“Hoa báo tiên” – Mỗi câu thơ đều thấm đẫm văn hóa, lịch sử dân tộc

Vanvn- “Hoa báo tiên” là tuyển tập những bài thơ thuộc nhiều thể loại, nhiều nhịp – phách, nhiều cách triển khai tứ thơ – nhưng, đều hướng đến đề tài lớn nhất là tình yêu với quê hương, đất nước.

Nhà thơ Nguyễn Thế Vinh

Phải nói ngay từ đầu, thơ của tác giả Nguyễn Thế Vinh không dễ đọc. Bởi dưới những tầng lớp ngôn ngữ ẩn chứa rất nhiều điển tích, điển cố, những câu chuyện lịch sử, truyền thuyết dân gian.

Có thể lấy đơn cử từ bài thơ “Ba chàng rể”.

Chỉ với hơn 20 câu thơ, nhưng mang đến khối lượng lớn các câu chuyện truyền thuyết, dân gian và câu chuyện lịch sử.

Từ câu chuyện Sơn Tinh – Thủy Tinh thời Hùng Vương được tác giả viết, “Chàng Cả quê núi Tản Viên/Vua Hùng kén được kẻ hiền Sơn Tinh/Lược tài quán hết thiên binh/Chín ngà, hồng mã… nghê kình chịu thua”, đến câu chuyện về Chử Đồng Tử – Tiên Dung, “Chàng Hai đất mật nhãn lồng/Gia tư chiếc khố con ông lưới chài” kể lại tích Chử Đồng Tử – và Tiên Dung gặp nhau, nên duyên vợ chồng.

Đoạn cuối bài thơ “Ba chàng rể” nhắc đến nhân vật lịch sử có thật là danh tướng Phạm Ngũ Lão. Để hiểu được những bài thơ của tác giả Nguyễn Thế Vinh phải rất am hiểu lịch sử.

Câu thơ viết “Thời Trần ở đất Ân Thi/Chuyện người đan sọt hỏi gì cũng không”, câu thơ gợi lại tích sử về danh tướng Phạm Ngũ Lão.

Theo tư liệu lịch sử ghi chép lại, Phạm Ngũ Lão là người làng Phù Ủng, thuộc Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.

Theo sách Tông phả kỷ yếu tân biên, ngay từ thuở nhỏ, cậu bé Ngũ Lão đã tỏ ra khác thường, tính tình khẳng khái.

Có giai thoại kể lại, một lần nọ, Phạm Ngũ Lão đang ngồi đan sọt ngoài đường mải nghĩ về cuốn sách Binh thư nên không biết quan quân trảy đến. Một người lính dẹp đường quát mãi, chàng trai đan sọt vẫn cứ ngồi yên.

Người lính bèn dùng giáo xuyên vào đùi kẻ cản đường, vậy mà người đan sọt cứ như không. Tướng công thấy vậy bèn ra nói chuyện với chàng trai. Qua đối đáp trôi chảy của chàng trai nông dân, Tướng công thầm hiểu đây sẽ là một vị lương tướng của triều đình. Ông sai lính lấy thuốc trị vết thương rồi cho mời về triều.

Phạm Ngũ Lão sau này trở thành tướng giỏi của triều Trần, được Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn gả con gái cho.

Câu thơ của tác giả Nguyễn Thế Vinh viết, “Gương xưa sáng mãi tiền nhân/Thờ người con rể danh thần trời Nam…”.

Chỉ với 6 câu thơ, tác giả đã kể lại rất nhiều giai thoại lịch sử về danh tướng Phạm Ngũ Lão dưới triều Trần, từ chuyện “đan sọt” đến khi trở thành danh tướng, được nhân dân thờ phụng.

Bìa sách “Hoa báo tiên” của tác giả Nguyễn Thế Vinh. Ảnh: Mi Lan

Đọc thơ của tác giả Nguyễn Thế Vinh không thể đọc… “chơi chơi”. Bởi mỗi câu thơ của ông đều ẩn giấu những câu chuyện, thông điệp, với chiều sâu nghiên cứu về văn hóa, lịch sử.

Dưới lớp lớp ngôn ngữ đòi hỏi người đọc phải có sự am hiểu, thậm chí phải tra cứu, tìm hiểu để hiểu hết các tầng lớp ý nghĩa.

Hẳn, tác giả Nguyễn Thế Vinh phải đi nhiều lắm, đến khắp các tỉnh thành, và ở đâu, ở miền đất nào, ông cũng bỏ công nghiên cứu kỹ lưỡng về danh lam thắng cảnh, nhân vật lịch sử, điển tích, điển cố, giai thoại dân gian đến văn hóa, ẩm thực của từng vùng.

Bài thơ “Khúc dâu xanh” là câu chuyện về vùng đất Kinh Bắc, nơi vua Lý Thánh Tông từng đi hội qua, gặp người con gái hát bên ruộng dâu, đã phải lòng. Sau này, cô gái ấy đã trở thành Nguyên phi Ỷ Lan.

Nguyên phi cho dựng nhiều chùa, di nguyện cho con là vua Lý Nhân Tông dựng chùa Long Đọi Sơn – nơi đây trở thành một trong những trung tâm Phật giáo quan trọng thời Lý, lưu giữ nhiều bảo vật quốc gia.

Thơ của tác giả Nguyễn Thế Vinh viết, “… Người ngoan lên kiệu theo vua/Xây nền Đại Việt, dựng chùa trăm gian/Tầng sao đô thị ngút ngàn/Thèm nghe khúc hát Ý Lan thuở nào!”.

Phải yêu lịch sử, văn hóa dân tộc lắm – mới có thể am hiểu, dẫn dắt người đọc qua từng cung bậc thơ ca, để tìm về nguồn cội, đắm say trong mỹ cảm dân gian đến thế.

Trong bản in tuyển tập “Hoa báo tiên”, ở dưới nhiều bài thơ, có đoạn viết rất dài để chú thích về những điển tích, những câu chuyện, nhân vật lịch sử mà tác giả đưa vào các câu thơ của mình.

Bài thơ “Hoa báo tiên” có phần chú thích dài đến gần nửa trang, lý giải về ý nghĩa “Hoa báo tiên” – theo đó, Văn Miếu Quốc Tử Giám có tấm bia khắc họa tiết gọi là “Hoa báo tiên” – loài hoa mong muốn may mắn, tốt lành, hạnh phúc.

Trong bài thơ, tác giả cũng dùng rất nhiều đến những câu chuyện về địa danh lịch sử, văn hóa, truyền thuyết, điển cố văn học để tạo dựng nên cấu trúc thơ rất riêng.

Tác giả Nguyễn Thế Vinh giống như người cất giữ, níu giữ mọi tinh hoa văn hóa, lịch sử, từ thời Hùng Vương dựng nước đến các triều đại thăng trầm, trong mỗi câu thơ của ông đều nhắc nhớ khôn nguôi quá khứ dân tộc:

“… Đậu nóc non Hùng hồn chim Lạc

Tết nhất chia phần bánh Lang Liêu

Lá cọ thanh thiên vời Xoan ghẹo

Trống đồng mở Nước dựng nêu cao”…

BÌNH AN

Báo Lao Động

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *