Chuyện kể bên hồ – Truyện ngắn của Trần Thị Tú Ngọc

Vanvn- Em chỉ muốn kể một câu chuyện gần nhất với sự thật. Nhưng điều đáng tiếc là sự thật thường tồn tại dưới dạng những mảnh ghép khác nhau trong ký ức mỗi người.

Nhà văn Trần Thị Tú Ngọc

Tôi chuyển đến Lũng Mây vào cuối mùa thu, dự định dành vài tuần để hoàn thành xong câu chuyện đang viết dở. Phong giới thiệu cho tôi một ngôi nhà nằm khuất trong con ngõ nhỏ vô cùng yên tĩnh. Từ đây đi bộ chừng vài phút băng qua trạm khí tượng là tới hồ nước tự nhiên rộng mênh mông, dọc theo con đường lát đá chạy ven hồ có những cây thân gỗ lâu năm cành lá um tùm còn gốc rễ xù xì rêu mốc. Phong kể rằng vào mùa hè cảnh sắc ở đây đẹp mê hồn bởi hai loài hoa cùng lúc bung nở rực rỡ dưới ánh mặt trời, bằng lăng tím ngắt và phượng vỹ đỏ rực hẹn nhau dệt thành tấm thảm đổ bóng xuống mặt nước trong xanh sâu thẳm.

Dạo đó vào đôi dịp thời tiết đẹp, Phong có gọi điện rủ tôi lên săn mây cùng hội bạn anh. Thế nhưng bận bịu với việc tổ chức các buổi ra mắt sách cho mấy tác giả trẻ, tôi cứ lỡ hẹn hết lần này tới lần khác. Tới lúc thu xếp được công việc thì mùa hè trôi qua, Phong lên đường tới phương nam trước khi những cơn gió lạnh đầu tiên từ miền non cao thổi xuống. Tôi tới Lũng Mây mà không kịp gặp anh. Hoa ven hồ đã tàn. Những cây liễu trầm tư rũ tóc dưới bầu trời mờ xám.

Mặc dù quyết tâm rời xa thành phố, buổi sáng nào tôi cũng phải dùng phần lớn thời gian cho việc điều hành từ xa hoạt động của tiệm trà nơi đường sách vừa mới mở. Hết giờ nghỉ trưa, tôi ngồi vào bàn viết đến sáu hoặc bảy giờ tối, tới lúc thấy mỏi mắt mới nhỏm dậy tắm gội rồi khoác áo bước ra ngoài. Đêm Lũng Mây thanh vắng. Tôi ghé một tiệm ăn nhỏ sát chân cầu, thực đơn chỉ có mấy món gà, cá và rau rừng nhưng được lữ khách yêu thích vì luôn nhẫn nại đỏ lửa suốt đêm. Sau bữa tối muộn là một vòng đi dạo quanh hồ, trở về cởi chiếc áo đẫm sương treo lên giá, tôi pha một tách trà thật nóng rồi đọc vài trang sách cho tới khi đồng hồ báo đã chuyển sang ngày mới.

Thỉnh thoảng Phong liên lạc với tôi, một vài tin nhắn xuất hiện vào khung giờ mà anh biết lúc đó tôi đã tạm rời xa chữ nghĩa. Chúng tôi đều là những nghệ sĩ tự do và đơn độc. Phong sáng tác nhạc còn tôi viết văn. Tất nhiên để kiếm sống, chúng tôi còn phải làm thêm vô số công việc khác, nhiều thứ trong số đó hoặc vô cùng tẻ nhạt hoặc cực kỳ lố bịch, nhưng nhờ đó chúng tôi trụ lại được với niềm đam mê của mình.

***

Nhân vật chính trong tác phẩm của tôi là một điện báo viên. Anh mới mười tám tuổi.

Trong đơn vị, tổ điện báo chỉ có ba người, ba chàng trai trẻ vừa làm nhiệm vụ nối liền mạch thông tin, vừa mang trên vai trách nhiệm của những chiến sĩ nơi tuyến lửa, bất cứ lúc nào cũng sẵn sàng chiến đấu. Họ đóng quân đâu đó giữa mặt trận miền Đông và thường xuyên di chuyển theo nhịp điệu của các chiến dịch.

