói với bác sĩ:

– Kệ… để ổng tự xử. Tôi không còn gì để nói!

Rồi chị quay lưng bỏ về. Không giận, không gào. Chỉ là… một người đàn bà đã chai lòng.

***

Sáng hôm sau, nơi quán cà phê đầu chợ, người ta xầm xì:

– Ông Ba nổi tiếng đó! Nghe đâu… thuốc “giả”!

– Trời đất, lớn tuổi rồi mà còn…

Câu chuyện lan nhanh hơn mùi cà phê sớm. Ở làng quê, cái gì thật – giả lẫn lộn. Tin đồn,  có khi còn độc hơn mìn Claymore.

Ngày xuất viện, anh Ba về tới cổng thì con vện đã sủa vang từ trong sân. Không như mọi khi – nó chẳng chạy ra mừng, không vẫy đuôi. Chỉ gầm gừ, sủa quàng như trước một kẻ xa lạ.

Anh đứng khựng lại. Cúi đầu. Lặng lẽ đi vào.

Trong nhà, chị Hiền đang quét dọn, nghe tiếng bước chân thì biết chồng đã về, nhưng không ngoảnh lại. Anh cất tiếng, như thì thầm:

– Hiền… anh… về đây!

Chị vẫn quét đều tay, đáp khẽ:

– Ờ. Mấy hôm nay, cả làng ai chả biết anh đi đâu…

Tối đó, anh Ba ngồi ngoài hiên. Không đốt thuốc, không chợp mắt. Con vện lặng lẽ bò tới, nằm dưới chân anh, không rúc đầu vào lòng, không liếm tay như xưa. Nó chỉ khịt khịt mũi, rồi hắt hơi một cái – ánh mắt ngoảnh lên nhìn chủ như mang một nỗi thất vọng khó gọi tên.

Từ hôm ấy, anh Ba trở nên lặng lẽ. Không than vãn. Không giải thích. Cũng chẳng còn là anh Ba ngày xưa nữa. Có gì đó trong anh đã thay đổi. Mùi mồ hôi từng quen thuộc trên áo – nay cũng đã khác. Mùi lạ.

Vậy mà một đêm, trời trở lạnh, gió hú rít bên hiên. Anh Ba ngồi co ro bên chõng tre, ánh mắt mỏi mệt nhìn xa xăm. Chị Hiền từ trong nhà bước ra, tay cầm ly nước pha chút mật ong rừng với tí chanh, thứ anh ưa thích, nghi ngút khói. Không nói không rằng, chị đặt ly xuống bên cạnh anh, rồi đứng đó – tay đan vào nhau, ánh mắt dịu lại.

Anh ngước lên, lắp bắp:

– Em… còn pha nước uống cho anh đấy à?

Chị không nhìn thẳng, chỉ khẽ đáp:

– Uống đi anh… Trời lạnh.

Rồi quay vào, khép cánh cửa lại – nhẹ như một cái thở dài.

Tối ấy, lần đầu sau biến cố, hai cái bóng lại ngồi cùng bên hiên – không nói gì, nhưng khoảng cách giữa họ không còn lạnh lẽo như những đêm trước. Hơi mật ong rừng thơm ngát, lan giữa màn sương.

***

Rồi một chiều. Mây dày, gió nổi, rồi mưa giông ào đến như trút. Giữa cơn chớp giật, sấm dội, chị Hiền gọi cho tôi, giọng đứt quãng, hoảng hốt:

– Trần ơi!… Anh Ba… ho mấy tiếng rồi hộc máu… đỏ tươi… rồi từ từ lịm luôn… không kịp trở tay…

Tôi quàng vội chiếc tơi, chạy qua nhà. Cảnh tượng đập vào mắt khiến tôi đứng sững: anh nằm bất động trên nền nhà, máu còn loang đỏ. Chị Hiền ngồi sụp bên xác chồng, gào khóc như đứa trẻ.

Tôi ôm lấy đầu, ngửa mặt hét lên, giọng cay đắng:

– Anh Ba ơi! Cả đời anh sống mạnh mẽ, gan lì, khôn ngoan là thế… Sao lại để một mùi lạ dẫn mình trôi tuột khỏi chính mình thế này? Sao lại chết trong sự đơn độc như thế hả anh Ba?!

Tiếng tôi vọng dài trong mưa. Con vện tru lên từng hồi – như tiếng tiễn biệt đau đớn giữa đất trời.

NHƯ TẤN

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *