Trăng lên – Tiểu thuyết của Thế Đức – Kỳ 1

Vanvn- Nhà văn Thế Đức họ tên đầy đủ Nguyễn Thế Đức, sinh năm 1955, quê quán ở Phú Xuyên, Hà Nội, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Ông đã xuất bản các tác phẩm: Hoa rừng – thơ, Lời nguyền thiêng – tập truyện, Ngưỡng đời – tập truyện, Bão Đỏ – tập truyện, Trăng lên – tiểu thuyết.

Nhà văn Thế Đức

Suy nghĩ về nghề văn, Thế Đức cho rằng: “Nhà văn giống như người làm vườn, phải tận tụy, một nắng hai sương, và luôn sáng tạo đổi mới trong lao động sản xuất thì mới hy vọng có được những mùa hoa thơm trái ngọt để dâng hiến cho đời!”

Tiểu thuyết lịch sử Trăng lên của ông do NXB Hội Nhà văn ấn hành năm 2022, gồm 17 chương, mỗi chương mang một nhan đề có sức gợi như: Trốn chạy; Vụ bắt cóc hi hữu; Đặng Vũ, Những kỉ niệm đầu tiên với người phụ nữ miền Tây Phú Vân và bài học nhớ đời…

Vanvn.vn trân trọng giới thiệu một số chương tiểu thuyết Trăng lên của nhà văn Thế Đức.

 

Chương I

TRỐN CHẠY

 

Mẹ tôi sinh nở lần đầu. Khi chị tôi còn chưa đủ cữ thì cha đi kháng chiến. Từ đó, mẹ và chị ở với ông bà

nội. Ông nội tôi vốn là dân nhà võ nhưng lại rất biết đường làm ăn sinh sống. Năm ba mươi tuổi, ông đã mua được ba mẫu ruộng, mấy sào ao và một nửa con trâu chung với nhà hàng xóm. Ngày mùa vất vả lắm, cứ vào hai vụ cấy, hai vụ gặt thì không ai mở mắt được lúc nào. Cha đi vắng, cảnh nhà đã quạnh hiu thì chớ lại vất vả thêm bội phần. Vừa sớm tinh mơ, mẹ đã phải địu chị tôi ra đồng gặt lúa. Chị tôi ngặt nghẽo trên lưng mẹ, có lúc khóc sủi cả bong bóng mũi. Bà nội vốn là người hay lam hay làm, lúc nào cũng tham công tiếc việc. Chính vì thế, dù mẹ còn rất yếu cũng vẫn phải theo bà, làm việc quần quật cả ngày.

Đến chiều, đống lúa to như đống rơm được xếp ở một góc sân. Ông nội bưng cái cối đá đặt nghiêng bên cạnh. Ông dùng chiếc néo, kẹp chặt hai ba bó lúa đập xuống mặt cối cho thóc rơi ra, xơ lúa quẳng sang bên cạnh. Trước ngày cha tôi đi kháng chiến thì hai cha con ông luôn là một cặp.

Ngày dưng làm một cặp luyện tập võ công. Ngày mùa làm một cặp đập lúa. Tiếng đập lúa đôi nghe thùm thụp, thùm thụp. Thóc rơi rào rào, rào rào, khí thế lắm. Chỉ một lát, khi lưng áo của hai người còn chưa kịp thấm mồ hôi thì đống lúa cũng đã gần hết…

Vậy mà bây giờ, chỉ có một mình ông nội, tiếng đập lúa của ông nghe thật cô đơn. Bà nội và mẹ đứng vịn tay vào bờ tường, chẳng ai trò chuyện với ai, chỉ thấy hai cặp chân cứ vò vò, đạp đạp, cho đến lúc không còn hạt thóc nào sót lại. Bà nội đã quen với công việc này nên chẳng có vấn đề gì. Chứ với mẹ, vốn là con nhà khá giả trong làng, tuổi vừa lớn, lại mới đẻ, da còn non nhớt, rơm sắc cào tứa cả máu, đau rát đến tận ruột. Công việc xong thì đã khuya. Mẹ ra bể nước sau nhà tắm.

Dạo cha ở nhà đã trồng một bụi chuối rất to, thành hình vòng cung bao quanh cái bể, chỉ hở mỗi lối vừa đủ ra vào. Mẹ kéo tấm liếp che kín khoảng trống đó, rồi cởi áo váy, múc nước từ từ giội lên mình. Một ngày làm việc nóng nực, mệt nhọc, dòng nước mát làm mẹ tỉnh hẳn ra…

Mùa gặt vừa xong, lại chuẩn bị bước vào vụ cấy. Ông nội lo việc cày bừa ba mẫu ruộng và nhổ mạ chuyển ra đồng cho bà và mẹ. Xong việc, ông nội về nhà, bắt đầu quanh quẩn với mấy sào ao. Ông nội tôi mê việc ao chuôm cá mú lắm. Ông thả đủ loại tôm cá. Những ngày rỗi rãi, ông nội thức dậy từ lúc gà gáy thứ nhất, đi thuyền ra giữa ao, quây phên, thả mồi, rồi dùng vợt để bắt cá, đến tang tảng sáng thì thu phên, gác vợt. Cá bắt được ông nội giao cho con dâu mang ra chợ bán. Mẹ tôi là con dâu độc nhất, lại được người được nết nên cả ông bà nội đều hết thảy thương quý.

– Nhà này, khéo che thì các con ấm, để hở thì các con lạnh chứ thầy u thì đã già rồi.

Ông nội nói với con dâu. Mẹ tôi hiểu ý, hai bàn tay đan vào nhau, khép nép.

– Thưa thầy, con xin vâng lời thầy chỉ bảo ạ.

***

Ông nội có việc đi ra phố huyện. Phố huyện chạy dài theo con đường quốc lộ do Việt Minh kiểm soát từ khi mới cướp chính quyền. Đối phương cũng nhiều lần muốn cướp lại nhưng không được, đành bỏ. Làng tôi nằm sâu tít phía trong, vẫn thuộc vùng tạm chiếm của quân đội Pháp. Mỗi lần có việc ra vùng tự do, ông nội phải đi từ rất sớm, đến tối, không nhìn rõ mặt người mới quay về. Ngay tối hôm ấy, ông nội gọi cả nhà ra ngoài hiên, ngồi quây quần bên ngọn đèn dầu. Đã lâu lắm rồi, kể từ ngày cha đi kháng chiến, cả nhà tôi ít có dịp được ngồi quây quần bên nhau như thế này. Ông nội miệng thì thầm, tay chỉ về hướng mặt trời lặn.

– Có vẻ sắp đánh nhau to rồi. Tôi nhìn thấy quân ta kéo về mạn ấy đông lắm.

Ông nội kể lại những điều mắt thấy tai nghe ở ngoài phố huyện. Bà nội ngồi im, môi mím chặt, mắt đăm đắm nhìn theo hướng ông nội chỉ. Mẹ sụt sịt khóc, nước mắt ướt đầm cả má. Chị tôi khi ấy mới bảy tuổi đầu, chưa có khái niệm gì về thời cuộc nên cứ mặc cho người lớn nói chuyện. Chị nằm ngả ngốn trong lòng mẹ, miệng bi bô hát. Giọng hát của chị, một đứa trẻ nói còn chưa rõ tiếng, chẳng khác gì người đọc nhiều thành quen:

“Cha đi kháng chiến, bắn thằng Tây to xác ngã lăn đùng. Bao giờ kháng chiến thành công, cha sẽ về với con…”

Mẹ đang buồn, nghe tiếng hát của con gái đã chạm vào

từng sợi cảm xúc khiến mẹ càng bị chấn động thêm. Cha ra đi đã sáu bảy năm rồi còn gì nữa. Ngày ở nhà, cha rất thích nghe mẹ hát ru con gái bằng những bài hát dân ca đồng bằng Bắc Bộ, thảng hoặc cũng có những bài hát như thế. Mẹ hát, cha búng búng ngón tay gõ nhịp. Lúc này mẹ đang nhớ cha ghê lắm! Mẹ nhớ cha trào qua khóe mắt, bật thành tiếng nấc. Rồi mẹ ôm chặt con gái vào lòng…

Nghe tiếng khóc của con dâu, ông nội, bà nội bỗng dưng im bặt, lòng dạ se thắt lại. Ông bà đưa mắt nhìn nhau. Chị tôi chẳng hiểu mô tê răng rứa gì cả nhưng thấy thái độ người lớn nghiêm trọng thế cũng có vẻ khép nép. Mẹ tôi cúi nhìn con, đưa tay xoa xoa lên mái đầu lưa thưa vài sợi tóc tết thành cái đuôi gà chổng ngược về phía sau.

Bà nội chép miệng, thở dài. Mắt bà chớp chớp liên hồi và hơi cay cũng bắt đầu trào ngược lên mũi. Ông nội tôi thì cứng rắn hơn. Ông nhìn con dâu rồi lấy giọng động viên an ủi:

– Nín đi con. Cứ nhìn khí thế bộ đội Việt Minh cũng đủ biết họ đang rất mạnh. Kháng chiến sắp thành công rồi. Chỉ nay mai là thằng Cả sẽ về thôi.

Mẹ lau nước mắt.

– Vâng ạ. Lạy trời cho nhà con tránh được hòn tên mũi đạn! Ông nội im lặng một lát rồi gật đầu.

– Lạy trời phù hộ cho nó được như thế! Thôi, khuya rồi, cả nhà đi ngủ đi, để tôi chuẩn bị bộ vợt mới cái đã. Sáng nay có con cá to quá, quẫy mạnh, rách bung hết cả lưới.

Ông nội nói rồi đứng dậy, đi về phía gian nhà ngang chứa lỉnh kỉnh rặt những đồ nghề bắt cá. Bà nội và mẹ cũng đứng dậy theo. Bà nội đi tới chiếc võng mắc ở gian bên. Bà vẫn hay nằm ở đó, có khi tiện thể ngủ luôn đến sáng. Còn mẹ bế chị tôi rẽ vào phòng bên trái. Mẹ chốc chốc lại trở mình. Tiếng giường cọt kẹt. Tiếng võng đưa cót két. Tiếng cây cối ngoài vườn thở khào khào. Tiếng côn trùng rỉ rả trộn lẫn tiếng cú kêu oa oa trên cành nhãn trước sân. Tất cả luồn qua ô cửa sổ tới tận chỗ nằm của mỗi người làm khoảng đêm nhão nhoét. Chẳng hiểu sao, tất cả mọi người trong nhà tôi đêm ấy cứ thao thức mãi, không thể ngủ được…

***

Sáng hôm sau, mẹ vẫn dậy sớm như mọi ngày. Ông nội đã đem mấy giỏ cá về đặt ở góc sân. Mẹ lấy hai chiếc thúng được phết sơn đen, đổ nước, buông cá vào thúng, đậy kín lại bằng chiếc mẹt rồi quẩy ra chợ. Con đường từ đầu làng ra chợ vắng ngắt còn thấm đẫm hơi sương. Hai bên đường là ruộng lúa đang thời con gái, xanh mượt, lượn sóng rì rào. Khoảng giữa có một ngôi miếu nằm ngay bên vệ đường, cây cối mọc um tùm. Theo lời truyền, có một người con gái tên Xoan bị oan nghiệt vì tình đã trẫm mình xuống giếng. Dân làng Vân Nhuệ thấy oan hồn người con gái ấy rất thiêng nên đã lập miếu thờ, gọi là miếu Cô Xoan…

Mẹ kẽo kẹt quảy hai thúng cá đến chợ, vừa đặt gánh xuống

đã có người đến mua mở hàng. Hôm ấy, mẹ bán đắt hàng ghê lắm, chỉ một loáng đã xong. Mẹ thu dọn quang gánh rồi mua hoa quả và ít tiền vàng ra đặt ở miếu Cô Xoan. Lần nào cũng vậy, hễ bán đắt hàng là mẹ lại ra đặt lễ tạ ơn cô Xoan. Trong tâm niệm của mẹ, cô Xoan là người tốt, vì oan nghiệt mà đành phải chết bất đắc kỳ tử. Mẹ rất thương cô Xoan. Có lẽ vì vậy mà cô Xoan luôn phù hộ cho mẹ mua may bán đắt thì phải…

Vừa rẽ vào miếu, mẹ giật thót tim khi thấy một người đàn ông từ trong miếu bước ra. Thoạt đầu, mẹ thấy người này là lạ. Nhưng chỉ ít giây sau, mẹ đã nhận ra đấy chính là Sang. Sang là con một điền chủ rất giàu có trong làng, cùng học chung thầy dạy với cha tôi. Đến tuổi trưởng thành, cha theo du kích rồi đi kháng chiến, còn Sang đi lính cho Pháp. Đã lâu lắm rồi không thấy Sang về làng. Lúc này, Sang mặc bộ đồ nhà binh đeo quân hàm cấp úy. Khẩu súng lục xệ xuống tận đùi. Tại sao hôm nay Sang lại xuất hiện đột ngột ở chỗ này? Mẹ vụt nghĩ. Sang nhìn mẹ chằm chặp, miệng cười cười, để lộ hai cái răng vàng chóe.

– Chào Loan. Chắc Loan ngạc nhiên lắm phải không? Tôi

được thượng cấp cho về nhà nghỉ ít bữa để chuẩn bị lên chiến trường. Dạo này, Việt Minh hoạt động dữ lắm. Họ đang muốn lấy trứng chọi đá ở một tập đoàn cứ điểm rất hùng mạnh của quân đội Pháp.

Mẹ nghe Sang nói, chột dạ, nhớ tới câu chuyện ông nội vừa kể tối qua. Đúng là bộ đội ta hành quân lên đó rồi. Vậy là không còn nghi ngờ gì nữa, sắp đánh nhau to thật rồi.

– Chào ông Sang. Tôi không dám ạ.

– Ấy chết, Loan đừng nói thế. Chúng ta là người cùng làng cả mà. Tôi và chồng Loan đã từng là bạn thân thiết của nhau hồi còn đi học. Chúng tôi không hề thù oán gì nhau, chắc Loan cũng biết thế? – Hắn vừa nói vừa đặt bàn tay lên ngực như muốn biểu lộ tình cảm, rồi tiếp. – Hôm nay, tôi biết thế nào Loan cũng qua đây nên đã ra từ rất sớm để đợi Loan về.

– Ông đợi tôi làm gì? Giữa tôi và ông có liên quan gì với nhau mà ông phải ra đây đợi tôi? Thôi, xin chào ông, tôi về.

Mẹ nói rồi quay gót. Nhưng Sang đã vượt lên phía trước chặn ngang lối đi của mẹ.

– Ấy chết, tôi xin lỗi Loan. Đã lâu lắm rồi không gặp nhau, Loan hãy ngồi nghỉ chân, tôi cũng muốn hỏi thăm chồng Loan một chút.

– Tôi không biết gì về anh ấy cả. Ông làm ơn cho tôi về. Con tôi còn nhỏ. Tôi xin đội ơn ông.

– Không được. Em phải nể mặt tôi chứ.

Sang nói rồi sấn đến, giằng chiếc đòn gánh trên vai mẹ tôi. Đôi quang đeo hai chiếc thúng đựng cá tuột khỏi đòn gánh, lăn xuống giếng ngay bên cạnh. Hai người giằng co nhau một hồi. Thường ngày, mẹ chỉ là người đàn bà rất yếu đuối. Vậy mà lúc này, mẹ bỗng nhiên mạnh mẽ, đến nỗi chính Sang cũng không thể ngờ được.

– Tôi là gái đã có chồng. Buông tôi ra! Bớ làng nước, cứu tôi với! – Mẹ gào lên.

Sang cười gằn.

– Em không biết đây là lãnh địa của người Pháp chứ không phải của Việt Minh à?

Trăng lên – Tiểu thuyết của nhà văn Thế Đức

Trong lúc hai người đang co kéo nhau, bỗng nhiên, có một chuyện rất lạ đã xảy ra. Sang đột ngột nhìn thấy từ miếu Cô Xoan có luồng khói trắng bay vút tới trước mặt và hiện nguyên hình một người con gái, tay chỉ mặt Sang quát lớn: “Hãy dừng lại! Tội nhà người đáng chết!” Sang sợ quá, tay buông khỏi chiếc đòn gánh, miệng lắp bắp: “Cô Xoan! Cô Xoan!” Hai tay hắn giơ lên trời, lùi dần, lùi dần: “Xin cô tha cho! Tội tôi đáng chết! Tội tôi đáng chết!” Miệng nói, chân Sang bước giật lùi như người đi trong vô định theo mỗi bước chân người con gái đang tiến đến rất gần. Bỗng Sang lao ùm xuống giếng. Sang không biết bơi mà giếng lại rất sâu nên hắn cứ vùng vẫy, vùng vẫy mãi, lúc chìm, lúc nổi…

Mẹ sợ quá, la toáng lên.

– Bớ người ta, cứu! Cứu!

Sang vẫn vùng vẫy rất mạnh, hai tay đập ùm ùm, nước bắn tung tóe.

– Cứu! Cứu!

Mẹ vẫn kêu đến nỗi lạc cả giọng giữa cánh đồng không một bóng người. Rồi bỗng nhiên, lại một chuyện rất lạ nữa xảy ra. Trong lúc mẹ đang hoảng hốt thì nghe rõ có tiếng người đàn bà quát bên tai: “Chạy đi! Chạy ngay đi!” Trong thoáng chốc, mẹ vụt nghĩ đến cô Xoan. Chẳng phải cô Xoan cũng đã bị oan nghiệt vì tình mà phải chết ở chính cái giếng này đó sao? Cô Xoan đã hiện lên để cứu mẹ thoát khỏi cơn hiểm nghèo. Mẹ vội vứt chiếc đòn gánh, vùng chạy. Mẹ chạy như bay từ miếu Cô Xoan về nhà rồi nằm vật lên giường, khóc nức nở…

***

Ông bà nội thấy con dâu bỗng dưng như vậy thì hoảng hốt, vội vàng chạy tới. Mẹ vẫn tức tưởi. Bà nội cuống cuồng đưa tay vỗ vỗ, đập đập lên người con dâu.

– Mẹ Cả, mẹ Cả ơi, có chuyện gì thế? Có chuyện gì thế hở con?

– Phải mất lúc lâu, mẹ mới bình tâm dần và cố nhớ lại sự việc vừa diễn ra kể cho ông bà nội nghe. Bà nội nắm chặt lấy tay con dâu, vành môi run run.

– Con tôi ăn ở chung tình nên thần thánh đã rủ lòng thương. Mẹ nghe nói, ngồi bật dậy, ôm chầm lấy bà nội. Ông nội từ nãy vẫn đứng nhìn hai người với vẻ mặt rất căng thẳng. Ông đi đi lại lại một hồi quanh nhà rồi đột ngột dừng lại trước mặt

vợ và con dâu.

– Vậy là nguy rồi. Nội nhật đêm nay phải trốn khỏi đây thôi. Để chậm, xác thằng Sang nổi lên. Nhà chúng nó có thế lực, có tiền của, lại thấy con nhà mình có liên quan gây ra cái chết của thằng Sang thì khốn.

– Nhưng đi đâu bây giờ? – Bà nội lo lắng hỏi.

– Sang sông. Nhà cửa, ruộng vườn, ao chuôm cũng chẳng bằng người được. Có tiếc cũng đành.

Bà nội nghe ông nội nói sang sông, nước mắt nước mũi giàn giụa.

  • Thì cũng đành vậy. Nhưng đi làm sao được cả từng này người?

Vào thời điểm đó, làng tôi với bên kia sông tuy cùng một xã nhưng bên ấy là vùng tự do. Quân Pháp đã mấy lần bất ngờ vượt sông, định tấn công chiếm lại. Nhưng khi quân lính vừa bơi thuyền ra giữa sông thì bị Việt Minh ém sẵn trên bờ phục kích. Quân Pháp hỗn loạn, vừa nhảy xuống sông chết đuối, vừa bị trúng đạn, chết không còn một mống, máu loang đỏ cả khúc sông mấy ngày không hết mùi tanh tưởi. Từ đó, quân Pháp đành từ bỏ ý đồ tái chiếm, nhưng người dân hai bên bờ sông muốn sang với nhau khó khăn lắm, phải vượt qua một cánh đồng bỏ hoang, cỏ dại mọc lút đầu người mà quân Pháp gọi đó là “vùng đất trắng”. Hễ ai bén mảng đến “vùng đất trắng” ấy đều có thể bị gán cho tội làm nội gián cho Việt Minh và sẽ bị bắn chết.

– Được! Tôi sẽ có cách. – Ông nội đáp lời.

Mẹ thấy vậy, lau nước mắt rồi đưa hai tay chắp trước ngực.

– Con xin thầy u cho con được thưa với thầy u một việc.

– Con cứ nói đi. – Ông nội giục.

– Con xin thầy u xá tội vì đã mang họa lớn cho cả nhà. Bây giờ sang sông, cả từng này người ăn đợ ở nhờ lâu làm sao được. Con tuy phận đàn bà, nhưng tuổi còn trẻ, sức cũng còn khỏe. Con xin phép thầy u cho con được đi theo kháng chiến. Ra mặt trận, con nghe ngóng tin tức rồi cố gắng xem có tìm được nhà con không? Con thấy sốt ruột lắm thầy u ạ.

Ông nội trầm ngâm một lát, rồi gật đầu.

– Cũng phải. Nhưng để thầy tính thêm cái đã. Bây giờ, mọi người cứ tạm lánh xuống hầm, đợi trời tối rồi sang sông.

Ông nội nói xong, đưa vợ, con dâu và cháu gái ra sau vườn. Vườn nhà tôi khi ấy cũng rậm rạp, cây cối um tùm. Lính Pháp rất ngại lùng sục những khu vườn như thế vì sợ dính mìn của du kích. Ông nội và cha tôi đã đào căn hầm bí mật này ở góc vườn từ hồi đầu kháng chiến. Ông nội hay tính xa, bởi thế, dưới hầm lúc nào cũng có nước uống, lương thảo, dự trữ đủ dùng cho vài ba ngày. Ông nội mở nắp hầm, miệng thì thào, giục:

– Xuống đi.

Mẹ đu hai tay trên miệng hầm, thả người xuống, rồi đưa tay đỡ con gái xuống sau. Bà nội cũng làm theo con dâu, lưng lom khom, chân dò dẫm từng bước vào ngồi cùng cháu gái.

Khi nào nghe đúng ám hiệu mới được lên đấy nhé. – Ông nội cúi sát xuống miệng hầm dặn dò cẩn thận rồi đậy nắp hầm, ngụy trang lại cẩn thận. Cho dù lính Pháp có đứng ngay cạnh cũng không thể phát hiện được.

Công việc xong xuôi, ông nội lên nhà đợi đến chập tối rồi lấy chiếc giỏ và cây xiên ba chạc, đóng giả người bắt ếch, luồn lách qua “vùng đất trắng” hướng về phía bờ sông. Ông nội vốn là người thích làm những chuyện “kinh thiên động địa” nên coi việc sang sông chẳng có nghĩa lý gì. Ông có người bạn cùng học võ thuật chung một thầy ở bên sông, tên Tuệ. Nhà ông Tuệ nằm sát chân đê phía bên kia. Ngày quê hương chưa bị chia cắt, cứ rảnh rỗi, hai người lại bơi thuyền sang chơi với nhau, rồi luyện tập võ công. Sau mỗi buổi luyện tập, hai người lại chén tạc chén thù, thân thiết như anh em ruột thịt. Bây giờ, mỗi lần nhớ bạn, hoặc muốn luyện tập võ công, ông Tuệ ra cây đa trên bờ sông treo một mảnh vải đỏ để làm ám hiệu mời bạn sang chơi. Hai người đã quy ước với nhau như thế từ ngày không còn được tự do đi lại. Ông nội nhận được ám hiệu, dù có bận thế nào cũng thu xếp vượt sông sang thăm ông Tuệ…

Chỉ một loáng, ông nội đã vượt qua được “vùng đất trắng” tới “rừng” cây ở ven đê. Sở dĩ ven bờ đê bên phía làng tôi có một rừng cây như thế bởi từ lâu lắm chẳng ai dám bén mảng tới, cây cối cứ thả sức mọc mà thành rừng như vậy. Chính rừng cây ấy đã che chở cho ông nội vượt qua con đê được dễ dàng hơn. Rồi ông cứ để nguyên cả quần áo, nhẹ nhàng trườn xuống đáy sông, chỉ vài hơi lặn đã sang được bờ bên kia…

Ông Tuệ đang đứng trong sân nhà, thấy bạn sang chơi, mừng quá, chạy ra đón. Con Vện nhà ông Tuệ đánh hơi thấy người quen cũng vội vàng chạy theo sau. Nhìn thấy ông nội, nó cuống cuồng chạy bổ đến, nhảy cẫng lên, giơ cả hai chân trước vịn vào cánh tay ông nội. Cái mõm con Vện vừa giúi giúi vào bàn tay ướt sũng của ông, vừa kêu ư ử làm nũng. Mọi lần, ông nội cũng vồ vập với con Vện chẳng kém gì nó. Nhưng hôm nay ông mặc kệ, miệng buông một câu cộc lốc: “Im nào!” Con Vện cụt hứng, buông tay ông nội, đuôi cụp xuống, len vào đứng giữa hai người. Ông Tuệ nhìn bộ quần áo trên người ông bạn ướt sũng, nét mặt đăm chiêu, lại sang đột ngột như thế thì đoán ngay là có chuyện.

– Ở bên ấy sao rồi hả?

– Có chuyện nghiêm trọng lắm.

Ông nội gật đầu nói rồi cả hai người cùng đi vào nhà.

– Nào có chuyện gì, ông nói ngay đi.

Ông nội mang đầu đuôi sự việc kể cho ông Tuệ nghe. Hai người bàn tính một hồi, ông Tuệ bảo:

– Việc ông bà ở đây thì khỏi phải lo. Đất nước loạn lạc, đồng bào khắp nơi tản cư đến, chẳng cần quen biết còn thương nhau như ruột thịt nữa là tôi với ông. Nhưng còn chuyện vợ thằng Cả muốn đi theo kháng chiến thì phải tính cho thật kỹ.

Ông nội nhìn ông Tuệ, nghiêm giọng:

– Đây là nguyện vọng của cháu muốn ra mặt trận để tìm chồng. Tôi thấy cũng phải. Đàn bà con gái còn trẻ, chồng cứ đi biền biệt thế, tội nghiệp nó. Bây giờ, tôi phải lên huyện gặp bên Ủy ban Kháng chiến nhờ các anh ấy giúp đỡ rồi sẽ quay lại ngay. Nội nhật đêm nay phải đưa được cả nhà sang sông không thì khốn mất.

Ông Tuệ biết tính ông bạn từ xưa đã nói là làm nên cũng chỉ biết chép miệng.

– Thì cũng đành vậy. Nhưng bây giờ, ông lấy tạm quần áo của tôi thay đi đã. Tôi chờ ông quay lại, rồi tối nay, tôi sẽ cùng ông sang sông đón bà ấy và các cháu.

***

Trở lại nhà ông Tuệ cùng ông nội có hai người vệ binh, một nam, một nữ, còn rất trẻ, được Ủy ban Kháng chiến huyện cử về đón mẹ và đưa mọi người trong nhà tôi sang sông. Họ về tới nhà ông Tuệ thì đêm đã khuya. Tất cả chụm đầu bàn bạc kế hoạch sang sông. Hai người của Ủy ban Kháng chiến mang theo súng đạn sẽ đi cùng ông nội, sẵn sàng chiến đấu khi cần thiết. Ông Tuệ luyện được đôi mắt nhìn xuyên màn đêm và làm được tiếng mèo kêu, có thể gọi được cả đàn mèo đến cùng một lúc, sẽ làm nhiệm vụ lái đò đưa mọi người sang bờ bên kia rồi leo lên một ngọn cây thật cao, quan sát, nếu thấy động tĩnh gì thì báo cho mọi người biết bằng ba tiếng mèo gào bạn tình.

– Đi!

Ông nội khoát tay ra hiệu, chân bước đi trước. Tất cả mọi người theo sau rồi nhẹ nhàng lên thuyền, rời bến. Bóng đêm đã che chở cho họ được thuận buồm xuôi gió. Chẳng mấy chốc, họ đã sang được bờ bên kia. Ông nội đưa họ vượt qua “vùng đất trắng” đi tới sau vườn. Ông đứng trên miệng hầm, giậm chân ba lần. Dừng một lát, ông lại giậm chân thêm ba lần nữa. Cửa hầm khẽ động đậy rồi được nâng hẳn lên.

– Thật nhanh lên. Không thể chậm trễ được đâu. – Tiếng ông nội thì thầm giục.

Mẹ vội xốc chị tôi lên trước. Người đàn ông đi cùng đeo khẩu súng lên vai, đưa tay đỡ rồi ôm chặt lấy chị tôi, má áp má, tay vuốt vuốt lên mái tóc rối bù của chị. Ở dưới hầm, mẹ thì thào với bà nội:

– U lên trước đi ạ.

Bà nội đưa hai tay lên. Ông nội nắm lấy tay bà, kéo mạnh. Mẹ bế hai bên sườn bà nâng tiếp sức. Bà nội được nhấc bổng lên mặt đất, loạng choạng suýt ngã. Mẹ kiễng chân, hai tay đặt trên miệng hầm, đu lên. Ông nội đậy nắp hầm lại, gỡ cỏ xung quanh ngụy trang cẩn thận, sau đó giục con dâu chạy vội lên nhà vơ tất cả quần áo cho vào một tay nải to tướng. Ông nội khoác cái tay nải lên vai, khoát tay ra hiệu.

– Nhanh lên con.

Ngoài đường, người nhà của Sang đốt đuốc đi đi lại lại rình rịch. Tiếng gọi nhau í ới. Rồi họ kháo nhau, mỗi người đoán một kiểu. Mẹ nhận ra giọng vợ Sang gào lên: “Ối giời đất ơi, chồng tôi bị du kích bắt, thủ tiêu mất rồi! Ối giời ơi là giời!”

– Ta đi thôi.

Ông nội lại thì thầm. Trên vai ông vẫn khoác cái tay nải, xăm xăm đi trước. Mẹ cõng chị tôi trên lưng. Bà nội vừa chạy theo ông, vừa búi vội mớ tóc bù xù, xõa đầy trên lưng. Hai người lính vệ binh lăm lăm tay súng, mắt đảo tứ phía, lặng lẽ đi sau cùng. Chỉ một loáng, tất cả đã mất hút trong đồng cỏ mịt mùng bóng tối, rồi vượt qua bờ đê. Ông Tuệ ngồi trên ngọn cây, phát hiện mục tiêu đang di động về nơi con thuyền đang neo đậu thì biết là mọi người đã tới. Ông vội chuyền

theo từng cành cây xuống rồi chạy đến đỡ từng người lên thuyền. Bà nội và mẹ ngồi ở đố ngang trên cùng. Chị tôi được mẹ cho ngồi trong lòng, hai tay để trên gối mẹ run bần bật. Mẹ vội ôm ghì lấy con gái, nước mắt lã chã rơi. Hai người du kích nửa ngồi nửa quỳ, tay vẫn lăm lăm khẩu súng chĩa lên bờ đê. Ông nội lên sau, đứng cạnh người đàn ông, hai tay nắm chặt, bắp nổi cuồn cuộn, mắt như muốn nhìn xuyên thủng bờ đê về làng. Ông Tuệ cầm lái, điều khiển con thuyền rẽ nước, lao vùn vụt sang bờ bên kia.

Thuyền vừa cập bến, mẹ cõng chị tôi nhảy lên bờ rồi quay lại, đưa tay đỡ lấy tay bà nội.

– U cẩn thận kẻo ngã.

Mọi người lần lượt rời thuyền rồi cùng dắt díu, lôi nhau lên mặt đê. Mẹ tôi thở phào, đặt chị tôi xuống, hai tay ôm chặt lồng ngực. Lúc này mẹ mới bình tâm được chút ít. Mẹ đứng thẫn thờ, đưa mắt sang bên kia sông tìm căn nhà của gia đình mình nhưng chỉ thấy một vệt dài, đen sẫm. Những con bùi nhùi của người nhà Sang vẫn bập bùng, lúc mờ lúc tỏ như ma trơi chạy đi chạy lại. Tiếng kêu khóc của vợ Sang vẫn văng vẳng bên tai mẹ, rõ mồn một.

Ông Tuệ là người lên mặt đê sau cùng, lên tiếng giục mọi người vào nhà. Mẹ lại cõng chị tôi đi theo mọi người. Bà vợ ông Tuệ thấy mọi người đã sang đến nơi an toàn, mừng rỡ, chạy ra đón. Bà niềm nở chào hỏi mọi người nhưng chẳng ai đáp lời ngoài bà nội và mẹ. Khi những người đàn bà đang luýnh quýnh, nắm chặt lấy tay nhau, còn chưa tìm được lời tâm huyết để thổ lộ nỗi lòng thì một người du kích đã lên tiếng:

– Thưa các ông các bà, chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ cấp trên giao phó. Từ giờ phút này, đồng chí Loan đã trở thành người của kháng chiến rồi. Chúng tôi xin phép được hành quân trở về đơn vị, không thể chậm trễ được nữa.

Mẹ, bà nội và chị tôi ôm chầm lấy nhau trong tiếng khóc vỡ òa. Bà nội tôi nói với con dâu:

– Con đi nhớ giữ gìn nhé.

– Vâng ạ. Thầy u ở nhà cũng giữ gìn sức khỏe, trông cháu giúp con, bao giờ kháng chiến thành công con sẽ về với thầy u.

Chị tôi ôm chầm lấy mẹ, khóc òa lên.

– U cho con đi với!

Một người du kích đến bên chị tôi, vuốt vuốt lên mái tóc rối bù.

– Bé ngoan nào. Để mẹ đi đánh giặc chứ.

– Ứ ừ. – Chị tôi vẫn nức nở. Ông nội đứng im, hết nhìn con dâu lại nhìn đứa cháu gái. Một lát, ông cúi xuống bế thốc chị tôi, quay vào nhà.

– Con đi đi.

Chị tôi vùng vẫy.

– U ơi! U ơi!…

Hai người du kích quay gót bước đi. Mẹ tôi theo sau. Đi được vài bước, mẹ vùng quay lại, bảo: “Thầy cho con bế cháu thêm tí nữa!” Chị tôi nhoài người, ôm chặt lấy mẹ. Mẹ gạt nước mắt, hôn lấy hôn để lên má, lên đầu, lên khắp cả thân thể con gái, rồi trao chị tôi cho ông nội.

– Thầy bế cháu hộ con với. Con chào thầy. Thầy u giữ gìn sức khỏe ạ. – Mẹ nói trong tiếng nức nở, rồi gỡ tay con gái chạy ào đi, không dám quay lại nhìn những bóng người đang đứng ở sau lưng…

THẾ ĐỨC

(Còn tiếp)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.