Vanvn- Nhà văn Lê Lựu lúc đương thời mà tôi gặp mặt (từ 1995 đến khi ông mất năm 2022) tuy nhận tôi là học trò văn chương nhưng tuyệt đối không truyền cho một bí kíp nào. Mùa hè năm 1995, tại Trại viết văn Đồ Sơn, Lê Lựu ngồi bên hai nữ trại viên xinh đẹp Như Bình và Trần Thanh Hà chỉ vào tôi mắng: “Cậu còn trẻ văn chương gì. Ra biển mà chơi để tớ còn làm việc”. Khi đó, tôi rất tủi thân và ấm ức nhìn hai người đẹp vây quanh Lê Lựu. Hai chị ấy chỉ hơn tôi vài tháng tuổi sao văn chương đã đến mức được Lê Lựu ghé mắt, mà lính tráng đơn vị như tôi lẽ ra phải được ưu tiên mà Lê Lựu lại đuổi ra biển là cớ làm sao?

Mãi sau tôi mới biết mình đã nghĩ oan cho Lê Lựu khi cầm trên tay cuốn Văn nghệ Quân đội in truyện ngắn Nhánh sim rừng đã được ông biên tập rất kỹ, trang cuối hoàn toàn là văn của Lê Lựu mà sau hỏi ông chỉ bảo: “Không phải tớ mà là anh em biên tập”. Thông điệp ấy tức là với văn chương, ông sẽ tuyệt đối không truyền nghề cho tôi.
Nhưng với báo chí thì rất khác. Lê Lựu mỗi lần tôi từ Truyền hình Quân đội ở 84 Lý Thường Kiệt sang Văn nghệ Quân đội số 4 Lý Nam Đế đều gọi tôi lên phòng hỏi đang làm phim gì, viết báo ra sao để có thu nhập cho gia đình vợ trẻ con thơ ở Hưng Yên. Ông từng nhiều lần lặn lội về nhà tôi xem xét từ viên ngói vỡ đến bức tường đổ và luôn nhắc phải viết báo nuôi thân, trợ giúp gia đình. Lê Lựu tay cầm viên gạch vỡ ở sân nhà tay rút điện thoại điện ngay cho nhà văn Hữu Ước khi đó rất nổi tiếng với các tờ báo Văn nghệ Công an; An ninh thế giới; Cảnh sát toàn cầu bảo cứ thế, cứ thế nhé. Cậu Khai đồng hương của anh em mình viết báo tốt, mày phải in đều cho nó. Tương lai báo chí văn chương đấy em ơi. Cứ thế nhé!
Rồi Lê Lựu quay sang tôi: “Giới thiệu cậu với Hữu Ước rồi. Cố viết cho sạch nước cản có tiền đưa vợ. Văn chương là việc lâu dài hẵng để từ từ tính sau”. Tôi há hốc mồm rồi cũng nhận diện được vấn đề, cứ thế một mạch văn chương báo chí tới hôm nay.
Một hôm, Lê Lựu gọi tôi sang nhà số 4 bảo: “Sáng mai cậu đem máy quay đi với tôi về Khoái Châu – Hưng Yên. Cậu sẽ làm phim và viết loạt bài về tượng đài Bãi Sậy đang được xây dựng tại đây. Việc của Hưng Yên cũng là việc của báo chí truyền hình các cậu. Cậu viết báo cũng được đấy. Làm phim cũng tạm được. Nghe đâu cậu đang sắp sửa xây gian nhà riêng ở quê đúng không? Càng phải làm việc cật lực vào mới xứng mặt thằng lính làm nghề báo.
Sao Lê Lựu cứ như con ma xó ấy nhỉ? Thông tin nào mà ông biết tôi đã khởi công xây căn nhà nhỏ ở quê Như Quỳnh – Văn Lâm – Hưng Yên? Mà cũng chẳng sao. Đó là thành quả từ hàng chục bộ phim, hàng trăm bài báo đổ mồ hôi sôi nước mắt mấy năm liền cũng là để bố mẹ già, con nhỏ ở quê có thêm sự khang trang.
Lê Lựu cực giỏi trong công tác tổ chức, nhất là với cánh truyền thông, báo chí. Thời gian này (năm 2002) nhà văn Lê Lựu đang dốc sức gây dựng Trung tâm Văn hóa doanh nhân Việt Nam với sự tâm huyết rất lớn của ông Đoàn Duy Thành – nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ, nguyên Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiêp Việt Nam. Hai vị nhà văn và chính khách quyết làm một điều gì đó cho văn hóa doanh nhân – một trong những trụ cột của văn hóa quốc gia mà thời điểm đó, không phải ai cũng có được tầm nhìn xa trông rộng ấy. Và các công việc lớn như thành lập và vận hành Trung tâm Văn hóa Doanh nhân Việt Nam; thực hiện các chương trình vinh danh doanh nhân toàn quốc; tham mưu và thực hiện các công trình văn hóa trong đó có công trình tượng đài Bãi Sậy trên quê hương Khoái Châu thân thương của nhà văn. Tôi hiểu được những khát vọng của Lê Lựu và mạnh mẽ trợ giúp ông trong các phần việc của mình cũng chính là tự rèn nghề, tự nuôi sống mình và hỗ trợ gia đình cả về tinh thần và vật chất. Khoảng thời gian này, tôi luôn tháp tùng Lê Lựu về Khoái Châu. Ông đang ấp ủ và cho triển khai một dự án về làng nghề các dân tộc Việt Nam với quy mô toàn quốc. Đây vừa là khát vọng vừa là trách nhiệm của nhà văn Lê Lựu với đồng đất Khoái Châu, nơi chôn nhau cắt rốn của ông.

Loạt bài báo và kịch bản, lời bình phim về tượng đài Bãi Sậy, Lê Lựu đều xem rất kỹ từ khi bản thảo. Ông sửa chữa, có những phân đoạn viết mới rất sâu sắc. Dường như ông muốn rèn luyện, thử thách và giao cho tôi những việc khó trong hoạt động báo chí, từ một bài viết nhỏ đến các phim tài liệu về văn hóa lịch sử, về lực lượng vũ trang, về các vấn đề kinh tế chính trị mà ngòi bút nhà báo, phẩm chất năng lực người biên tập, người đạo diễn trong con người truyền hình nếu thiếu đi sự tâm huyết và trách nhiệm, tính chính trực của ngòi bút sẽ rất dễ là một câu chuyện khác. Nghề báo vinh quang là đấy, liền tay danh vọng, dễ nổi như cồn, nhưng cũng là những vực thẳm hố đen đã không ít người đánh mất lương tâm, đạo đức và danh dự cũng chỉ trong đường tơ kẽ tóc. Tôi càng hiểu sâu sắc rằng, để trở thành ngòi bút báo chí trung chính trước sau với nhân dân và Tổ quốc của mình, thực không dễ dàng đâu. Nhà văn Lê Lựu là một trong số ít có thêm vai trò là một nhà báo trung chính từ toàn bộ cuộc đời ông, từ khi viết “bản tin diệt ruồi” nhỏ bằng bao diêm trên Báo Quân khu 3 đến khi ông trở thành tên tuổi văn chương báo chí lừng lững suốt hàng thập kỷ.
Nhà văn Lê Lựu với nghề báo, riêng trong khu vực chỉ bảo tôi thực hiện các chương trình truyền hình, viết kịch bản, làm phim, viết chân dung văn học các thế hệ văn nghệ sĩ trong và ngoài quân đội đã thực sự là người thầy thầm lặng để tôi có được hôm nay. Lê Lựu từng nhiều lần căn dặn: “Cậu bí thì cứ sang gặp Trần Đăng Khoa. Tớ đã dặn thằng Khoa sẽ truyền thêm nghề viết báo cho cậu. Khoa nó viết “mả” hơn cả tớ. Viết báo phải như Trần Đăng Khoa mới có bạn đọc, cho dù đọc xong bài báo của Khoa càng khiến sự việc rối ren hơn”.

Quả thực tôi luôn rất bí vì khối lượng các chân dung văn nghệ sĩ phải lên sóng luôn thúc ép về thời gian. Bí thì sang gặp Trần Đăng Khoa. Anh Khoa luôn rất sẵn lòng chỉ bảo, còn luôn miệng khen tôi, cậu giỏi, cậu giỏi đấy. Rồi anh cầm tay chỉ việc cho mà làm. Những phim chân dung Nhà thơ Vũ Cao – Núi đôi trên đỉnh du ca; Nhà văn Nguyễn Khải – năm tháng nhọc nhằn năm tháng nhớ thương; Họa sĩ Mai Thắng Hiến – người vẽ tiền cho chính phủ cụ Hồ; Nhà văn Nguyễn Thi – phẩm chất anh hùng của người cầm bút; Nhà văn Nguyễn Minh Châu – từ cuộc đời và tác phẩm; Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý trong dòng chảy âm nhạc Việt Nam;… đều có “dấu giày” của Trần Đăng Khoa. Tôi được rèn nghề văn chương báo chí một cách vừa ngẫu nhiên vừa bài bản theo cung cách rất Lê Lựu.
Khi Văn nghệ Quân đội thực hiện tờ Đặc san khổ lớn 16 trang, Lê Lựu đã phát huy khả năng báo chí siêu việt của mình trong tổ chức và thực hiện bài vở giúp Ban Biên tập, để Văn nghệ Quân đội có thêm một đặc sản báo chí văn chương rất hấp dẫn trong làng báo. Chuyên mục Chuyện tình dưới đáy ba lô của Đặc san gây ấn tượng mạnh đến mức tuần nào tòa soạn cũng nhận được hàng trăm lá thư, bài viết, nhắn nhủ, gửi gắm tìm lại những cuộc tình, nhân vật từ chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ, cuộc chiến hai đầu biên giới tới thời quan liêu bao cấp, thời đổi mới hôm nay. Những câu chuyện lung linh ngời sáng. Những câu chuyện thăm thẳm thương đau. Những câu chuyện sống để dạ chết đem đi. Những chuyện tình kẻ mất người còn âm dương dang dở. Chuyên mục như một sợi chỉ đỏ lấp lánh muôn vàn câu chuyện tình xuyên qua dằng dặc các cuộc chiến tranh. Với cá nhân tôi, nó càng hữu ích khi đích thân Lê Lựu bảo: “Cậu hãy mở nhà sách Như Quỳnh. Tôi sẽ ký quyết định thành lập. Cậu hãy in bộ sách Chuyện tình dưới đáy ba lô phục vụ nhu cầu đọc của bộ đội và nhân dân. Nó sẽ rất có ích”.
Tôi đã thực hiện đúng lời căn dặn của nhà văn Lê Lựu. Bộ Chuyện tình dưới đáy ba lô khổ nhỏ mười tập đã gây tiếng vang lớn, tạo một nguồn lực không nhỏ cả về vật chất và tinh thần đối với anh chị em nhà sách Như Quỳnh.
Đến hôm nay, mỗi dịp 21 tháng 6, ngày của những người làm báo trên toàn quốc, tôi càng nhớ tới nhà văn Lê Lựu với lòng biết ơn sâu sắc, và cũng đến tận hôm nay, mới ý thức hết việc Lê Lựu đã âm thầm, bền bỉ, kiên quyết chỉ bảo tận tình về nghề báo cho tôi mà tuyệt nhiên ông không nói một câu về văn chương, về những sáng tác mà tôi cả đời theo đuổi.
PHÙNG VĂN KHAI















