Hoàng đế Lê Đại Hành: Bậc anh hùng “đánh đâu được đấy” và di sản ngàn năm

Vanvn- Lê Đại Hành không chỉ là một vị hoàng đế tài ba với chiến công “phá Tống, bình Chiêm” hiển hách, bảo vệ vững chắc nền độc lập non trẻ của nước nhà, mà ông còn là người đặt nền móng cho nhiều cải cách tiến bộ về nội trị, ngoại giao và kinh tế. Hơn 1.000 năm trôi qua, thân thế, sự nghiệp và những dấu ấn nghệ thuật tại đền thờ ông vẫn là niềm tự hào lớn lao của dân tộc.

Vua Lê Đại Hành tên húy là Lê Hoàn, sinh năm Tân Sửu (941), tại vùng đất giàu truyền thống Châu Ái (nay thuộc tỉnh Thanh Hóa). Sinh ra trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động, tuổi thơ của Lê Hoàn chịu nhiều bất hạnh khi sớm mồ côi cả cha lẫn mẹ. Thế nhưng, hoàn cảnh ngặt nghèo không khuất phục được ý chí của bậc vĩ nhân. Ngay từ thuở nhỏ, Lê Hoàn đã bộc lộ rõ là người có chí khí phi thường, thông minh và đầy bản lĩnh.

Tượng vua Lê Đại Hành tại tỉnh Ninh Bình. Ảnh: Vũ Thượng

Khi trưởng thành, gặp buổi đất nước lâm vào cảnh cát cứ của loạn 12 sứ quân, Lê Hoàn đã hăng hái tham gia vào công cuộc dẹp loạn. Bằng tài năng quân sự bẩm sinh và lòng quả cảm, ông liên tiếp lập nhiều chiến công hiển hách, trợ giúp đắc lực cho Đinh Bộ Lĩnh thống nhất giang sơn, thu giang sơn về một mối.

Năm 968, nhà Đinh thành lập, đất nước thanh bình. Ghi nhận tài năng và lòng trung thành tuyệt đối của Lê Hoàn, vua Đinh Tiên Hoàng đã tin tưởng giao cho ông trọng trách nắm giữ chức vụ cao nhất trong quân đội lúc bấy giờ: Thập đạo tướng quân. Đây chính là bước đệm quan trọng khẳng định vị thế và uy tín tuyệt đối của ông đối với quân và dân Đại Cồ Việt.

Năm 979, triều đình nhà Đinh rơi vào cuộc khủng hoảng nghiêm trọng sau nội loạn. Phía Bắc, nhà Tống lăm le bờ cõi; phía Nam, Chiêm Thành chực chờ quấy nhiễu. Trước vận mệnh ngàn cân treo sợi tóc của giang sơn, được sự đồng thuận của quân sĩ và đặc biệt là sự sáng suốt của Thái hậu Dương Vân Nga, Lê Hoàn đã bước lên ngôi hoàng đế vào năm 980, lập nên triều Tiền Lê, lấy niên hiệu là Thiên Phúc.

Ngay sau khi đăng quang, vua Lê Đại Hành đã phải đối mặt với thử thách lịch sử: cuộc xâm lược quy mô lớn của quân Tống vào năm 980. Giặc kéo sang nước ta theo hai đường thủy và bộ, chia làm ba mũi tiến công hiểm hóc tại Bạch Đằng, Chi Lăng và Tây Kết. Trước thế giặc mạnh như vũ bão, nhà vua đã tự mình làm tướng, trực tiếp chỉ huy trận then chốt trên sông Bạch Đằng.

Bằng nhãn quan chiến lược sắc bén, Lê Đại Hành đã thực hiện xuất sắc chiến thuật “đánh nhanh, thắng nhanh”, bẻ gãy ý chí chiến đấu và tiêu diệt gọn lực lượng thủy quân tinh nhuệ của giặc. Song song với đó, tại mặt trận Chi Lăng, nhà vua dùng mưu sai người trá hàng, dụ bắt sống tướng giặc.

Thất bại thảm hại trên cả hai mặt trận thủy bộ, quân Tống rơi vào thế tiến lui đều khó. Sứ giả nhà Tống phải cấp báo tình hình thua trận về triều, buộc vua Tống phải xuống chiếu lui quân.

Đền thờ vua Lê Đại Hành trong khuôn viên Khu di tích quốc gia đặc biệt Cố đô Hoa Lư (Ninh Bình). Ảnh: V.T.

Chiến thắng kháng Tống năm 981 là một mốc son chói lọi, chứng minh năng lực tổ chức chiến tranh nhân dân độc đáo của vua Lê Đại Hành, đập tan âm mưu đồng hóa của phong kiến phương Bắc.

Không dừng lại ở đó, để giữ yên bờ cõi phía Nam, năm 982, Lê Đại Hành tiếp tục đích thân đem quân chinh phạt Chiêm Thành để trị tội bắt giữ sứ thần của ta. Đây được coi là cuộc Nam phạt đầu tiên, tạo tiền đề quan trọng cho công cuộc Nam tiến của các vương triều sau này.

Cuộc kháng Tống, bình Chiêm đại thắng đã khẳng định mạnh mẽ quyền làm chủ đất nước của nhân dân ta, bảo vệ vững chắc thành quả đấu tranh bền bỉ của cha ông, đưa tên tuổi của Lê Đại Hành cùng quân tướng nhà Tiền Lê mãi khắc sâu vào trang sử vàng chống ngoại xâm của dân tộc.

Lê Đại Hành, vị minh quân chăm lo nội trị và phát triển kinh tế vương triều

Khi khói lửa chiến tranh tan bớt, đất nước trở lại thanh bình, vua Lê Đại Hành lập tức tập trung vào việc củng cố nền thống nhất quốc gia và phát triển kinh tế đất nước.

Năm 984, nhà vua cho đúc đồng tiền “Thiên Phúc trấn bảo” để thúc đẩy hoạt động giao thương, mua bán trong nhân dân, khẳng định chủ quyền kinh tế độc lập độc lập của vương triều.

Khám phá Khu di tích quốc gia đặc biệt Cố đô Hoa Lư. Ảnh: Tạo dựng AI

Ngoài ra, vua Lê đặc biệt chú trọng mở mang hệ thống đường giao thông và đào sông ngòi. Việc này vừa phục vụ cho việc vận chuyển hàng hóa, giao thương giữa các vùng miền, vừa đóng vai trò cốt lõi trong phát triển sản xuất nông nghiệp, trị thủy.

Đặc biệt, Lê Đại Hành là vị vua đầu tiên trong lịch sử phong kiến Việt Nam đích thân xuống đồng đi cày ruộng Tịch điền nhằm khuyến khích, cổ vũ người dân chăm lo nghề nông.

Sử cũ còn ghi lại câu chuyện đậm chất giai thoại đầy ý nghĩa: “Đinh Hợi, năm 987, mùa Xuân vua cày ruộng ở núi Đọi được một chĩnh vàng nhỏ, lại cày ở núi Bàn Hải được một chĩnh bạc, vì thế đặt tên là ruộng Kim Ngân”.

Đánh giá về tầm vóc của ông, nhà sử học Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt sử ký toàn thư đã không tiếc lời ca ngợi: “Vua đánh đâu được đấy, chém vua Chiêm Thành để rửa cái nhục phiên di bắt giữ sứ thần, đánh lui quân Triệu Tống để bẻ cái mưu ăn chắc của vua tôi bọn họ, có thể coi là bậc anh hùng nhất đời vậy”.

Năm 1005, nhà vua băng hà, hưởng thọ 65 tuổi. Khai Minh Vương Lê Long Đĩnh lên nối nghiệp cha, đến năm 1009 thì triều Tiền Lê khép lại. Dù thời gian trị vì của vương triều không quá dài, nhưng những gì Lê Đại Hành để lại đã tạo nền móng vững chắc cho sự phát triển rực rỡ của kỷ nguyên Lý – Trần sau đó.

Kiến trúc đền thờ vua Lê Đại Hành, nơi lưu giữ nghệ thuật chạm khắc đỉnh cao

Không chỉ lưu danh trong sử sách bằng những chiến công và chính sách tiến bộ, anh linh của vua Lê Đại Hành còn được người đời sau kính cẩn thờ phụng. Đền thờ vua Lê Đại Hành tại cố đô Hoa Lư (tỉnh Ninh Bình) được xây dựng, trùng tu lớn vào thế kỷ XVII chính là một kiệt tác kiến trúc, nơi chứng kiến sự thăng hoa của nghệ thuật điêu khắc gỗ dân gian thời Hậu Lê.

Nghi môn và những mảng chạm mang dáng dấp điệu múa Apsara: Bước vào không gian đền, du khách không khỏi trầm trồ trước Nghi môn của đền. Nơi đây sở hữu bức chạm khắc độc đáo đặc tả hình ảnh hai cô tiên đang cưỡi rồng.

Với tư thế giang tay múa uyển chuyển, trang phục mềm mại, nghệ thuật tạo hình này dễ gợi cho người xem liên tưởng đến những điệu múa cổ truyền của các vũ nữ Apsara, một dấu ấn văn hóa giao thoa vô cùng thú vị.

Tại hiên đền chính là sân khấu phô diễn kỹ thuật đỉnh cao của các nghệ nhân xưa. Các mảng chồng rường chủ yếu được trang trí bằng hình ảnh hoa sen, hoa cúc và rồng cách điệu. Ở đây, hoa sen không chỉ tượng trưng cho sự thanh cao, cho triết lý nhân quả của Phật giáo mà khi kết hợp với hình tượng hổ, khóm trúc, nó còn gắn liền với truyền thuyết kỳ bí về sự ra đời của Lê Hoàn.

Đặc biệt, tại hiên đền, 6 chiếc bẩy gỗ được các nghệ nhân khéo léo biến tài tình thành 6 con rồng. Do bố trí đầu rồng quay lên sát xà ngang, cấu trúc này tạo cảm giác như những chú rồng đang sống động vươn mình lên.

Sự kết hợp này tạo nên các đề tài “long hổ hội ngộ”, rồng phun lửa, rồng ngậm ngọc… Bốn đầu dư cũng được đục đẽo thành bốn đầu rồng với bờm râu tua tủa, sắc nét như đang bay lượn giữa làn mây đao mác. Nghệ thuật chạm lộng tại đây đã đạt đến độ điêu luyện, tinh xảo đến khó tin.

Bên cạnh mô típ rồng truyền thống, các nghệ nhân thế kỷ XVII còn đưa hơi thở cuộc sống vùng đồng bằng Bắc Bộ vào di tích qua các mảng chạm “trúc hóa long”, “cá hóa long”. Đặc biệt, hình ảnh cá chép trong điển tích “cá hóa long” ở đây đã được “địa phương hóa” một cách đầy chủ ý thành dáng dấp của loài cá rô, một đặc sản nổi tiếng của vùng đất Trường Yên chiêm trũng.

Hình ảnh thân trúc xương gà uốn lượn khúc khuỷu với các đốt phồng to trong đề tài “trúc hóa long”, “trúc tước” cũng mang lại vẻ đẹp tự nhiên, mộc mạc nhưng không kém phần quý phái.

Bước vào tòa Bái đường, nơi thờ công đồng, điểm nhấn kiến trúc độc đáo bậc nhất chính là đôi xà ngà voi cách điệu từ gỗ. Hai ngà voi thực chất là hai kẻ góc có nhiệm vụ vừa đỡ mái, vừa che khéo léo các đầu hoành. Đây là một kỹ thuật cực kỳ khó trong kiến trúc gỗ cổ truyền, từng đi vào ca dao như một chuẩn mực: “Thứ nhất là cầu thượng gia, thứ nhì kẻ góc, thứ ba đao đình”.

Tại tòa Thiêu hương, nơi thờ các quan triều Tiền Lê, nghệ thuật chạm khắc lại một lần nữa thăng hoa trên các vì ván mê. Đề tài về rồng được biến hóa đa dạng thông qua các hoạt cảnh “rồng ổ”, “rồng đàn” sum vầy, gợi nhắc đến khát vọng sinh sôi nảy nở, tín ngưỡng cầu phồn thực lâu đời của cư dân nông nghiệp lúa nước.

Có thể khẳng định, đền thờ vua Lê Đại Hành là một di tích lịch sử – văn hóa vô giá. Ở đó, nghệ thuật điêu khắc gỗ dân gian chính là điểm sáng rực rỡ, tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật thời Hậu Lê nói riêng và nền kiến trúc cổ Việt Nam nói chung. Chiêm ngưỡng ngôi đền và lật giở lại những trang sử vàng của triều Tiền Lê, thế hệ hôm nay càng thêm kính phục, biết ơn vị vua anh hùng Lê Đại Hành, người đã dùng cả cuộc đời để giữ vững giang sơn, nâng tầm vị thế của đất nước Đại Cồ Việt độc lập, tự chủ.

VŨ THƯỢNG

Báo Dân Việt

———————

Nguồn tư liệu: Trung tâm bảo tồn di tích Lịch sử-Văn hóa Cố đô Hoa lư Ninh Bình.

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *