Vanvn- Lê Lai không rõ năm sinh chỉ biết ông mất năm 1418, Danh tướng trung dũng trong cuộc Khởi nghĩa Lam Sơn chống quân Minh (Trung Quốc). Có sách chép là Nguyễn Thân, sau theo phò Lê Lợi, đổi tên là Lê Lai.
Ông là người dân tộc Mường, quê làng Dựng Tú, huyện Thụy Nguyên, tỉnh Thanh Hoá (nay là xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa). Thân phụ ông là Lê Kiều, nối đời làm chức phụ đạo trong vùng, sinh được hai người con trai: Con trưởng là Lê Lạn, con thứ là Lê Lai. Cùng với anh trai là Lê Lạn, Lê Lai đã sát cánh cùng với Lê Lợi ngay trong những ngày trứng nước của phong trào Lam Sơn, và từng là thành viên trong hội thề Lũng Nhai lịch sử. Gia đình Lê Lai có 5 người cùng tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, đó là Lê Lạn, Lê Lai và ba con của Lê Lai là Lê Lư, Lê Lộ và Lê Lâm.
Lê Lai tính tình cương trực, dung mạo khác thường, chí khí cao cả lẫm liệt, lo việc hầu cận cho vua Thái Tổ rất chu đáo, công lao rõ rệt. Mùa đông năm Bính Thân (1416), khi Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa, ông cùng 18 vị tướng thân cận họp hội thề ở Lũng Nhai, thề cùng nhau sống chết mưu đánh đuổi giặc Minh, giải phóng quê hương. Thực chất, hội thề Lũng Nhai chính là buổi lễ ra mắt dưới dạng thật đặc biệt và cũng rất độc đáo của Bộ chỉ huy Lam Sơn. Từ đây công cuộc chuẩn bị cho khởi nghĩa Lam Sơn được tiến hành có tổ chức chặt chẽ hơn hẳn thời kì trước đó.

Đầu năm 1418, cờ nghĩa cứu nước cứu dân đã phất phới tung bay ở Lam Sơn. Bấy giờ, Lê Lợi xưng là Bình Định Vương và tất cả các tướng trong Bộ chỉ huy Lam Sơn đều được trao chức tước. Lê Lai được phong tước Quan Nội Hầu, chức Tổng quản phủ Đô Tổng quản. Quan Nội Hầu là tước vị cao nhất mà Lê Lợi đã phong cho các tướng dưới quyền. Tổng quản là chức đứng đầu, còn phủ Đô Tổng quản là cơ quan trực thuộc Bộ chỉ huy, chịu trách nhiệm về hậu cần, xây dựng đại bản doanh và bảo vệ Bình Định Vương Lê Lợi cùng các tướng trong Bộ chỉ huy. Lê Lợi trao cho Lê Lai lo hậu cần cho quân đội. Mọi việc cung cấp quân nhu, ông lo rất chu đáo, có công lao rõ rệt.
Năm Mậu Tuất (1418), Bình Định Vương Lê Lợi mới dựng cờ khởi nghĩa, tướng ít, quân thiếu bị tướng nhà Minh vây đánh ở Mường Một. Lê Lợi chạy thoát, về đóng ở Trịnh Cao, nơi hẻo lánh, không dân ở. Tướng Minh điều quân bao vây, chặn những nơi hiểm yếu. Tình thế vô cùng nguy cấp, Bình Định Vương Lê Lợi hỏi các tướng: “Ai dám đổi áo, thay ta đem quân ra đánh giặc, xưng hiệu của ta, bắt chước như Kỷ Tín đời Hán, để cho ta có thể giấu tiếng nghỉ binh, tập hợp tướng sĩ, mưu tính cuộc nổi dậy về sau”.
Các tướng đều không ai dám hưởng ứng. Riêng Lê Lai đứng dậy nói: “Tôi xin đi. Sau này lấy được nước thì nghĩ đến công lao của tôi, khiến cho con cháu đời đời được nhờ ơn nước, đó là nguyện vọng của tôi”.
Bình Định Vương Lê Lợi rất thương cảm. Lê Lai nói giọng quả quyết: “Bây giờ tình hình nguy khốn thế này, nếu người giữ mảnh đất nguy hiểm, vua tôi đều bị tiêu diệt, sợ sẽ vô ích. Nếu theo kế này, may ra có thể thoát được. Kẻ Trung thần chết vì nước nào có tiếc gì”.
Nhà vua vái trời mà khấn rằng: “Lê Lai có công đổi áo, sau này tôi và con cháu tôi, cùng con cháu các tướng tá công thần, nếu không nhớ đến công lao ấy, thì xin cho cung điện biến thành rừng núi, ấn báu thành cục đồng, gươm thần biến thành dao cùn”.
Lê Lai bèn dẫn hai con voi chiến và 500 quân, sắp xếp nghi trượng chỉnh tề, chính mình đem quân và voi hướng ra phía địch khiêu chiến. Giặc đốc hết quân ra đánh, ông cưỡi ngựa tốt, xông thẳng vào giữa trận, hô to lên rằng: “Chúa Lam Sơn chính là ta đây”. Nói rồi đánh giết được rất nhiều quân giặc. Khi đã kiệt sức, ông bị địch bắt, xử cực hình. Nghĩ rằng đã giết được Lê Lợi, giặc liền lui quân về thành Tây Đô. Nhờ đó quân Lam Sơn mới bảo vệ được người lãnh tụ tối cao của mình, có thời cơ nghỉ binh, nuôi chứa nhuệ khí để có thể trăm trận trăm thắng và thu phục được đất nước. Bình Định Vương Lê Lợi cảm động vì lòng trung nghĩa của ông, trước hết sai người ngầm đi tìm di hài ông, đem về mai táng ở Lam Sơn. Năm Thuận Thiên thứ nhất (1428), sau khi lên ngôi vua, Lê Thái Tổ đã truy tặng Lê Lai là Đệ nhất Khai quốc công thần, phong là “Sùng trung Đồng đức hiệp mưu bảo chính Lũng Nhai công thần”, hàm Thiếu uý, thuỵ là Toàn Nghĩa. Tháng 12 năm 1429, nhà vua sai Nguyễn Trãi, viết hai bản lời thề ước trước và lời thề nhớ công của Lê Lai, để vào trong hòm vàng, lại truy phong cho ông làm Thái úy. Đến đời Lê Nhân Tông, năm Quý Hợi 1443, truy tặng là Bình Chương quân quốc trọng sự, ban cho Kim ngư, ấn vàng (kim phù) tước Huyện Thượng Hầu. Đầu niên hiệu Hồng Đức (1470), tặng là Diên Phúc hầu, đến năm thứ 15 (1484), truy tặng là Thái uý Phúc Quốc công, về sau gia phong là Trung Túc vương.
Đến đời nhà Nguyễn, Gia Long liệt kê Lê Lai vào hàng Khai quốc công thần Đệ nhất triều Lê, cho tìm con cháu ông coi giữ đền thờ.
Bình Định vương Lê Lợi thường nói: “Sau này ta mất đi, khi đến lễ giỗ ta, thì một ngày trước đó phải cúng tế Lê Lai”. Trong dân gian còn truyền tụng câu: “Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi”.
Tấm gương hy sinh lẫm liệt của Lê Lai đã kích động mạnh mẽ tinh thần chiến đấu ngoan cường của toàn bộ lực lượng Lam Sơn. Lê Lai là biểu tượng của lòng trung nghĩa phi thường, của khí phách hiên ngang, bất khuất. Hy sinh cho sự an toàn của chủ tướng, cho sự bảo toàn của Bộ chỉ huy nghĩa quân Lam Sơn đó là sự hy sinh vì đại nghĩa. Sử sách đời đời ghi công danh vì nước của ông. Lê Lai xứng đáng là người mà danh thơm truyền tụng đến muôn đời.
LÊ KHIÊM
Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam















