Vũ Bão tuyển tập: Anh cười, tôi cười, ai cười

Vanvn- Ai đó nói: cái cười là vũ khí của kẻ mạnh. Ai đó nữa nói: người biết cười là người biết khóc. Cầm súng, trên chiến trường, anh đã bị thương. Cầm bút, trên văn trường, anh đã bị thương. Máu anh đổ xuống vì đất nước, máu ấy đỏ, không được hóa đen. Mực anh viết ra vì nhân dân, mực ấy đen, không được tô hồng. Do đó, với tư cách người lính và nhà văn, anh không chịu nổi sự bất công, sự lộn sòng, sự đánh tráo các giá trị…

Bộ tuyển tập của nhà văn Vũ Bão do nhà văn Hồ Anh Thái tuyển chọn.

Nhà văn Vũ Bão (1931 – 2006) tên thật là Phạm Thế Hệ, quê ở Thái Bình, nhưng gắn bó cả cuộc đời hoạt động văn học nghệ thuật tại Hà Nội. Ông là hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam (1957) và là Phó Tổng thư ký Hội Nhà văn Hà Nội (1990 – 2000). Khi mới bước vào làng văn ông đã gặp “tai nạn” vì cuốn tiểu thuyết “Sắp cưới” (1956) ông viết sau Cải cách Ruộng đất bị phê phán kịch liệt. Nhưng ông vẫn kiên cường sống và viết, lấy tiếng cười và sự hài hước làm vũ khí văn chương phê phán cái xấu, bênh vực cái tốt, bảo vệ những con người bình thường cao cả.

Đọc văn ông vì thế cười mà đau, cười mà thương. Ông mất đi nhưng để lại tiếng cười của ông trên một số lượng trang văn phải nói là khá lớn. Bộ tuyển này tập 1 in lại bốn tiểu thuyết của ông (Sắp cưới, Thời gian không đợi, Gọi ai lần cuối, Utopia – một miếng để đời), tập 2 in lại các truyện ngắn, phóng sự, hồi ký (Rễ bèo chân sóng). Ông còn những kịch bản điện ảnh chưa đưa vào tuyển tập này.

Nhân “Vũ Bão tuyển tập” ra mắt, tôi đưa lại bài viết dưới dạng bức thư gửi “Vũ quân” nhân dịp mừng ông 70 tuổi (2001) nói về văn chương tiếng cười của Vũ Bảo.

Không, không phải vì anh có tập truyện mang tên Ông khóc, tôi cũng khóc mà tôi đặt “tít” ngược cho bức thư gửi anh trong ngày vui này như vậy đâu, Vũ quân ạ. Cái ông Cống trong truyện đó, Giám đốc Sở Thể dục thể thao tỉnh Sông Ninh, khóc khi được bí thư tỉnh ủy gắn huy hiệu 40 năm tuổi Đảng ngay trên sân bóng vì đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị của đại hội đảng bộ tỉnh đề ra là bằng bất kỳ giá nào phải đưa đội bóng đá tỉnh lên hạng A1. Và tôi (người kể chuyện) cũng khóc vì “tôi hiểu ông Cống đã phải làm bao trò nhảm nhí để giành được phút linh thiêng nhất đời“. Nhảm nhí để linh thiêng. Đấy là anh khóc hay anh cười hả Vũ quân? Cười ra nước mắt.

Thói thường sinh ra đời “con người có miệng có môi, khi buồn thì khóc khi vui thì cười”. Nhưng sống ở đời rồi mới biết “ra trường danh lợi vinh liền nhục, vào cuộc trần ai khóc dở cười”. Và trải thăng trầm cuộc đời, từ phản xạ sinh lý tự nhiên có những người “ngộ” được phản xạ tâm lý xã hội “khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười”. Vũ quân, cái cười của anh là như vậy.

Ai đó nói: cái cười là vũ khí của kẻ mạnh. Ai đó nữa nói: người biết cười là người biết khóc. Cầm súng, trên chiến trường, anh đã bị thương. Cầm bút, trên văn trường, anh đã bị thương. Máu anh đổ xuống vì đất nước, máu ấy đỏ, không được hóa đen. Mực anh viết ra vì nhân dân, mực ấy đen, không được tô hồng. Do đó, với tư cách người lính và nhà văn, anh không chịu nổi sự bất công, sự lộn sòng, sự đánh tráo các giá trị. Đọc loạt truyện của anh về chủ đề này, tôi hiểu anh đã đau lắm, đau đến uất ức, để chỉ có bật lên cười mà thôi, cười ngao ngán cái sự đời. Sự đời nhố nhăng, anh cười. Những “nhà trẻ không có bô“, những “phó tiến sĩ không hữu nghị“, những “bút bi hết mực“. Anh cười cái “lý sự người đời” (người đời đây không phải người thường) nói xuôi cũng được nói ngược cũng xong, coi sinh mạng con người – cả thể xác và tinh thần – nhẹ như không. Tập trung nhất là loạt truyện viết về những người lính thường.

Anh là nhà văn của những người lính thường, những Rãng, Thảnh, Chình, Thi “sống hết mình khi nước gặp tai ương”, không màng thiệt hơn, không cầu nổi danh nổi tiếng. Họ chưa có chiến công, chưa có tên trong từ điển, nhưng nhờ họ chiến công mới được lập, từ điển mới có tên. Họ là đất, nuôi hoa thơm quả ngọt nhưng luôn nằm dưới chân người qua lại. Vì vậy mà họ hay bị cướp công, bị “hy sinh” cho kẻ khác ngoi lên hưởng danh hưởng lợi. Công của Rãng, Bành hưởng (Người chưa có chiến công). Công của Thảnh, Lịch hưởng (Lý sự người đời). Công của Thi, Thành hưởng (Gọi ai lần cuối). Tiếng cười của anh khoan xoáy vào hiện thực làm bật lên lời cảnh báo: đang có hiện tượng vong ân bội nghĩa đối với máu xương của bao người ngã xuống. Nhà văn như thấy trước: trong truyện Người không có tên trong từ điển, nhân vật Chình (xê-hát) bị hy sinh, gia đình nhận bằng Tổ quốc ghi công thấy tên ghi thành Trình (tê-e-rờ), ông bố đưa lên huyện xin đổi cái bằng khác ghi đúng tên con mình.

Vừa rồi báo chí xôn xao quanh vụ “30 năm bỏ quên một anh hùng” ở huyện Tĩnh Gia (Thanh Hóa), nguyên do cũng vì thái độ tác trách, lãnh đạm của các cấp có thẩm quyền quanh cái tên người anh hùng: bằng tuyên dương năm 1970 đề là Vũ Tiến Trung, tên ở chiến trường, còn tên thật là Vũ Hữu Bẩy. Các tài liệu có cơ sở pháp lý đã có đủ để chứng minh Vũ Tiến Trung là Vũ Hữu Bẩy, vậy mà huyện đùn lên tỉnh, tỉnh đùn lên Bộ Quốc phòng, Bộ lại đẩy xuống tỉnh, dây dưa né tránh mãi, để tấm bằng tuyên dương anh hùng đã 30 năm về huyện vẫn chưa được trao. Nếu được dự một cuộc họp của các bộ phận chính sách quân đội lo việc này, tôi sẽ đưa cái truyện của Vũ quân cho họ đọc, và sẽ xin phát biểu bằng cái câu Vũ quân nói qua miệng ông huyện đội trưởng với người cán bộ trợ lý chính sách: “Cậu thì suốt đời sợ sai sách mà chẳng bao giờ lo sách cũng có lúc sai. Người ta đẻ đứa con đau đứt ruột, nuôi nó mười tám năm trời, cho nó ra mặt trận còn chẳng tiếc, mình thì có hai chữ xê-hát thôi mà cũng tiếc công viết, lý sự dài dòng.” Công của anh đấu tranh bằng văn chương cho sự lập lại công bằng giá trị, Vũ quân ạ, đồng đội anh, bạn đọc anh biết ơn nhiều lắm.

Tiếng cười là vị thuốc giải thiêng. Khi cười mọi tôn ti đẳng cấp được san bằng, mọi giá trị được ngang hàng, mọi bản chất được lột trần, mọi người được bình đẳng. Một trật tự khác được xác lập. Chân lý ở trong tiếng cười. Cái cảnh cắm cờ trên bốt Chè là giả đấy, là diễn đấy, là cảnh đóng để quay phim đấy, cái tay cầm cờ ấy chính là cái thằng đã vãi linh hồn ra quần trong trận đánh thật. “Cái quần trong phim là cái quần khác đấy“, thế là tiếng cười bật ra giải thiêng một huyền thoại, xóa bỏ một hình ảnh, dẫu đẹp nhưng là giả. Nhưng không chỉ cười, anh còn kêu lên như báo động ở câu kết truyện ấy. Bởi không thì nguy quá, giả đã thay thật, đã thành thật, đã dối trá ngụy tạo lịch sử. Như chiếc xe tăng 390 húc đổ cổng Dinh Độc Lập trưa ngày 30/4/1975 thì nằm tít rừng sâu, còn chiếc xe 843 thì ngang nhiên lên phim, lên ảnh, vào sách sử, sách giáo khoa, truyền khắp năm châu. May còn có bức ảnh của một nữ ký giả Pháp chụp đúng thời gian, địa điểm ấy đã giúp cứu vãn một sự thật lịch sử. Báo chí có cách làm sử theo tính thông tấn của nó. Văn chương không làm sử, nhưng nó giúp con người đọc sử như vốn có.

Thật ra, ở truyện Người vãi linh hồn, Vũ quân mô tả một loại người cướp cờ, cướp công, xây vinh quang riêng mình trên xác đồng đội. Anh hay nói đến hai loại người: loại tốt số, sinh vào giờ thiêng thì chẳng làm mà được hưởng, tử vào giờ thiêng thì thành thần thành thánh được hương khói thờ phụng; loại xấu số, cứ lầm lụi làm mà vô danh vô tích. Trước đây một nhà văn đàn anh họ Vũ – Vũ Trọng Phụng – thấy đời là vô nghĩa lý và đổ tất cả tại cái số, số phận. Thằng Xuân tóc đỏ “số đỏ” nên từ một đứa bé lang thang nhặt ban sân quần trở thành một anh hùng ái quốc. Vũ quân trong những sáng tác viết giọng như tưng tửng, đùa đùa của mình chắc cũng tâm trạng và cảm hứng ấy. Gọi ai lần cuối? “Thằng Thành hưởng hết phần vinh quang của cả tổ chốt, còn thằng Thi đang nằm một mình trên ngọn đồi gió hú, sao còn gọi là công bằng? Người chết làm sao nói được điều đó“. Cỏ đã trùm kín bãi chiến trường xưa. Cỏ đã che lấp ký ức không ít người. Gọi ai lần cuối? Vũ quân ạ, câu anh hỏi chỉ cỏ trả lời được mà thôi.

Bốn năm trước Gọi ai lần cuối ra sách, anh tặng tôi với lời đề “người không bao giờ chịu cho ai gọi mình là nhà văn trẻ”. Đấy là anh đùa tôi nhân một kỷ niệm. Hồi năm 1993, hội nghị văn trẻ Hà Nội tổ chức lần đầu tại khu biệt thự Hồ Tây, tôi mang đến bản tham luận “Tản mạn quanh tiếng trẻ” nói cái ý là trước trẻ tuổi đến mấy trong văn giới vẫn gọi nhau bằng ông, còn nay dù đã tuổi ông vẫn bị coi là nhà văn trẻ, tiếng trẻ như một cách xoa đầu, bao dung. Anh đọc qua, vờ gắt: công chúng tao chạy hộc hơi chỗ này chỗ khác xin tiền mới làm được hội nghị này, báo cáo của mày như thế thì giải tán hội nghị đi à. Hội nghị đó đã diễn ra vui vẻ, sinh động. Tôi nhớ, khi nói chuyện với các đại biểu, một ông họ Phạm (Thế Duyệt) lúc đó đang là Bí thư thành ủy ngồi dự suốt buổi, chắc nhớ lại cái tản mạn của tôi, đã nói như tâm tình: tôi năm nay 58 tuổi, đã có cháu nội cháu ngoại, nhưng trong Bộ Chính trị vẫn được coi là trẻ… Thế đấy, Vũ quân ơi. Anh là Phạm Thế Hệ năm nay bảy mươi xuân ta, tôi là thế hệ Phạm sau anh hơn hai giáp, anh chưa già tôi nỡ đâu dám trẻ, anh còn cười tôi sao dám khóc. Anh cười, tôi cười, chúng ta cười, và ai cười nữa anh? Những người không cười, chắc cũng không khóc, họ có lẽ là những người không nghiêm túc, Vũ quân nhỉ?

“Hài hước là cái phao cứu sinh trên sóng cả cuộc đời” (Wilhelm Raabe – nhà văn Đức), nhờ thế, anh hai lần bị thương, vết đạn đồng và đạn chữ, nhưng anh vẫn sống, sống khỏe, và viết khỏe. Với anh hôm nay tôi không nhắc chữ “cổ lai hy”, tôi không dùng chữ “mừng thọ”, chỉ chúc anh còn đủ sức “vẩy bút làm mưa gió” như bút danh anh đã chọn tự thuở nào. Học theo người trước, tôi xin tặng anh đôi câu đối ghép bằng tên các tác phẩm của anh:

Phút 89 sắp cưới phá đám, ông khóc tôi khóc, cô búp bê buồn ngôi sao nhỏ

Qua Hướng Hóa nơi đến khe tre, thời gian không đợi, xe tăng ta mãi cũng đến bờ.

Hà Nội, 2001 – 2022

PHẠM XUÂN NGUYÊN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.