Võ Huy Tâm – một chút thơ để lại đời

Vanvn- Mùa thu năm 1995 sao lắm mưa. Những cơn bão cuối mùa hoành hành ngoài khơi vịnh Bắc Bộ. Thành phố Hạ Long và thị xã Cẩm Phả chìm trong nước và ngổn ngang đất đá, bùn vữa từ sườn núi trượt xuống. Nước vịnh Hạ Long, Bái Tử Long thường ngày trong xanh nên thơ là thế, cũng trở nên đen ngòm bởi than trôi và lốc lật chìm mấy xà lan than đậu trên vịnh. Vào một ngày như thế, qua sự chỉ dẫn của nhà thơ Trần Nhuận Minh và nhà văn Dương Hướng, tôi và một vài đồng nghiệp tìm đến thăm nhà của nhà văn Võ Huy Tâm ở thị xã Cẩm Phả. Ở vào thời điểm đó, ông không còn ở trong núi mà đã về sống cùng gia đình trong căn nhà lầu do các công ty than và công nhân mở góp tiền công xây dựng tặng ông. Ngôi nhà mà lúc đùa vui, ông gọi là cái chum bạc vài trăm triệu. Lúc ấy, sức khỏe của ông không còn vượng, song trong câu chuyện về người thợ mỏ, về văn học, ông vẫn say sưa, cao hứng lắm.

Năm ấy, nhóm phóng viên chúng tôi thực hiện một Tp chí phát thanh thời lượng 45 phút dự kiến phát sóng vào dịp Quốc khánh 2.9 để kỷ niệm 50 năm thành lập nước. Câu chuyện của tạp chí ấy phản ánh sự đổi đời của hai thành phần cốt yếu của cách mạng à nông dân và công nhân nên bắt đầu từ 2 tiểu thuyết nổi tiếng của văn học Việt Nam là Tt đèn của Ngô Tất Tố và Vùng M của Võ Huy Tâm. Đi Quảng Ninh là để hỏi chuyện nhà văn Võ Huy Tâm về đời sống của công nhận mở trước cách mạng và quá trinh ông sáng tác tiểu thuyết Vùng M.

Chân dung nhà văn Võ Huy Tâm. Tượng của nhà điêu khắc Kiều Sỹ Khuê

Hôm chúng tôi đến thăm nhà, hình như trước đó ông đã có rượu trong người, tiếp khách trong trạng thái ngà ngà. Ấy vậy, vì hiếu khách, ông cứ liên tục giục bà vợ cầm chai đi mua thêm rượu về mời khách. Ngoài trời thì đang mưa gió sầm sập, chúng tôi thấy ái ngại, phải can mãi ông mới chịu thôi. Và cũng cơn ngà ngà ấy, ông kể chuyện đời sống công nhân mỏ thời Pháp thuộc cơ cực thế nào, chuyện ông thực tế để lấy chất liệu viết tiểu thuyết Vùng M ra sao. Ông còn thuộc lòng và đọc cho chúng tôi nghe lời về tràng giang đại hải mô tả đời sống vùng mỏ xưa, đọc lại cho chúng tôi nghe.  Rồi ông kể cả chuyện ngày nhỏ ở quê hương Nam Định đã đi học chữ quốc ngữ ra sao, học trường dòng thế nào… Tiếc là băng ghi âm cuộc trò chuyện ấy, anh em đồng nghiệp của tôi không còn giữ đến giờ… Riêng bản thảo đánh máy 10 bài thơ ông đưa tặng tôi hôm ấy thì hiện tôi vẫn giữ được…

Và cũng chính buổi gặp gỡ ấy, lần đầu tiên tôi biết đến ông không phải với tư cách là tác giả của những tiểu thuyết, truyện ngắn nổi tiếng một thời – Vùng m, Chiếc cán búa, Nhng người th m, Gánh chèo mnh, Rượu Chát,… và nhiều tác phẩm văn xuôi khác, mà là một nhà thơ. Chỉ có 10 bài thơ ông đưa tặng, với tôi, cũng đủ để khắc họa diện mạo một Võ Huy Tâm – thơ. Không hiểu ông còn những bài thơ nào khác hay không, hay chỉ đứng 10 bài vỏn vẻn được đánh số thứ tự từ I – X? Thơ Võ Huy Tâm lạ. Ông viết tuyệt đối không làm dáng, không giống một ai, không na ná như hàng trăm, hàng ngàn bài thơ – đau vờ, buồn vờ, yêu vờ, suy tư cũng vờ, nhan nhản trên các tờ báo hàng ngày. Ông viết đúng những gì ông nghĩ, chắc lọc. Bài số III (Hòn đá bên lu):

Bên lu mt hóa thch

Trong đá in hình cây

Trúc có riêng phong cách

Triu năm đốt vn ngay.

Bài số X (Cp phm trù đáng nh), ông viết:

Rng đước dông không đổ

Ngun nhâm nng chng vơi

Gc bn ti lòng ta c!…

Có khi, ông lại triết lý một cách trần trụi, như thể tự nói với mình, tự nhủ mình vậy:

Ngng đầu ch s mt vt gì rơi

Tri là mái nhà không trn

Đêm nay nm dưới nhng vì sao

nga mt lên trn

Mt trn không thy bi…!

(Bài số II – Trn tri)

Tác giả Nguyễn Chu Nhạc phỏng vấn nhà văn Võ Huy Tâm

Có một số bài như ở dạng phác thảo, câu thơ xổ bung ra theo ý tưởng và người ta dễ liên tưởng khi viết những câu thơ như thế ông chỉ chú ý đến việc diễn đạt ý tưởng nhiều hơn là chú tâm vào câu chữ. Chẳng hạn như ở Bài số V (Mưa xuân đặt phn đề cây cá):

… Ta vn yêu nhng cnh đẹp vĩ đại

ca tri đất b sông

nhng hình khe

thế núi

nhng thành ph

cánh đồng

nhng rng thưa

rng già

nhng c th mười hai người ôm…

Rồi ông lại tự trào cái nghiệp văn chương thơ phú của mình, hơn thế, ông mượn cớ để lên án tệ tham ô trong xã hội:

Cc cc đánh mõ rình cót thóc

H tôi dòng h Vũ

Chut đang chy trong các kho d tr

Làm thơ chng đủ ăn phi viết truyn ngn

Viết truyn ngn chng đủ ăn phi viết truyn dài…

… Chut đã bt chy trong các kho d tr

Viết tiu thuyết s quá giàu phi viết truyn ngn…

Chỉ ngỡ ông làm thơ, nhăm nhăm triết lý, hoặc bất cần câu chữ trau chuốt cốt sao diễn đạt được ý tưởng mà thôi, thì bỗng nhiên, ông lại trữ tình, sương khói:

Đò qua Ph Lng

Tránh càn thuyn thúng nghé thôn b

Nhà nn – đất – nn

rơm năm nng

Sương đẫm sân cau m

Cng trng

ngã ba

đồng Trng

Đi đi anh! Ko sáng bây gi!…

Bài số VI – (Ch gp mt ln)

Có thể nói, dù là ở vùng mỏ than Đông Bắc thời trước, hay khi đi kháng chiến, và sau này về sống lại vùng mỏ trong cảnh hòa bình, viết văn, hay làm thơ, Võ Huy Tâm bao giờ cũng là một con người nhập thế, nhập thế đến cùng, sống có trách nhiệm, và đích thực là người cầm bút vì những người lao động. Trong Bài số I (Hòm mìn), ông viết:

Bn ca tôi nhng người th m

đã giúp tôi dng túp lu bng g

Căn phòng ca tôi

Sàn bng g hòm mìn

Trn bng g hòm mìn..

…Tt c căn phòng là mt cái hòm mìn!

Còn tôi, tôi phi là thuc n!

Sau này, xã hội ta nhức nhối bởi nạn “than thổ phỉ” tàn phá thiên nhiên, sinh thái, môi trường vùng mỏ, còn với riêng ông, không những đau, ông vẫn muốn làm một việc gì đấy, dù là nhỏ bé, để ngăn ngừa tác hại của nó:

Gn sáng trăng lên dy vét ao.

Ch nào đào được người ta đào.

Tri mưa, lũ quét ba, vùng trũng

Va st bn càn pht lũng cao…

… Be b trng rú ch mong nác

Dưới đáy cht mng thy ánh sao!

Bài số VIII – (Khi vét ao suy din)

Võ Huy Tâm qua đời vào cuối thu năm 1996, vừa đúng một năm sau lần tôi gặp ấy. Tôi vẫn cứ băn khoăn, khoảng thời gian một năm đó, ông có thêm bài thơ nào không? Nhưng thôi, với tôi, dù ít ỏi thế cũng đủ làm nên một nhà thơ và 10 bài thơ này là một chút thơ để lại đời! Ở ông, sống và viết đều nhất quán. Trong Bài số IV – (Tiếng chim), ông viết:

… Cánh chim trong bão

b mi lánh xa…

Có lẽ, cho đến lúc mất, ông luôn tự nhủ mình, răn mình như vậy?!

Và cho đến mãi sau này, rôi mới biết, ông còn có một trường ca  có tên K chuyn m thi Tây, được sáng tác năm 1956, tác phẩm văn học thứ hai ngay sau Vùng M. Chính cái buổi trả lời phỏng vấn hôm ấy, khi diễn tả lại đời sống cơ cực của công nhân mở than thời Pháp chiếm đóng, ông đã đọc một thôi một hồi dài cho chúng tôi nghe, song tôi những tưởng là vè hay thơ ca khuyết danh chi đó do chính những người thợ mỏ ngày ấy sáng tác mà ông sưu tầm và thuộc lòng…

Về nội dung, tôi không bàn, song về nghệ thuật thơ ca, chắc chắn là trường ca ấy non tay hơn với những bài thơ ông sáng tác sau này. Nó gần với vè, ca dao, văn vần, nôm na, dễ thuộc, dễ nhớ. Trường ca ấy phù hợp cho công tác tuyên truyền của thời kỳ đầu…

Dẫu sao, cũng đủ để nhận diện một Võ Huy Tâm – Thơ, trong khi chờ đợi thêm những bài thơ khác của ông (nếu có) mà chưa mấy người biết ?!…

NGUYỄN CHU NHẠC

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *