Xốn xang kỷ niệm – Ký của Hồ Ngọc Quang

Vanvn- Nhà văn Hồ Ngọc Quang sinh ra ở làng Quỳnh, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Anh bén duyên với văn chương khá sớm, khi anh là sinh viên của Trường đại học Sư phạm Hà Nội 1. Hiện anh là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Trưởng ban Văn xuôi Hội Văn học nghệ thuật Nghệ An.

Năm 1984, anh đã có bài “Nỗi đau chưa dứt” giải nhất Ký báo chí Nghệ An; Truyện ngắn “Gặp lại Bí thư” giải nhất Cuộc thi truyện ngắn của Hội Văn học nghệ thuật Nghệ An năm 2010; Ký “Rộn rã bình minh” đoạt giải Ngành Nông nghiệp năm 2017. Anh viết kịch bản phim “Vết thương xưa” đạt giải vàng Liên hoan phát thanh  toàn quốc năm 2000, giải nhất Búa liềm vàng tác phẩm “Bí thư huyện ủy” năm 2018, và năm 2022 anh đạt giải B, giải Hồ Xuân Hương của Nghệ An với tác phẩm “Ma xó”.

Đấy là vốn liếng ban đầu để anh chuyên tâm sáng tạo tác phẩm với thể loại ký và truyện ngắn. Suốt những năm gần đây, bạn đọc đón nhận nhiều tác phẩm của anh trên Báo Văn Nghệ với một giọng văn khá ấn tượng, gắn bó mật thiết với quê hương xứ Nghệ, với riêng Quỳnh Lưu quê anh. Tất cả những gì thuộc về quê hương xứ sở đã trở thành máu thịt, là động lực sáng tạo của một nhà văn, nhà báo sung sức Hồ Ngọc Quang. Anh vừa giành giải nhất cuộc thi viết “Ký ức Làng” của Làng Việt với tác phẩm “Xốn xang kỷ niệm” và “Làng tôi làng Quỳnh”. Vanvn.vn trân trọng giới thiệu ký “Xốn xang kỷ niệm” của nhà văn Hồ Ngọc Quang.

Nhà văn Hồ Ngọc Quang

Chuyên đề Văn học Nghệ An:

>> Thiên tính nữ và cá tính sáng tạo trong thơ Nôm của Hồ Xuân Hương

>> Cát mặn – Truyện ngắn của Nguyễn Thị Phước

>> Nhớ nhà thơ Võ Thanh An của xứ Nghệ

>> Chùm thơ của Dương Huy

>> Miền Tây Nghệ An trước thế kỷ XV

>> Thơ Vân Anh: Vá nhọc nhằn, tằn tiện của Tiền Nhân

>> Nhà thơ Lê Quốc Hán: Cho ta nhặt lại cái ngày đầu tiên

>> Thơ ba câu của Nguyễn Văn Hùng: Có rất nhiều tiếng thét bên trong!

>> Những kết hợp sáng tạo, độc đáo tạo nên sức hấp dẫn trong thơ Quang Dũng

>> Nhà thơ Minh Huệ viết bài thơ “Ðêm nay Bác không ngủ” như thế nào?

>> Trần Hữu Thung và những chuyến “đi thực tế” độc đáo

>> Tàn sen – Truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Lợi

>> Những điểm nhấn của tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Thế Quang

 

Vụ mùa vừa gặt xong, gió hun hút cánh đồng thoáng đãng. Hai chàng trai choai choai, cùng khoác áo tơi, đầu đội mũ lá, quần xắn lên đầu gôi, mỗi cậu cầm một cái sào hóp dài độ hai mét, đầu ngọn buộc chùm lá chuối khô, phía trước là đàn vịt mấy trăm con mò ăn rào rào như mưa giông. Đi đến đâu những cua ốc, thóc rơi vãi trên cánh đồng còn nguyên gốc rạ, như có phép thần, tự nhiên tuồn hết vào diều của những con vịt ấy. Khi cái sào hóp giơ lên, đội quân ào ào ấy lại tiến lên phía trước.

Đó là hình ảnh của Văn và tôi của hơn 40 năm trước, khi tôi đang học cấp III trường huyện, nó đã gắn liền tuổi thơ tôi với Hói Nồi. Hói Nồi hoang dã, thơ mộng, bí ẩn và hấp dẫn, gắn kết lạ lùng giữa tôi và thằng bạn nối khố cùng xóm – thằng Văn. Văn là người bạn đồng niên, cùng học một lớp, cùng họ, người to cao, dáng lầm lỳ, gan góc và chân thật. Hai thằng đi đâu cũng cặp kè như hình với bóng. Nhà nó nghèo hơn nhà tôi, vì bố mẹ tôi dù sao còn có đồng lương, còn gia đình nó thuần nông, no đói chỉ trông hết vào đồng ruộng. Nhưng nó vốn chăm chỉ và nhanh nhạy trong cách làm ăn. Nó bàn tôi xin tiền bố mẹ, chung vốn mua một đàn vịt nuôi thả ở Hói Nồi trong dịp nghỉ hè thả ở Hối Nồi, trên mảnh đất trồng thuốc lào của gia đình nó. Vịt là giống mau lớn, chịu khó kiếm ăn chỉ mất tiền vịt giống thôi, công chăm đã có nó rồi. Lúc vịt ương, hai đứa thay nhau chăn. Còn thức ăn thì dựa vào nguồn trời cho của Hói Nồi.

Quá nửa đời người, đi rất nhiều nơi, thăm nhiều danh lam thắng cảnh của đất nước và trên thế giới, và mỗi lần đi qua các bản làng xa lạ, tôi  lại đau đáu nghĩ về tuổi thơ, về Hói Nồi của làng Quỳnh quê tôi, ít nơi nào có được. Hói Nồi là vùng đất tận cùng phía đông làng tôi, nơi có con sông Mơ nước mặn lững lờ chảy lên xuống theo con nước thuỷ triều. Con sông chắn ngang, tạo một vùng đất chua phèn ngập mặn cơ man nào là năn lác, cỏ dại, ốc sắt, cua, cá, rạm, còng, cáy… đủ loài sống ở nước mặn nước lợ, lại có con kênh tiêu Cù Chính Lan nối kênh Bình Sơn uốn lượn theo dòng chảy tự nhiên qua các cánh đồng đổ về sông Mơ. Ngồi trên thuyền đi dọc từ đầu làng về cuối làng rồi xuống Hói Nồi, giống như đang du lịch kênh rạch trong đồng bằng sông Cửu Long vậy. Sắp tới, làng sẽ đổ bê tông con đường từ sông Hai Sáu xuống công tiêu ba cửa, có kè đá hai bên nâng cao cầu lên để phục vụ khách du lịch đi thuyền từ làng xuống sông Mơ, nhưng thơ mộng hơn là ngồi trên thuyền, ta có thể buông lưới bắt được cả yến cá nước ngọt như: cá rô, cá gáy, cá quả… cá nước lợ như: cá đối, cá chim, ca buôi, cá vược, cá mú, v.v.

Khi mùa chiêm vừa gặt xong, cánh đồng trở nên mênh mông, luồng gió biển mặn mòi thổi vào Hói Nồi qua rặng phi lau của các xã Quỳnh Bảng, Quỳnh Lương, Quỳnh Minh nghe cứ ro ro, vi vu bên tai. Con sông Mơ hiền lành bỗng trở nên phóng khoáng và hoang dại hơn. Trên cánh đồng, những gốc rạ còn lại đang nhuốm màu vàng xỉn, váng sắt, vương vãi đây đó những hạt lúa rơi rụng vàng ươm rải khắp từ đồng Phần Xôi, Đồng Gãy, Đập Bản cho đến Hói Nồi. Ấy là lúc những đàn vịt cỏ đông đến hàng ngàn con của dân các xã quanh Hói Nồi được thả ra các cánh đồng. Vịt chúng tôi cũng đã toe lông bút, to bằng nắm tay thi ăn với đàn vịt của làng. Chúng ríu rít mò nhủi tất cả những gì mà thiên nhiên hào phóng ban tặng và những hạt lúa, dé lúa khó nhọc từ bàn tay con người sót lại. Khi đoàn quân đông nghịt ấy đi qua thì cơ man nào cua, ốc, cóc, nhái, cá, tôm và thóc rụng được thu nhặt kỹ càng.

Chúng tôi đi chăn vịt đàn, khi mùa gặt vừa xong, giống như dân du mục, mỗi đêm ở một cánh đồng, sáng Đập Bút chiều Đầm Họ, hôm sau lại Đầm Hiếu, Đầm Tạ Mạc, Đầm Huyện…Vịt ăn no và đủ chất đạm nên rất chóng lớn, chéo cánh, đủ lông và vào mùa đẻ rộ đúng giữa kỳ nghỉ hè. Giống vịt cỏ khéo kiếm ăn và đẻ lai rai, nhất là khi phải chạy đồng. Có nhiều người nông dân đi làm vẫn nhặt được những quả trứng đẻ sót trên ruộng của mình. Chúng tôi ngửa mũ nhặt trứng rơi vãi nổi lập lờ trong những bụi cỏ, trong đám rong rêu. Số trứng này Văn thường bảo hai đứa luộc lên cải thiện, còn trứng trong kế hoạch thì dứt khoát không được ăn. Quy định nghiêm ngặt thế để nộp cho cha mẹ đang mong ở nhà, đem đi chợ đong gạo. Dịp nghỉ hè, tôi đi chăn vịt với bạn cả tuần mới về nhà ăn cùng gia đình bữa cơm hôm.

Những đêm ngủ lại trong lều vịt, trời giá lạnh, mùi phân vịt hăng chua, tanh tanh, lúc đầu hơi khó chịu sau lâu dần cũng quen. Lều vịt thường cắm trên mô đất cao, gần đường cho đỡ sợ ma. Do vậy, với sự ồn ào của đàn vịt cộng thêm tiếng các bà, các cô vùng Kẻ Mơ đi bán rau chợ huyện, cười nói ầm ĩ, lịch kịch từ nửa đêm đến gần sáng khiến chúng tôi phải dậy từ sớm tinh mơ. Hai mắt mở chong, nằm cạnh nhau trên chiếc chõng tre, chúng tôi ngước nhìn những vì sao nhấp nháy trên bầu trời qua những lỗ thủng của mái lều tranh lợp tạm. Tâm sự cho nhau đủ thứ chuyện trên trời dưới đất nhưng cuối cùng vẫn về chuyện những con người của làng Quỳnh và chuyện làm ăn của làng. Cứ mỗi buổi sáng bình minh rực rỡ, khi con nước sinh (con nước xuống), chúng tôi tay cầm xô rủ nhau xuống sông Mơ bắt cáy, cua và cả cá thòi lòi.

Theo ven sông, những sinh vật đó nhiều vô kể. Con vật ngon bắt nhặt cho người. Tất nhiên những đặc sản ấy phải nấu ngay đồng, phải đưa về lều vịt luộc lên ăn tại chỗ mới thấm hết cái vị ngon ngọt. Nhất là các loại hiếm hơn, thơm thịt giàu đạm như cá bống, cá đối thì hun lửa rạ mới có mùi đặc biệt. Cua, còng nước lợ, gạch nó thơm ngon không gì tả nổi, lóng lánh trong nồi đất. Khi nước lên, thức ăn đã dự trữ hàng chum rồi, chúng tôi lại đi thuyền vào rừng đước, sú vẹt trong lòng sông Mơ. Và như lạc vào khu rừng nguyên sinh, nếu không quen dễ lạc lắm. Ở đây là nơi trú ngụ sinh sản của hàng trăm loại chim như cò, vạc, gà lôi, cuốc cuốc… Hằng năm, đến tháng 9 tháng 10 là khi đàn chim biển di cư về trú ẩn như vịt trời, ngỗng trời, hàng nghìn con đậu trắng cả vùng sú vẹt, chỉ cần giơ tay có thể đỡ được ổ chim đầy trứng hoặc ổ chim non đang hác mỏ chờ mồi.

Hói Nồi là vùng đất có nguồn thuỷ sản thật phong phú và dễ tìm cái ăn. Khi trời mưa xuống chỉ cần đặt cái đó to ở cống ba cửa đêm trời mưa lâm thâm, sáng ra có thể vớt được cả tạ rạm vàng ươm, bò rào rạo trong thúng. Rạm bé hơn cua nhưng độ đạm thật nhiều. Tất cả các loại thuỷ sản nước lợ đều rất ngon, ăn không chán, đã ăn thì nhớ mãi một đời. Đến bây giờ, khi đi khắp đó đây  trên đất nước và các nước bạn, tôi vẫn không quên được mùi gạch mực, gạch rạm, gạch cua và các loại trứng chim ở Hói Nồi. Những lúc đàn vịt đang mải tìm ăn, quây kín trên thửa ruộng sâu trũng, chúng tôi đến những gò cao nơi có những bụi cây xâm xấp để tìm ổ chim như Hói Ván, bãi Thằng Què hay hói Bà Vị, hói Rọt Chó, khu Đồng Cao… Ở đó có rất nhiều những ổ trứng gà lôi, trứng chim đa đa, ổ chim cu gáy ra ràng và cả trứng chim cuốc cuốc, thậm chí có cả sóc, chồn, cáo. Chúng tôi lấy gai đục hai lỗ của quả trứng cho vào miệng nuốt sống rất ngon và thơm bùi, nếu bắt được ổ chim con đưa về chăm sóc rất cẩn thận.

Hồi ấy, đứa nào có chim non đi theo hay biết kiếm ăn quanh quẩn bên mình thì được cả bọn cho là sang và có tài. Đôi khi, những thằng bạn cha mẹ không cho ra hói thì chúng tôi lại thơm thảo bắt chim con đưa về cho chúng nuôi, vui lắm. Những lúc rỗi rãi, chúng tôi lại rủ bạn chăn trâu đá bóng ở trạt ông Châu Quyến, bóng là những quả bưởi non nướng mềm, khi người mệt lử, bàn chân bắt đầu dộp lên, chúng tôi lại ngồi lên lưng trâu, cho trâu lướt về làng trong dòng kênh, như bơi thuyền vậy.  Dù vui với cái thú hoang dã đến mấy, ăn ngon đến mấy thì nhiều đêm, hai thằng vẫn suy nghĩ như người lớn và đôi lúc cảm thấy cô đơn. Chúng tôi sắp bán lứa vịt gốc để tôi rảnh tay chuẩn bị cho năm học mới trường huyện. Bấy giờ, ven bờ đã thấy hoa cúc, hoa cải rộ vàng. Tôi sắp xa Văn để chuyên chú cho việc học hành. Những ngày ấy, nó càng trở nên lầm lỳ như con gấu. Có bữa cơm không muốn nói chuyện, không muốn nhếch mép cười.

Tôi nói với nó điều ấp ủ, suy nghĩ bấy lâu nay: “Văn ơi, mình nói điều này, bố mình mỗi lần về quê đều tâm sự với mình rằng: Làng Quỳnh ta xưa nay là đất học. Học cũng là một nghề, có đam mê thì mới giỏi được. Mình hiểu nỗi khát khao thiệt thòi của cậu, không được học tiếp cấp 3 như mình. Tuy nhiên, cậu cũng có thể thoát ly làng đi làm một việc gì đó, rồi có vốn để học thêm lên chẳng hạn. Mình thiết tha khuyên cậu đừng nên loay hoay ở Hói Nồi này với mấy con vịt với mấy sào thuốc lào, giỏi lắm là đủ ăn chứ không thể giàu được. Cậu nghĩ mà xem, con cua, con cáy ở Hói Nồi này, dù nhiều đến đâu rồi cũng có ngày cạn kiệt. Chúng mình kiếm ăn theo cách khác, bằng hai tay và cả cái đầu nữa, được không?”. Văn ngồi im không nói gì, cũng chẳng tỏ ra tán thành hay phản đối nữa. Nhưng từ ngày hôm đó nó có vẻ bồn chồn như đang ấp ủ một ước mơ gì đó, to tát lắm, dữ dội lắm…

Không biết có phải Văn nghe lời tôi hay không mà cuối năm đó, nó xung phong đi bộ đội, mặc dù còn thiếu một tuổi. Tôi nhận được vài lá thư đầu thấy nó nhập vào đoàn quân tình nguyện sang Campuchia chiến đấu. Tôi viết thư cho Văn, nhắc đến kỷ niệm về Hói Nồi mà rơm rớm nước mắt. Rồi tôi ra Hà Nội học đại học, nhận công tác ở đó, chưa nóng chỗ lại chuyển về Vinh dạy học nên hai thằng cũng chẳng có điều kiện quan tâm đến nhau nhiều. Mỗi lần về quê, chiều chiều lại lấy xe đạp, đạp vòng xuống sông Mơ rồi đạp quanh Hói Nồi nhìn những đàn vịt người ta bơi lội, tôi vẫn thao thức nhớ về một thời. Không biết Văn giờ có còn trong quân ngũ không, với đức tính cần cù dũng cảm và nhanh nhạy của Văn chắc giờ nó cũng lên cấp tá, cấp tướng rồi cũng nên. Chẳng biết nó có nhớ đến Hói Nồi này nữa không, mà mình cứ ôm mãi khối tương tư mãi thế này?

Tình cờ, trong một chuyến tham quan Đà Lạt, đoàn chúng tôi lại ở đúng khách sạn có tên là “Hói Quê”. Khách sạn vào loại sang 3 sao và có nhiều  đặc sản gợi nhớ quê hương. Chúng tôi được biết ông chủ khách sạn quê gốc Nghệ vào đây lập nghiệp, ngoài khách sạn này, còn một cái nữa ở trung tâm thành phố. Lại còn kinh doanh tiệm vàng nữa. Tôi đang tự hào cho xứ sở “Cá Gỗ” mình thì bỗng dưng Văn xuất hiện bất ngờ trước mắt tôi, to béo như phi công Liên Xô, mặt bầu bĩnh hồng hào, hai tay lông lá ôm chầm lấy tôi. Gặp nhau, hai chúng tôi mừng quá, tôi ngửi lên vai áo nó, xen lẫn mùi nước hoa tôi cứ thấy như thoảng thoảng cái mùi mồ hôi chua chua dạo còn rét ôm nhau ở Hói Nồi. Hai đứa ôm nhau rung rưng một lát rồi cùng thả nhau ra, ngắm nhìn nhau từ đầu tới chân. Ai hỏi, chủ nhà hàng cũng bô bô, tự hào giới thiệu: – Cái thằng “thầy” trắng trẻo này – chỉ vào tôi – thuở hàn vi vừa là cùng quê, bạn học, vừa là bạn chăn vịt với tui đó! Tôi cũng thơm lây khi thấy bạn thành đạt.

Từ hôm ấy, hai người chúng tôi luôn quấn quýt bên nhau, Văn trở thành hướng dẫn viên du lịch, bao ăn bao ngủ toàn bộ cho đoàn chúng tôi và không đêm nào cho tôi ngủ chung với đoàn. Bạn đưa tôi về nhà và bắt tôi kể lại những năm tháng xa nhau, kể về Hói Nồi ở trong “khách sạn nghìn sao” với âm thanh con cu gáy gù, con cuốc cuốc kêu buồn thảm thiết, tiếng ếch nhái râm ran nảo ruột dạo trước. Lại hỏi bây giờ Hói Nồi như thế nào và tương lai nó sẽ ra sao? Hôm kết thúc đợt tham quan, Văn mời cả đoàn chúng tôi đi chiêu đãi ở nhà hàng sang nhất Đà Lạt. Các bạn chưa kịp gợi ý tôi, Văn đã hiểu và mời chúng tôi đi mát xa, xông hơi tập thể và còn dúi tiền cho tôi tiêu vặt. Nghĩ về Văn, ai cũng thấy thật vinh dự cho những người con xa quê thành đạt, ước được một phần của bạn. Cũng hôm đó, sau khi ăn uống no say, thư giãn mát mẻ, Văn rủ tôi về thăm nhà riêng, thăm cái “lều vịt” hiện nay của mình. Tôi biết ngay nhà hàng của Văn lớn vậy thì nhất định dinh cơ hẳn rất bề thế. Mải suy nghĩ mông lung, ô tô đã tới nơi biệt thự lung linh của bạn từ lúc nào.

Đón tôi ngay ở cổng là một phụ nữ, chị nở nụ cười rất tươi, niềm nở, ánh mắt long lanh sắc ngọt. Chị mới ngoài ba mươi, mảnh mai, da trắng nõn nà, nói giọng Hà Tĩnh ngọt lịm: – Trời ơi! Em nghe chồng em kể về anh rất nhiều, lại còn viết truyện về anh nữa đấy. Rứa mà bữa ni mới được gặp anh. Anh ở đây một tuần đi, để hai người “ôn nghèo kể khổ” với nhau cho thoả, em sẽ hầu chuyện hai anh chu đáo, được không anh? Văn cười chìa tay ra, nói: – Nàng cứ ước ao gặp mày mãi đấy. Nay đã gặp thì làm quen nhau đi. Tôi đưa tay ra nắm lấy bàn tay mềm mại của vợ Văn. Khi cô cùng chồng dẫn tôi vào phòng khách thì vợ Văn đã nhanh nhẹn mang ra hai cốc nước cam và bảo hai anh uống đi cho giã rượu. Tôi khen “Em thật chu đáo quá”. Vợ bạn nhỏ nhẹ: “Không có gì đâu anh, em rất mừng được gặp anh, bạn nối khố của chồng em”. Văn cười nhìn vợ thoả mãn, hạnh phúc, rồi bảo tôi nhanh chóng đi nằm, kể chuyện cho vui, chả khách sáo ngồi làm gì cho mỏi lưng.

Nằm gác chân lên bụng nhau, câu đầu tiên vẫn là sau vụ vịt ở Hói Nồi, mày đi những đâu? Tôi kể vắn tắt, cốt nhanh để nghe sự thay đổi kỳ diệu ở đời bạn. Văn cho biết: Sau mùa đó, đi bộ đội sang chiến đấu Campuchia, hết chiến tranh đi Đức làm quản lý lao động, gom góp được ít vốn về thành phố này định cư, lấy vợ là người Hà Tĩnh, học xong Đại học Sư phạm Đà Lạt không đi dạy ở nhà phục vụ chồng con. Vợ chồng bây giờ đã được ba cháu. Tau thật hạnh phúc và mãn nguyện. Bản thân Văn vừa là ông chủ kinh doanh khách sạn Hói Quê  vừa là lính cơ động ở những cơ sở còn lại. Mọi việc Văn làm hết, quản lý người làm ở hiệu vàng khách sạn, không muốn vợ động tay động chân một việc gì, chỉ ở nhà trông con và phục vụ gia đình, Văn thì đi từ sáng sớm đến khuya mới về, có nhiều hôm vì uống rượu nhiều, không về nữa, ở luôn khách sạn. Mệt hơn dạo chăn trăm con vịt ở Hói Nồi, tau đặt tên khách sạn Hói Quê chắc chỉ mình mày hiểu thôi.

Nói chuyện gần nửa đêm, Văn dậy mở tủ, lấy ra một chai rượu ngâm màu vàng sánh, nói là rượu tay gấu. Vừa lấy ly rót rượu, Văn vừa nói: – Còn khoảng thời gian ngắn nữa là bọn bay về quê rồi. Cứ cho rượu nó lơ mơ cho sướng. Nhìn lọ rượu, tôi biết có lẽ chủ nhà đã cất giấu nó hàng chục năm nay rồi. Hôm nay, hai thằng chăn vịt mới được thưởng thức của quý ấy. Có thể nói, rượu ngon có bạn hiền, hai đứa nâng lên đặt xuống không kể trời đất nghiêng chao. Khi đã ngà ngà say, bỗng Văn nói, nói như thần phán: – Đúng thật mi nạ, người làng ta đi xa mới làm ăn được. Tau dừ có khoảng trăm tỷ với hai khách sạn, vài tiệm vàng nữa. Đời không cần gì thêm, chỉ  cần bình yên, sức khoẻ và bạn bầu thôi. Hay mi vô đây ở, làm quản lý cho tau. Chứ hồi đêm nghe mi nói dự định về quê sắp tới, tao thấy cò con quá – Lát sau lại thấy mặt Văn rưng rưng như muốn khóc, bảo – may mà hồi đó mi nói cái câu ở lều vịt giữa đêm rét, mày nhớ nữa không? Nhờ câu đó, tau mới quyết tâm ra đi, chớ đi chăn vịt mãi… không biết dừ răng hậy?! Chia tay, Văn dúi cho tôi bọc tiền, về nhà mới biết năm mươi triệu.

Sau năm đó, tôi về lại chuyển sang làm báo, vì công việc bận rộn túi bụi nên cũng không liên lạc được với Văn nhiều. Chỉ nghĩ ở thành phố sang trọng, bạn là một người sang trọng, một doanh nhân thành đạt, giàu có và quý bạn, vậy thôi. Khi có dịp lại đưa anh em vào “đập phá”. Tôi về làm nhà ở quê, ngay trên mảnh đất hương hoả của ông bà, bố mẹ để lại. Đúng các cụ ngày xưa nói thâm thuý thật – từ trước tới nay, người làng Quỳnh ai đi đâu làm quan to đến mấy khi về hưu cũng muốn về quê ở, quên hết chốn quan trường và việc xã hội, tập trung lo lắng cho sự học hành, dạy dỗ con cháu, xây dựng các mối quan hệ tình làng nghĩa xóm và hương khói cho ông bà tổ tiên. Tôi cũng vậy, đến bây giờ đã thấy mình thật thanh thản và toại nguyện, được hít thở gió nồm từ quê hương trong lành mơn man.

Theo sáng kiến của anh bạn trẻ cùng làng đang làm Giám đốc Rừng phòng hộ huyện, rủ cùng nhau xuống khai phá văn minh vùng Hói Nồi. Nghe nói về Hói Nồi, tôi hưởng ứng ngay, cùng bạn trẻ nhận lại mấy héc – ta đất của người bà con trong làng mà lâu nay đã cho người xã khác canh tác hoặc bỏ hoang. Đây cũng chính là mảnh ruộng ngày xưa của nhà Văn, nay chúng tôi mở rộng thêm nhiều thửa nữa, đầu tư xây hồ, làm ao, dựng nhà để nuôi tôm công nghiệp và nuôi cá đặc sản. Nhờ áp dụng khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm lâu nay của một nhà báo đi nhiều, học hỏi nhiều, kinh nghiệm nhiều nên qua mấy vụ, những hồ nuôi tôm thâm canh của chúng tôi đã cho thu hoạch. Hồ cá rộng cả héc – ta nuôi nhiều loại thuỷ sản quý như: Cá vược, cá chim biển, cá đối, đủ thứ đang bơi lượn tung tăng.

Trong trang trại xây dựng cả cầu “Thê Húc” bắc qua kênh, ban đêm hàng trăm bóng đèn điện dọi xuống nước trông rất lung linh, huyền ảo và thơ mộng, chúng tôi còn xây dựng cả cột cờ cao và hệ thống truyền thanh phục  vụ cho nhân nhân ở đây. Xung quanh hồ, dừa và mít đã tươi tốt, ở cạnh hồ, dựng một ngôi nhà sàn để bạn bè đến chơi đàm đạo thơ văn, buông cần câu xuống ao là có cá tươi nhắm rượu. Lại vẫn như hồi xưa, Hói Nồi nhiều sản phẩm tôm cá nhưng là của tự nhiên, muốn bắt bao nhiêu cũng được. Khác trước, bây giờ ngồi nhà sàn buông câu là bắt được cá ngon, tôm càng xanh, người không phải bùn lấm lem như trước và uống rượu đàng hoàng ở nhà sàn mộng mơ, với không gian đầy lãng mạn chứ không phải co ro trong lều vịt, nhìn lên mái là thấy sao trời qua mấy phên rạ lưa thưa nữa.

Sau hơn ba phần tư cuộc đời đi ăn cơm cùng thiên hạ, kể cả trong và ngoài nước, bây giờ lại về với Hói Nồi nuôi tôm cá thì tôi mới hiểu hết ý nghĩa câu thường nói cửa miệng “nơi chôn rau cắt rốn” là như thế nào. Đời thấy rất vui và còn vui hơn trước nữa khi Hói Nồi trở thành nới gặp gỡ, giao lưu của bạn bè, là nơi gặp gỡ, giao lưu của giới văn nghệ sĩ trong huyện, tỉnh và cũng là nơi làm ăn bắt đầu có hiệu quả của chúng tôi. Thật tình cờ, hôm rồi, nhân ngày tế họ rằm tháng Giêng, tôi lại gặp Văn về quê, dâng hương ở Nhà thờ Hồ đại tộc. Gặp nhau, Văn chạy tới bá vai tôi hỏi ngay – Mi về Quỳnh Đôi dừ mần chi, nghe nói xuống Hói Nồi phát triển mạnh lắm à? – Mình về nhận lại mảnh đất của gia đình cậu trồng thuốc lào hồi xưa ở Hói Nồi, nơi ta đóng đại bản doanh lều vịt ấy mà. Đầu tư, nuôi tôm, cá. Giờ ta xuống xem đi, cũng hay và biết đâu cậu lại thích cũng nên! Dọc đường đi, Văn vẫn vẻ trầm ngâm suy nghĩ, lát sau, sắp đến trang trại của chúng tôi, bạn thở dài: – Tau bán hai khách sạn và hai hiệu vàng rồi. Mi biết đó, con vợ tau như dao sắc, vì đẹp mà tau không muốn cho hắn đi làm, ở nhà phục vụ chồng con. Vậy nên mới sinh ra thờ cúng lên đồng. Tau thì lo làm ăn nên cũng mặc ả ta cứ ở nhà làm gì cũng được. Cực chẳng đã, tau đuổi vợ đi rồi, chỉ thương mấy đứa con thôi… Tôi ngậm ngùi thay, trước mắt nghĩ về người phụ nữ đẹp, quý phái, mẹ của ba đứa con Văn ra đường sẽ đi đâu, làm gì để sống và hai khách sạn sang trọng, hai hiệu vàng tấp nập người vào ra, tất thảy chúng tôi đã từng trầm trồ, ao ước. Tôi nghĩ, tối nay bảo Văn ngủ lại Hói Nồi, hai thằng bắt chân lên nhau ngủ như ngày xưa, tôi sẽ khuyên bạn, chính bạn đã làm vợ hư, đam mê làm giàu, bỏ vợ đơn chiếc, lạnh lẽo, đàn bà sức chịu đựng cũng có hạn, cả năm không có hơi chồng, cái gì đến phải đến. Bây giờ Văn phải trả giá và chuộc lỗi của mình không thể để như thế được, phải cứu lấy gia đình, gia đình là trên hết. Hai thằng chăn vịt ngày xưa ra nhà sàn ngồi hóng gió biển mặn mòi, bảo mấy người làm bắt tôm càng xanh luộc lên rồi cùng nhâm nhi chén rượu.

Nhìn mặt nước sủi bong bóng tôm búng, tôi bùi ngùi an ủi bạn:

– Thôi cũng là số phận cả Văn ạ. Cậu cố quên cho nhẹ người. Bây giờ cậu đã tính sao chưa?

– Hai năm nay, tau vô rừng sâu cách thành phố đến chừng độ 70 cây số bỏ tiền mua rừng cũ của bà con dân tộc Ê Đê và nhận rừng khoanh nuôi khoảng 280ha, để trồng cao su. Hiện nay, số cao su mua lại cũng đã cho thu hoạch, tao không muốn ra phố nữa, chán lắm! Thôi ở luôn trong rừng thôi.

Tôi nắm tay Văn, lắc lắc:

– Hay cậu bỏ quách trong đó, về Hói Nồi này cùng làm ăn với tụi mình?

Văn cười nửa miệng, vẻ chua xót:

– Giá mày nói cách đây vài năm trước thì tau cũng có thể về Hói Nồi thật đấy. Giờ thì muộn rồi, quỹ thời gian không còn nhiều nữa. Vả lại, sự nghiệp tau giống như cái xe đạp – chạy thì không ngã nhưng đứng lại thì đổ kềnh. Cơ sở trong ấy cũng đang gối cái này lên cái kia. Các con đang cần tau.

Một lát, Văn lại hỏi tôi:

– Tau hỏi thật nhá, tại răng mi lại về quê đầu tư vô Hói Nồi?

Tôi đọc cho nó nghe bài thơ của nhà thơ Lam Giang, người cùng làng với chúng tôi viết về sông Mơ, Hói Nồi:

“Hỏi em còn dải sông Mơ?

Lại bâng khuâng tiếng gọi Hói Nồi ngái xa

Hoang sơ một thoáng hồn ta

Sóng lay đỏ ráng phù sa nào buồn

Sông Mơ chát mặn cuối nguồn

Nắng mưa xao xác lạch luồng em đi

Anh về thuơng lại sông quê

Còn xanh hoài cỏ ven đê phía trời

Người xa gần trọn vòng đời

Trách chi ai nhạt đò vơi đò đầy

Đoái trông ngút ngát chân mây

Lắng trong anh dáng hao gầy sông Mơ”…

– Một mảnh đất văn minh lịch sự đầy tình người như thế ai nỡ lãng quên, cho dù thành đạt đi chăng nữa. Mình về vui thú với cảnh điền viên, hưởng gió trời, ở Hói Nồi như ở bãi biển Cửa Lò vậy. Cảnh trăng thanh gió mát ở đây thì cậu quá biết rồi.

Tự nhiên, Văn ôm mặt khóc sụt sịt! Rồi hắn lại cười: Hớ… hớ… hớ và cuối cùng phang một câu: Giỏi! Ước gì bây dừ tau được ở Hói Nồi! Hức! hức! Giá như mọi thứ đều có thể…

Bạn chăn trâu cắt cỏ của tôi ơi, hơn nửa đời người lên rừng xuống biển, vinh hoa giàu có không thiếu, sao bạn lại ước ao được trở về Hói Nồi. Ôi Hói Nồi! Con hói nho nhỏ, dòng nước khi đục khi trong, hai bờ cua cá ẩn dưới tán cây mà sao như cứ chảy hoài trong trái tim của những đứa con xa? Con hói bình dị làng tôi mà sao những đứa con làng Quỳnh dù đi xa đến đâu đều muốn trở về, như trở về với lòng mẹ để được ôm ấp, vỗ về và vùng vẫy. Tôi ôm chầm lấy bờ vai rung lên từng đợt của bạn. Nhìn về phía chân trời, nơi mây trắng đùn lên như bông và ngửa mặt đón lấy làn gió mát lạnh thổi từ sông Mơ về Hói Nồi, mơn man da thịt, cảm thông với bạn, tối nay tôi lại phải khuyên bạn một điều như 40 năm trước, chắc bạn lại phải nghe thôi. Cuộc đời thật không nói trước được điều gì.

HỒ NGỌC QUANG

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.