Một buổi chiều tháng Tư lặng gió, khi vừa kết thúc ca trực dài, họ bất ngờ bị đột kích. Địch đã lần theo tín hiệu điện đài suốt nhiều tháng để dò tìm dấu vết nơi họ trú chân. Loạt đạn đầu tiên xé toang không gian yên tĩnh, ba người lính ngay lập tức ôm súng vào vị trí. Tiếng AK điểm xạ vang lên. Hai bên giằng co nhau. Đối phương dù có lợi thế áp đảo về vũ khí và lực lượng nhưng không thể nào vượt qua được mỏm đồi. Sẩm tối, đạn dần cạn kiệt, những chiến sĩ điện báo biết không thể cầm cự được lâu hơn. Sau khi thảo luận rất nhanh, một người quyết định rời khỏi vị trí để đánh lạc hướng địch, tạo cơ hội cho hai đồng đội kịp rút lui, mang theo thiết bị liên lạc về căn cứ.

Tiếng súng nổ xa dần giữa cánh rừng hoang vắng.

Đó là nội dung phần đầu được tôi viết trong những đêm ngắn ngủi và bận rộn suốt mùa hè nóng nực ở thành phố. Nhiều lúc tôi ước gì có thể bỏ tất cả sang một bên để lên Lũng Mây cùng Phong khi anh còn ở đây. Khoảng gần năm năm nay, Phong duy trì thói quen chia thời gian của mình ra thành hai nửa, nửa năm mùa nóng anh ở trên núi, nửa năm mùa lạnh anh chuyển về một làng chài nắng ấm ven biển phía nam. Lỡ hẹn với anh, nghĩa là tôi sẽ phải chờ đến năm sau, mà những năm tháng càng về sau càng có cảm giác như cứ xa xôi mãi.

Lũng Mây thoảng mùi hương hoa sữa. Tôi để ngỏ cửa sổ cho sương lạnh tràn vào nhà. Việc viết đoạn tiếp theo hóa ra chẳng dễ dàng gì, những file bản thảo chồng chéo lên nhau như ma trận mịt mù không lối thoát. Cuộc chiến cuốn tất cả đi trong gió bụi suốt mấy chục năm, nhưng phần đau xót nhất, ám ảnh nhất và dai dẳng nhất lại ở phía những người ở lại.

Sau ngày đất nước thống nhất, người điện báo viên còn sống đã lần theo từng tên làng tên xã để tìm được đến quê đồng đội mình. Ông kinh ngạc khi biết rằng người đồng đội vĩnh viễn nằm lại cánh rừng năm mười tám tuổi ấy, mãi đến bây giờ vẫn chưa được công nhận là liệt sĩ.

***

– Cuối cùng thì chuyện gì đã xảy ra với nhân vật chính của em?

Phong khẽ hỏi như vậy khi chúng tôi gọi điện cho nhau từ khoảng cách cả nghìn cây số. Anh đi dạo trên bãi cát còn tôi bước chầm chậm bên hồ.

– Em đang cố gắng tái hiện cụ thể từng chi tiết – Tôi chỉnh âm lượng tai nghe lớn hơn một chút lúc đi ngang qua nhóm người đang mở nhạc tập thể dục – Người lính đó đã lựa chọn tiếp tục chiến đấu với một quả lựu đạn, một khẩu AK, băng đạn còn bảy viên và hai vết thương nơi chân trái. Anh nghĩ sẽ cầm cự được bao lâu trước toán thám báo để đảm bảo cho đồng đội của mình di chuyển an toàn?

– Đơn vị sẽ cử người quay lại tìm anh ấy chứ.

Tôi đã bước tới khúc quanh đầu tiên của bờ hồ, nơi cây liễu già hiện ra giữa màn sương như bóng ma xõa tóc.

– Khi nhận được tin, một nhóm trinh sát ngay lập tức cơ động đến vị trí của đài liên lạc nhưng bọn thám báo đã rời đi, không có dấu vết nào của người lính trẻ nhận nhiệm vụ cầm chân quân giặc. Việc này mở ra hai khả năng, hoặc anh ấy đã bị bọn chúng thủ tiêu ở đâu đó, hoặc anh ấy đã bị bắt làm tù binh.

Đó chính là lí do mà bản thảo của tôi rơi vào bế tắc. Không có nhiều nhân chứng biết về trận đột kích vào nhóm chiến sĩ điện đài mùa khô năm ấy. Trong hai người mang thiết bị cắt rừng rút lui thì một người bị thương nặng đã trút hơi thở cuối cùng khi về đến binh trạm. Người sống sót duy nhất là cựu chiến binh mà tôi được gặp. Ông chính là người dẫn nhóm trinh sát quay lại tìm kiếm đồng đội mình tối hôm đó. Bây giờ ở tuổi ngoài tám mươi, ông dành hầu hết năm tháng ít ỏi còn lại của cuộc đời mình để tiếp tục hành trình đề nghị công nhận liệt sĩ cho đồng đội cũ.

– Cha mẹ của người chiến sĩ điện báo đã mất từ lâu rồi. Họ từ giã cõi đời mà chưa nhận được một câu trả lời rõ ràng về số phận của người con trai duy nhất. Điều này khiến em cứ day dứt mãi.

– Hãy nhớ rằng em đang viết một tác phẩm hư cấu – Phong nói trong tiếng sóng biển xô vào ghềnh đá – Việc lựa chọn cái kết cho số phận của nhân vật là quyền của em cơ mà.

Tôi đã đi tới góc quanh tiếp theo của bờ hồ, cạnh chân cầu có tiệm ăn nhỏ vừa nhóm lửa:

– Em chỉ muốn kể một câu chuyện gần nhất với sự thật. Nhưng điều đáng tiếc là sự thật thường tồn tại dưới dạng những mảnh ghép khác nhau trong ký ức mỗi người.

***

Tôi quen Phong cách đây bốn năm. Chúng tôi cùng tham gia nhóm tình nguyện lên miền núi hỗ trợ một điểm trường tiểu học xây dựng bếp ăn cho trẻ em bán trú. Buổi tối cuối cùng trước khi chia tay, các thầy cô giáo có tổ chức liên hoan lửa trại. Tại đó tôi đã ngẫu hứng một bài hát yêu thích của mình với cây guitar mượn được. Khi câu đầu tiên vừa cất lên, mọi người đã ồ lên đầy bất ngờ hào hứng.

Tranh của hoạ sĩ Phương Bình

Hóa ra đó chính là bài hát được viết bởi một nhạc sĩ trong đoàn. Qua ánh lửa bập bùng, tôi thấy ánh mắt anh hướng về phía tôi với niềm vui xen chút bối rối. Hồi đó Phong còn trẻ và chưa nổi tiếng, tôi thuộc bài hát của anh mà không biết đến anh.

Những chuyến thiện nguyện giúp cho tôi và Phong dần trở nên thân thiết với nhau hơn. Chúng tôi chia sẻ cùng nhau sở thích leo núi, ngắm mặt trời mọc, uống trà hoa hòe và thưởng thức các món ăn kèm rau cải xanh. Thỉnh thoảng Phong gửi cho tôi nghe bản thu âm ca khúc mới, còn tôi kể với anh những câu chuyện nhỏ trên con đường viết lách của mình.

Một ngày nọ, Phong nói rằng trên hành trình xuôi xuống phương Nam, anh có gặp một cụ già với câu chuyện mà anh nghĩ có thể tôi sẽ muốn nghe. Tôi ngay lập tức lên tàu tới chỗ anh đang đợi. Chúng tôi đã đôi lần có những chuyến rong ruổi cùng nhau như thế.

Tôi gặp người cựu chiến binh trong căn nhà nhỏ ven sông Rạp. Chính ông đã kể cho tôi câu chuyện về người chiến sĩ điện báo trong một đêm thức trắng với tiếng chim từ quy buồn thảm. Là nhân chứng duy nhất về sự hy sinh quả cảm của đồng đội nhưng bản xác nhận của ông chưa đủ để hoàn thiện hồ sơ do không có ai đối chứng. Trong chiến tranh, hoạt động của các tổ điện báo thuộc diện bí mật, chia thành nhiều nhóm nhỏ, thay đổi địa điểm thường xuyên, những xáo trộn của thời cuộc khiến rất nhiều thông tin thất lạc.

Còn một vấn đề tồn tại khác là trong truyền đơn kêu gọi chiêu hồi được thả xuống cuối mùa khô năm đó, phía đối phương có ghi rõ ràng họ tên, đơn vị kèm theo bằng chứng cho thấy có một người chiến sĩ điện báo đã chấp nhận đầu hàng. Dĩ nhiên đó có thể là trò tâm lý chiến. Nhưng việc không tìm thấy thi thể của anh tại khu vực xảy ra đụng độ khiến ai đó có quyền đặt giả thuyết để nghi ngờ.

– Hơn nửa thế kỷ đã qua rồi. Nhiều khi tôi thấy mình giống như người đánh tín hiệu điện đài vào khoảng không, mong có một hồi âm cuối cùng để khép lại số phận đồng đội nhưng điều nhận được chỉ là im lặng – Giọng người cựu chiến binh nghẹn lại khi kết thúc câu chuyện.

Cả tôi và Phong chỉ biết nhìn vào bếp lửa. Chúng tôi còn trẻ quá, chẳng thể nói gì để an ủi một người lính già vừa quay đi chùi giọt nước mắt ứa ra.

***

Tôi còn mang về Lũng Mây bản thảo một tác phẩm khác, câu chuyện về cô gái có cuộc đời với nhiều mảnh vỡ ký ức khác nhau.

Soi vào mảnh vỡ này, nhân vật nữ tên là Giang có tuổi thơ êm đềm nơi khu vườn ngập tràn nắng gió. Cha mẹ cô sống đầm ấm bên nhau và dành tất cả yêu thương cho đứa con gái duy nhất trong nhà. Biết con thích chơi trò ô ăn quan nên buổi chiều làm đồng xong, cha Giang lại bỏ công sức tìm những viên sỏi óng ánh bên bờ suối về cho cô. Cứ vài ngày cha lại thấy một viên mới đẹp hơn, hoàn hảo hơn. Nhờ đó Giang trở thành đứa trẻ duy nhất trong làng sở hữu năm mươi hai viên sỏi trắng muốt, viên nào cũng đẹp tuyệt hảo đến nỗi tất cả bọn trẻ con đều ao ước.

Thế nhưng khi soi vào mảnh vỡ khác, tuổi thơ của Giang lại phủ màu u tối. Trong căn buồng nhỏ ngăn bằng tấm vách mỏng, khi đêm đã rất khuya, cô giật mình tỉnh dậy bởi tiếng cha gầm gừ qua kẽ răng, xen lẫn tiếng mẹ khóc nghẹn ngào. Bà nội nằm cạnh Giang trở mình mấy lượt nén tiếng thở dài. Những lúc ấy, Giang chỉ biết thò tay xuống gối, khe khẽ lần từng viên sỏi trong bộ ô ăn quan. Năm mươi hai viên đá nhỏ lần lượt lăn qua lòng bàn tay trẻ con cho đến khi cô không còn nghe thấy tiếng khóc của mẹ nữa.

Gia đình họ vẫn hạnh phúc ngày ngày bên nhau, nhưng dân làng xì xầm rằng cha Giang đang cố đi lại với người phụ nữ góa chồng ở bên kia con dốc để kiếm thêm một đứa con trai.

Mẹ Giang mỉm cười dịu dàng trong bữa ăn tối nhưng lại khóc khi đêm xuống.

Giang ngồi bên bờ hè đếm những viên sỏi trắng trong tay.

Năm hai mốt tuổi, lần đầu tiên qua đêm với người yêu trong một khách sạn gần hải đăng Mũi Điện, khi hai thân thể run rẩy áp sát vào nhau, bất chợt một viên sỏi lạnh buốt từ ký ức thơ ấu lăn vào lòng bàn tay Giang. Giây phút ấy, toàn bộ cảm giác nồng nàn tan biến, để lại cô trơ lì trong bóng tối như một khúc gỗ mặc kệ người đàn ông loay hoay phía trên.

Kể từ đó cô không yêu ai nữa.

Trên mạng xã hội, Giang là một cô gái độc thân giàu có, tự do và xinh đẹp.

Ngoài đời, cô uống thuốc ngủ hằng đêm mới vượt qua được nỗi cô đơn.

Bản thảo đó tôi cũng chỉ mới viết được đoạn đầu, bởi chẳng biết làm gì tiếp theo với số phận nhân vật tên là Giang cả. Tôi cũng sống một mình, đôi lúc thấy cô đơn. Nhưng tôi không cần uống thuốc ngủ vào mỗi buổi tối.

Đêm nào không ngủ được, tôi sẽ thức đến khi trời sáng rồi xỏ giày đi bộ vài vòng quanh hồ.

***

Sắp cuối năm, cha gọi điện hỏi tôi có về thăm nhà không. Đã lâu rồi tôi không về quê. Mẹ mất sớm, cha tái hôn với người phụ nữ ở làng bên rồi sinh thêm được một người con. Em trai tôi là đứa bé ngoan ngoãn, dì cũng rất tốt với tôi, nhưng không hiểu sao mỗi lần cả nhà bốn người quây quần bên nhau, tôi cứ cảm giác mình như mảnh ghép bị thừa ra.

Sống một mình cũng ổn, chỉ là đôi lúc giữa đêm muộn ở Lũng Mây, khi ngồi trong tiệm cơm nơi chân cầu, nhìn bếp lửa phía sau chái tôi lại thấy lòng chông chênh. Chị chủ quán bảo rằng dù vắng khách thì chị vẫn mở cửa nhóm bếp sẵn sàng để khi chồng về, từ xa anh ấy đã thấy ấm áp vì biết có người đang đợi.

Khoảnh khắc đó bỗng nhiên tôi thấy đời mình sao mà hoang vu quá đỗi.

Có lần Phong nói, sao em không thử hẹn hò ai đó xem thế nào.

Tôi mỉm cười tránh cái nhìn của anh. Sau khi mối tình đầu tan vỡ, lòng tôi nguội như tro trong căn bếp ngày vắng mẹ, không còn muốn gắn bó với bất kì ai. Tự do khiến người ta nhẹ nhõm, nhưng cái giá của nó là cô độc.

Khác với tôi, Phong sinh ra trong một gia đình có mấy đời hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ hàng hải. Nếu cứ đi theo con đường đã được rải thảm sẵn như các anh chị mình, hẳn là giờ này Phong đã trở thành chủ xưởng sửa chữa tàu biển hoặc điều hành một doanh nghiệp vận tải viễn dương. Thế nhưng anh lại bộc lộ thiên hướng nghệ thuật từ khi còn rất nhỏ và quyết tâm theo đuổi niềm say mê với âm nhạc. Gia đình anh không phản đối nhưng cũng không ủng hộ. Cho dù giờ đây anh đã trở thành một nhạc sĩ có tiếng tăm, cả nhà vẫn chẳng có ai nghe tác phẩm nào của anh, cũng giống như gia đình tôi chưa từng có ai đọc bất cứ thứ gì do tôi viết.

– Đừng bận tâm em ạ – Phong từng nói với tôi như thế lúc chúng tôi dựng trại nơi lưng chừng dãy Pu Đen Đinh – Anh từng chứng kiến một buổi đọc thơ ở Vienna, trời đổ mưa rất to và bên dưới chỉ có một khán giả duy nhất. Thế mà trên sân khấu nhà thơ vẫn thể hiện trọn vẹn từ đầu đến cuối tác phẩm của mình.

– Có cả anh nữa là hai người rồi mà.

– Anh chỉ tình cờ đi ngang qua đó thôi và không biết tiếng Áo – Phong khẽ mỉm cười – Nhưng đúng là anh đã đứng lại trong cơn mưa nghe đến hết bài thơ vì cảm thấy trong đó có một điều gì ngân lên thật đẹp đẽ.

Đó có lẽ cũng là lí do tôi đến một nơi thật tĩnh lặng như Lũng Mây để có thời gian hoàn thành tác phẩm của mình. Cho dù chỉ vài người xa lạ đọc câu chuyện của tôi, khi đọc họ cũng không để ý tên tác giả.

***

Mùa khô ở Tà Riêng sắp sửa kết thúc. Những triền cỏ vàng sậm bên sườn đồi San bắt đầu đâm chồi xanh. Tuyến đường mới nối liền hai xã giáp biên chỉ còn một khúc cua cuối cùng nữa là hoàn thành.

Khi gầu xúc cắm xuống lớp đất dưới chân đồi, người lái máy bỗng thấy tay mình khựng lại. Lẫn trong đất vừa đổ ra hình như có một vài di vật.

Việc thi công lập tức được tạm dừng, chỉ huy công trình cho khoanh vùng để báo về cơ quan chức năng. Một đơn vị quân đội được cử đến ngay chiều hôm đó.

Từng lớp đất được gạt ra cẩn trọng. Không còn hình hài nguyên vẹn, chỉ lẫn trong đất là vài đoạn xương đã mục, những chiếc nút áo rã rời và các mảnh tăng võng cũ nát. Bên cạnh nơi rễ cây đâm xuyên qua, người ta phát hiện một chiếc bi đông méo mó, lớp khắc vẫn còn nhìn rõ ba chữ cái T.K.H phía trên ngôi sao năm cánh. Gần đó, trong vạt đất ẩm, lộ ra một khúc kim loại gỉ nâu, đã gần như tan vào đất, đó là phần còn lại của một khẩu súng AK.

Tất cả lặng người đi.

Đơn vị mở rộng phạm vi tìm kiếm nhưng không phát hiện được gì thêm. Hài cốt và các di vật của người lính được đưa về khu văn hóa tâm linh của xã để chờ làm lễ truy điệu. Một bàn thờ tạm được dựng lên giữa gian nhà sàn cộng đồng, khói nhang bảng lảng suốt từ sáng sớm. Người dân lặng lẽ đến thắp hương cho người chiến sĩ chưa rõ tên vừa được tìm thấy sau hơn nửa thế kỷ.

Tin lan nhanh khắp vùng. Chiều hôm đó, có một phụ nữ trung niên vượt gần chục cây số đường rừng tìm đến xin gặp đội trưởng đội quy tập. Chị nói rằng nghe tin về hài cốt liệt sĩ ở đồi San, trong lòng bỗng dấy lên một điều gì rất lạ, như ký ức của ông ngoại mình đang gọi về.

Ông ngoại lúc còn sống từng kể cho mẹ chị rằng hồi chiến tranh làng của ông có mươi nóc nhà nằm sát mé rừng già. Buổi sáng nọ, sau cơn mưa trái mùa, ông đi rừng thì thấy một người lính nằm gục dưới gốc cây to, thi thể đẫm máu, bàn tay vẫn nắm chặt khẩu súng AK.

Người lính có lẽ đã trải qua một trận chiến kéo dài và đã nỗ lực đến hơi thở cuối cùng để di chuyển tới đây quyết không lọt vào tay giặc. Khu vực này thỉnh thoảng vẫn diễn ra vài trận giao tranh dữ dội, biệt kích thám báo rình rập khắp nơi nên ông không dám nấn ná lại lâu. Nhìn gương mặt người lính trẻ mới chừng mười tám đôi mươi, lòng ông đau như dao cứa. Ông lấy tấm khăn quấn quanh vết thương trên ngực anh, dùng chiếc cuốc mang theo đào hố dưới gốc cây, đặt anh nằm quay về phía suối rồi lấp đất lại, lăn một tảng đá nhỏ cắm bên cạnh để đánh dấu.

– Ông tôi mất trên đường chạy giặc. Tôi chỉ nhớ mang máng lời kể rằng người lính ấy có một chiếc bi đông khắc ba chữ cái gì đó, hình như có cả ngôi sao nhỏ – Người phụ nữ nói, giọng run run – Chuyện diễn ra vào cuối mùa khô năm một nghìn chín trăm bảy mốt.

***

– Vậy là em đã đi đến chi tiết quan trọng nhất của câu chuyện, chiếc bi đông có khắc ba chữ T.H.K – Phong nói với giọng thật nhẹ nhõm.

Tôi trầm tư nhìn anh qua màn hình video call. Bây giờ là năm giờ sáng, mưa đột ngột trút xuống Lũng Mây nên tôi bỏ lỡ kế hoạch đi bộ quanh hồ. Bên phía Phong trời cũng đổ mưa.

T.H.K là viết tắt chữ cái đầu tên của ba chiến sĩ trong tổ điện báo. Trong những ngày chiến đấu cạnh nhau ở chiến trường miền Đông, ba người họ đã khắc tên lên đồ dùng của mình cùng với kí hiệu ngôi sao năm cánh bên dưới làm kỉ niệm. Chiếc bi đông thứ nhất là của người cựu chiến binh bên sông Rạp, chúng tôi đã được cầm trên tay kỉ vật đó trong lần đầu tiên tới thăm ông. Chiếc thứ hai là của người chiến sĩ cõng thiết bị băng rừng thoát khỏi trận đột kích. Sau khi mất tại trạm phẫu vì vết thương quá nặng, đơn vị gói ghém cùng ba lô đồ đạc gửi về hậu phương và được gia đình đặt trên bàn thờ liệt sĩ. Chiếc thứ ba chính là di vật nằm im trong lòng đất suốt mấy chục năm cùng với người chiến sĩ điện báo hy sinh khi mới mười tám tuổi.

Sau hơn nửa thế kỷ, anh đã trở về nhà cùng với tấm bằng Tổ quốc ghi công.

– Cuối cùng thì em cũng đã viết xong – Tôi nói với Phong khi đang ngập ngừng gõ những dòng kết thúc – Một tác phẩm bình thường giữa muôn vàn tác phẩm được in ấn xuất bản mỗi ngày, chắc chẳng ai để ý đến đâu.

– Anh vẫn đọc tất cả những gì em viết. Giá mà em biết được điều đó có nghĩa là gì.

Cả hai chúng tôi cùng lặng yên đi một lát.

Bên ngoài trời vẫn mưa. Tôi rời khỏi màn hình máy tính, để đầu trần bước ra đường. Sau vài phút đi bộ băng qua trạm khí tượng là tới hồ nước rộng mênh mông, dọc theo con đường lát đá chạy ven hồ có rất nhiều cây phượng vỹ, bằng lăng, liễu rũ. Mưa vẫn rơi từng giọt xao xuyến trên mặt nước. Bên kia cầu, người phụ nữ chủ quán cơm đã nhóm lên ngọn lửa bập bùng phía sau chái bếp. Tôi bỗng thấy nhớ căn nhà nhỏ thời thơ ấu, nhớ mẹ, nhớ cha, nhớ cả dì và đứa em trai mười một tuổi.

Cũng có nhiều khi tôi thấy nhớ Phong, nhưng tôi cũng nhớ rằng mình còn một tác phẩm đang viết dở. Câu chuyện kể về cô gái trẻ, tự do và cô độc với viên sỏi trắng lạnh buốt trong tay.

Tôi vẫn đang ở Lũng Mây. Tôi chưa biết viết gì cho đoạn đời tiếp theo của người con gái ấy./.

TRẦN THỊ TÚ NGỌC

Văn Nghệ Hà Tĩnh

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *