Về tập tiểu luận – phê bình Nẻo vào văn xuôi đương đại Việt Nam

Vanvn- Nẻo vào văn xuôi đương đại Việt Nam (NXB Văn Học, 2020) là tập tiểu luận – phê bình đầu tay của cây bút nghiên cứu – phê bình văn học trẻ TS Bùi Như Hải. Tập sách dày 388 trang in, khổ 14,5 x 20,5 cm, do Nhà xuất bản Văn học ấn hành tháng 9 năm 2020. Tập sách tập hợp 23 bài viết tiêu biểu, sâu sắc được thảo luận, đăng ở các hội thảo, các báo, tạp chí Trung ương và địa phương trong suốt 15 năm qua, thuộc mảng văn xuôi Việt Nam đương đại, trong đó tập trung chủ yếu hai thể loại chính là tiểu thuyết và truyện ngắn.

Cuốn sách thật sự rất hữu ích, cần thiết đối với những ai đã, đang và sẽ quan tâm, nghiên cứu về văn xuôi Việt Nam sau 1975, đặc biệt tiểu thuyết và truyện ngắn trong bối cảnh văn học nghệ thuật của nước ta phải đối diện với nhiều cơ hội cũng như thách thức mới trên cả bình diện sáng tác, tiếp nhận lẫn nghiên cứu, lý luận – phê bình. Những vấn đề đặt ra ở công trình đã cho thấy được bút lực, tài năng, sự nỗ lực, miệt mài nghiên cứu trong suốt 15 năm (2005 – 2020) qua đã in đậm dấu ấn rất riêng của TS Bùi Như Hải. Sự nỗ lực này của tác giả, đã được ghi nhận khi cuốn sách vừa mới trình làng đã được bạn đọc, đồng nghiệp, giới nghiên cứu, phê bình văn học chú ý, quan tâm và đã được Hội Văn học Nghệ thuật bình chọn giải A năm 2020. Các vấn đề trong tập sách được TS Bùi Như Hải nghiên cứu, luận bàn rất phong phú, đa dạng, mới mẻ, trên nhiều phương diện khác nhau của văn xuôi Việt Nam đương đại. Đặc biệt, tác giả đã tập trung, xoáy sâu phân tích, đánh giá, nhận định những nguyên nhân, tiền đề tạo nên một “cú huých” đầy ngoạn mục, làm nên diện mạo, thành tựu mới cho văn xuôi Việt Nam sau 1975, nhất là từ sau Đổi mới đến nay trên cả hai bình diện nội dung và hình thức nghệ thuật. Sự khởi sắc, đổi mới, cách tân của văn xuôi đương đại được thể hiện ở sự đổi mới mạnh mẽ trong tư duy mỹ học. Chính sự thay đổi này, đã dẫn đến sự đổi thay, kiến tạo một hệ mỹ học mới, một hệ thống thi pháp và thể loại mới.

“Nẻo vào văn xuôi đương đại Việt Nam” của Bùi Như Hải

Cuốn sách tiểu luận – phê bình gồm 23 bài, trong đó có 11 bài viết thuộc mảng tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn đương đại. Điều đó chứng tỏ, tác giả đã dành một sự ưu ái đặc biệt cho nông thôn như một “sự trở về” của một người con “sinh ra từ làng” nơi vùng đất Quảng Trị nhọc nhằn, gian khó. Tôi thầm nghĩ, đây chính là một cuộc trở về đầy ý nghĩa, đáng trân quý, khi mà những cảm hứng được gợi lên từ phía làng quê đã và đang có nguy cơ bị chững lại trong sáng tác lẫn nghiên cứu, phê bình như hiện nay. Nông thôn là một trong những đề tài lớn của văn học Việt Nam nên đã có khá nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học quan tâm, thể hiện và có nhiều bài viết, công trình đã đăng, công bố. Vì thế, khi nghiên cứu về mảng đề tài truyền thống này cần phải lẩy ra những vấn đề mới mẻ, sâu sắc thì mới thuyết phục, thu hút được bạn đọc. Bùi Như Hải – một trong những cây bút nghiên cứu, phê bình trẻ, đi sau đã làm được điều đó khi tác giả có một hướng đi riêng, có một cái nhìn sâu sắc, thấu đáo, từ sự lý giải về nhu cầu đổi mới tư duy nghệ thuật, làm sáng rõ những đặc điểm riêng về cách chiếm lĩnh hiện thực của tiểu thuyết Việt Nam viết về nông thôn thời kỳ Đổi mới trong cái nhìn đối sánh với văn xuôi nói chung và tiểu thuyết viết về đề tài này nói riêng của giai đoạn trước như vấn đề làng xã, họ tộc, đạo đức – thế sự của người nông dân trước guồng quay của nền kinh tế thị trường; thân phận người phụ nữ nông thôn; sự ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa ở nông thôn,… Trong bài viết Nhu cầu đổi mới tư duy nghệ thuật của tiểu thuyết Việt Nam viết về nông thôn thời kỳ Đổi mới, tác giả đã có những cách lý giải, nhận định sâu sắc khi cho rằng: chính sự thay đổi của tư duy nghệ thuật đã “kéo theo sự biến đổi của phương thức miêu tả và biểu hiện nghệ thuật”. Từ đó, đã “đem lại một sức sống mới, chiều sâu mới cho văn xuôi đương đại bằng những trang văn rất riêng” (tr.153). Để làm sáng rõ nhận định, luận điểm trên, tác giả của bài viết đã làm một bước chuyển dịch trở về với đề tài nông thôn giai đoạn 1945 – 1975 và giai đoạn 1975 – 1985 trong sự đối sánh với giai đoạn 1986 trở về sau. Sau khi phân tích, chứng minh, tác giả đã khẳng định tư duy nghệ thuật có sự biến đổi, riêng khác qua các giai đoạn trong một tiến trình phát triển của văn học. Trong giai đoạn 1945 – 1985, do “tư duy sử thi đã ngự trị, chi phối gần bốn mươi năm trong dòng chảy của tiểu thuyết về đề tài nông thôn” nên “đề tài nông thôn nằm trong đề tài kháng chiến, vì thế nó thực sự là vũ khí sắc bén, đắc lực trên con đường đấu tranh, xây dựng đất nước, là nhiệm vụ thiêng liêng không thể chối cãi” (tr.136). Nhưng từ sau 1986, tư duy sử thi nhạt hẳn, tư duy tiểu thuyết tăng dần và “trở thành dòng chủ lưu của tiểu thuyết viết về nông thôn giai đoạn này” (tr.137). Bài viết Sự chiếm lĩnh hiện thực trong tiểu thuyết Việt Nam viết về nông thôn thời kỳ Đổi mới, TS Bùi Như Hải đã đi sâu chứng minh để làm sáng rõ sự đổi mới này. Tác giả bài viết cho rằng: Chính sự đổi mới tư duy nghệ thuật đã “mở ra cho tiểu thuyết Việt Nam viết về nông thôn sự chuyển biến tích cực, năng động trong việc chiếm lĩnh hiện thực đa chiều, phức tạp của đời sống nông thôn và người nông dân đương thời”.Từ đây, “các nhà văn truy tìm trong cơ chế thị trường và quá trình hiện đại hóa nông thôn, người nông dân đã đánh mất đi chất thuần hậu; đạo đức bị băng hoại, tha hóa và biến chất về mặt nhân phẩm. Lối sống thực dụng đã làm đảo lộn, lung lay và có nguy cơ sụp đổ những giá trị đạo đức truyền thống dân tộc vốn bám sâu nơi làng quê trước cơn sóng gió của thời cuộc” (tr.149). Tác giả cũng chỉ ra rằng: tiểu thuyết viết về nông thôn đương đại đã “dũng cảm phản ánh những góc khuất của hiện thực nông thôn trong quá khứ và hiện tại đang làm bỏng rát tâm hồn người nông dân” (tr.120). Các nhà văn không chỉ “tái tạo cái cụ thể trông thấy được”, mà còn “tìm tòi, khám phá, tái tạo, cắt nghĩa, lý giải và đánh giá cái bí ẩn, tiềm tàng của hiện thực đời sống nữa” (tr.117). Kết thúc bài tiểu luận, tác giả đã khẳng định: “Việc phản ánh chân thực đời sống nông thôn đã mang lại sinh khí mới cho tiểu thuyết, thể hiện sâu sắc xu hướng dân chủ hóa trong văn học”. Nó không chỉ “khắc phục được những hạn chế của tiểu thuyết viết về nông thôn giai đoạn trước”, mà quan trọng hơn, còn “làm mới cách nhìn về hiện thực và con người, giúp người đọc hiểu được diện mạo, tâm hồn người nông dân Việt Nam trong những thời kỳ lịch sử đầy biến động ” (tr.122). Kết cấu của tiểu thuyết Việt Nam viết về nông thôn đương đại là một bài viết công phu, sâu sắc về phương thức biểu hiện nghệ thuật của tiểu thuyết về nông thôn đương đại, cụ thể là kết cấu nghệ thuật. Theo tác giả của bài viết, các cây bút tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn đương đại đã rất nỗ lực trong việc tìm tòi, cách tân và thể nghiệm những kết cấu mới. Ngoài việc kế thừa, phát triển và làm mới trên nền truyền thống của các kết cấu trước đây, thì tiểu thuyết về nông thôn đương đại đã có sự cách tân theo hướng hiện đại như lắp ghép cốt truyện, pha trộn thể loại, lồng ghép điện ảnh,… Mỗi dạng kết cấu mới ấy đều được tác giả phân tích, so sánh, lý giải qua từng tác phẩm cụ thể, để thấy được “những biến chuyển rõ rệt” trong việc nỗ lực tìm tòi, thử nghiệm và đổi mới hình thức nghệ thuật của các nhà tiểu thuyết nông thôn đương đại. Sự đổi thay này, theo tác giả bài viết, nó đã “chứng tỏ quá trình không ngừng tìm tòi, thử nghiệm và đổi mới của tiểu thuyết viết về nông thôn đương đại, góp phần đem lại cho tiểu thuyết bộ mặt mới, phù hợp với phong cách thời đại, phong cách cá nhân” (tr.222); đồng thời nó thể hiện “tính hiện đại của tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn trong quá trình tiệm cận với văn chương thế giới” (tr.221). Những nhận định, định giá này rất là quý giá, hữu ích, nó tạo tiền đề, gợi mở cho hướng nghiên cứu về phương diện nghệ thuật của văn xuôi Việt Nam đương đại.

Tác giả Nẻo vào văn xuôi đương đại Việt Nam tiếp tục mở rộng biên độ tham chiếu hiện thực tới những phạm vi chiếm lĩnh hiện thực khác trong văn xuôi, từ vấn đề chiến tranh và hậu chiến, cảm hứng thế sự, nhân sinh đến vấn đề gia đình, đạo đức xã hội,… qua các bài viết như Cảm hứng thế sự trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn tiền Đổi mới (1975 – 1985); Tiến trình vận động của đề tài gia đình trong văn xuôi Việt Nam; Yếu tố tâm linh trong tiểu thuyết viết Việt Nam viết về chiến tranh thời kỳ Đổi mớiTiểu thuyết Việt Nam sau 1975 với nhu cầu đạo đức tối đa,… Ở bài viết Cảm hứng thế sự trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn tiền Đổi mới (1975 – 1985), TS Bùi Như Hải đã có một cái nhìn thấu đáo, sắc nhạy khi cho rằng: chính sự dịch chuyển cảm hứng sử thi sang cảm hứng thế sự, nhân sinh “đã làm thay đổi những phương thức nghệ thuật như chủ đề, kết cấu, cốt truyện, tình huống xung đột, ngôn ngữ, giọng điệu…” (tr.82). Trong đó, cảm hứng thế sự đã chi phối chặt chẽ đến hệ thống hình tượng nhân vật của tiểu thuyết giai đoạn tiền Đổi mới, cụ thể là số phận con người cá nhân. Các nhà văn giai đoạn này đã bám sát đời sống, thay đổi trong nhận thức về hiện thực nên “nhận thức xã hội trong những tình huống cụ thể, gai góc, đậm chất phân tích” nhằm “bao quát cả chiều rộng lẫn bề sâu, gợi lên nhiều suy ngẫm về triết lý nhân sinh, thế sự” (tr.83). Những suy ngẫm về triết lý nhân sinh, thế sự được TS Bùi Như Hải soi chiếu ở những tiểu thuyết về đề tài chiến tranh qua bài viết Đề tài chiến tranh trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn tiền Đổi mới (1975 – 1985). Nhìn xuyên suốt dòng chảy của lịch sử văn học Việt Nam thì đây là đề tài lớn nhất được hiện diện kể từ khi dựng nước, giữ nước và phát triển đến hôm nay. Chiến tranh vì thế được tác giả nhận định là một “siêu đề tài” và người lính đã trở thành một “siêu nhân vật” nên càng tiếp cận, càng khám phá thì lại càng thấy “những độ rung không mòn nhẵn” (tr.124). Do vậy, Bùi Như Hải đã có nhãn quan riêng một cách đa chiều, đa diện đối với tiểu thuyết viết về chiến tranh giai đoạn tiền Đổi mới. Đó là những vấn đề mà trước đây chưa đề cập đến thì nay được các nhà văn phân tích, mổ xẻ như “sự hèn nhát và phản bội của những kẻ thiếu kiên định cách mạng, sự trưởng thành từ gian khổ của con người mới, cuộc đấu tranh làm trong sáng đội ngũ cán bộ, đạo đức xã hội chủ nghĩa trong chiến đấu” (tr.128). Điều đặc biệt, cái mới, “những độ rung không mòn nhẵn” của tác giả trong bài viết chính là ở sự nhìn nhận, lý giải được các cây bút viết về đề này đã khai thác chiến tranh ở “vùng không khói lửa”, ở mặt thế sự đời tư của con người. Đó là sự “thể hiện tình yêu đôi lứa trong mối quan hệ với chiến tranh – người lính” (tr.130) với nhiều cung bậc cảm xúc rất chân thực từ những vui, buồn, thương yêu đến giận hờn, thổn thức, lo lắng, ghen tuông, ích kỷ,… Nhưng dù ở trạng thái nào, thì “người lính cũng sống hết mình, trọn vẹn với nhân cách của một người lính cụ Hồ” (tr.131). Kết thúc bài viết, tác giả đã kết luận rất xác đáng rằng: Tiểu thuyết về đề tài chiến tranh giai đoạn 1975 – 1985 được xem là “một giai đoạn vạn sự khởi đầu nan cho sự đổi mới tư duy tiểu thuyết, đó là từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng đời tư – thế sự. Tính chất chuyển tiếp này nó không chỉ thể hiện trong việc tiếp cận, bám sát hiện thực chiến tranh, đời sống người lính trong và sau chiến tranh, mà còn thể hiện rõ trong sự thay đổi những dạng thức đã kiến tạo trước đó trong suốt quá trình tồn tại và phát triển như kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu, không – thời gian nghệ thuật,…” (tr.133 – 134).

Nhà phê bình trẻ Hoàng Thị Kim Oanh

Ở những bài nghiên cứu về mảng thế sự, nhân sinh, tôi đặc biệt quan tâm đến hai vấn đề cốt yếu: sự vận động của đề tài gia đình và vấn đề đạo đức xã hội. Bởi đây thực sự là những vấn đề có ý nghĩa quan trọng, có tính thời sự hiện nay khi mà “xã hội Việt Nam đã biến đổi một cách nhanh chóng theo vòng quay hối hả của cơ chế thị trường, thì tiếng gọi khẩn thiết về đạo đức của con người được cất lên khẩn thiết hơn bao giờ hết” (tr.181). Đối với đề tài gia đình, trong bài viết Tiến trình vận động của đề tài gia đình trong văn xuôi Việt Nam, TS Bùi Như Hải đã khái quát, chỉ ra được sự vận động của đề tài này xuyên suốt tiến trình phát triển của văn học Việt Nam từ văn học dân gian đến đương đại. Qua mỗi thời kỳ, tác giả đã làm sáng rõ những cách tiếp cận và góc độ phản ánh hiện thực khác nhau về gia đình Việt Nam với những mâu thuẫn, xung đột giữa các thành viên và các thế hệ trong gia đình, trong đó nổi bật là số phận người phụ nữ. Đặc biệt, tác giả dành nhiều chú ý cho những sáng tác về đề tài gia đình sau năm 1986. Những vấn đề được các nhà văn quan tâm, luận bàn, phản ánh về đề tài này, thì theo TS Bùi Như Hải là những vấn đề liên quan đến “văn hóa truyền thống gia đình, đời sống sinh hoạt, những mối quan hệ đa chiều, phức tạp của gia đình trong cơ chế thị trường, cuộc sống cá nhân trong mối quan hệ với gia đình, với xã hội,… Trong đó, vấn đề văn hóa truyền thống gia đình Việt bị rạn nứt, phá vỡ trước thách thức của kinh tế thị trường và vấn đề tình yêu, tình dục – gia đình được các nhà văn quan tâm, trăn trở nhiều nhất” (tr.106). Viết về một đề tài không mới, song qua sự quan sát tiến trình vận động của đề tài gia đình trong văn xuôi, tác giả đã cho thấy trách nhiệm của các nhà văn trước những đổi thay của lịch sử để có thể “tái hiện lên bức tranh hiện thực về những gia đình khác nhau trong những bối cảnh xã hội khác nhau, góp phần gìn giữ, bồi đắp và phát huy mô hình văn hóa gia đình truyền thống của dân tộc cho hôm nay và mai sau” (tr.115). Gắn với mảng nghiên cứu về cảm hứng thế sự, ngoài đề tài đề tài gia đình, TS Bùi Như Hải còn quan tâm đến vấn đề đạo đức xã hội. Từ bài viết Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 với nhu cầu đạo đức tối đa đến Tư duy truyện ngắn Việt Nam thời kỳ Đổi mới về đề tài đạo đức xã hội, tác giả đã có những lý giải thấu đáo, sắc sảo về lối sống thực dụng đã làm “đảo lộn, lung lay và có nguy cơ sụp đổ những giá trị đạo đức truyền thống” (tr.181), đặc biệt là “sự tha hóa về nhân cách của con người qua khía cạnh tính dục” (tr.189). Dù nghiên cứu về tiểu thuyết hay truyện ngắn, TS Bùi Như Hải cùng đều cho thấy sự quan tâm riết róng của các cây bút văn xuôi về vấn đề đạo đức xã hội. Tác giả đã chỉ ra rằng “Sự tha hóa đạo đức của con người diễn ra mọi lúc, mọi nơi trong cuộc sống, lúc xâm thực ào ạt, lúc nhấm nháp dần mòn. Nó như một thứ “vi trùng” âm thầm, tinh vi len lỏi vào từng con người, làm biến đổi nhân cách con người lúc nào không hay biết” (tr.316). Đó là những nhận định, đánh giá thực sự sắc bén đối với một vấn đề đang có tính thời sự của đời sống hiện nay. Điều đáng ghi nhận là thông qua những khái quát về đề tài đạo đức và gia đình, tác giả đã không chỉ đặt ra lời cảnh báo về sự biến đổi đạo đức lẫn hiện thực đời sống gia đình trong xã hội hiện đại, mà ở chừng mực nào đó, tác giả có những nhận thức xác đáng rằng: các nhà văn “không chỉ thuần túy phê phán những mặt tiêu cực mà còn gieo niềm hi vọng trong trái tim người đọc vào cuộc đời, vào sự hướng thiện của con người. Và từ đó người đọc tìm được một trạng thái cân bằng trong tâm hồn của mình qua những niềm hi vọng, tin yêu đang nảy nở có thật diễn ra trong đời sống hằng ngày của chúng ta” (tr.192). Có thể nói, những vấn đề tác giả đặt ra có hướng gợi mở rất rộng đối với việc nghiên cứu và phê bình hai mảng đề tài lớn và nhạy cảm này qua văn xuôi đương đại.

Lâu nay, vấn đề đô thị và con người thị dân trong văn học được các nhà văn, nhà nghiên cứu văn học quan tâm, đặt ra, đó là có hay không có một dòng văn học viết về đô thị? Để trả lời cho câu hỏi đó, TS Bùi Như Hải đã có một sự lý giải, chứng minh đầy thuyết phục qua bài viết Sự vận động của đề tài dô thị trong văn xuôi Việt Nam. Theo tác giả bài viết, trong văn học nói chung và văn xuôi Việt Nam nói riêng có một mảng văn học viết về đô thị và con người thị dân: “Văn học viết về đô thị và con người thị dân đã và đang hiện diện cùng dòng chảy của văn học Việt Nam” (tr.9). Để làm sáng rõ nhận định này, trong khi nhiều nhà nghiên cứu vẫn còn băn khoăn, thậm chí chưa thừa nhận nền văn học Việt Nam khó hoặc không tồn tại một dòng văn học viết về đô thị theo đúng nghĩa của nó, tác giả đã làm một cuộc “lội ngược dòng” để tìm tòi, nghiên cứu về một “mảng văn học thành thị – văn học kẻ chợ” (tr.10) vốn đã có mầm mống ở nước ta từ cuối thế kỷ XVI, và đã xuất hiện vào khoảng nửa đầu thế kỷ XVII. Từ đây, tác giả đã đi dọc chiều dài lịch sử văn học Việt Nam qua từng giai đoạn: đầu thế kỷ XX, 1930 – 1945, 1945 – 1975 và sau 1986 đến nay. Từng giai đoạn ấy, tác giả đều có những phân tích, đánh giá, dẫn chứng bằng các tác phẩm cụ thể để cho thấy, trong tiến trình vận động, chuyển mình của văn học và văn xuôi Việt Nam nói riêng, đề tài đô thị và con người thị dân đã được các thế hệ nhà văn quan tâm, thể hiện sâu sắc. Nhưng qua “mỗi thời kỳ, giai đoạn có những biểu hiện, tính chất khác nhau” (tr.33). Đây là sự nghiên cứu bước đầu của tác giả bài viết, song những nhận định đặt ra sẽ là những gợi mở cần thiết cho hướng nghiên cứu hiện nay và sau này, khi mà những vấn đề về đô thị và con người thị dân đang thu hút sự quan tâm của mọi giới, mọi ngành. Ở một góc nhìn khác, về vấn đề ảnh hưởng, tác động của quá trình đô thị trong đời sống xã hội nước ta cả mặt tích cực lẫn tiêu cực được TS Bùi Như Hải luận bàn rất thấu đáo, sâu sắc trong bài viết Sự ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa trong tiểu thuyết Việt Nam viết về nông thôn đương đại. Sau khi tác giả bài viết nêu bật những mặt tích cực, những đổi thay trong đời sống xã hội nông thôn của nước ta mà công cuộc đổi mới, đô thị hóa mang lại được tiểu thuyết viết về nông thôn đương đại phản ánh, thì những mặt trái của quá trình đô thị hóa nông thôn cùng những tác động xấu của kinh tế thị trường đã và đang “làm mất đi nhiều giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp vốn lưu cữu trong đời sống sinh hoạt ở nông thôn nước ta” (tr.239). Vì thế, theo tác giả thì nông thôn nước ta vẫn phải còn đối mặt với sự nghèo đói, lạc hậu, nhếch nhác, nhất là thực trạng suy thoái, băng hoại đạo đức, nhân cách bởi lối sống thực dụng. Làng quê Việt Nam vẫn âm ỉ những đọt sóng ngầm như thế này, buộc chúng ta phải trăn trở, suy ngẫm. Tuy nhiên, “quá trình hiện đại hóa nông thôn là tất yếu khi chúng ta đang bước vào thế kỷ XXI: hội nhập và phát triển. Tuy nhiên, chúng ta đừng bao giờ lãng quên nông thôn và nông dân” (tr.253).

Nẻo vảo văn xuôi đương đại Việt Nam của TS Bùi Như Hải còn có một số bài viết thuộc thể loại truyện ngắn rất thú vị như Truyện cực ngắn – hướng đi mới cho văn học hôm nay, Tư duy truyện ngắn Việt Nam thời kỳ Đổi mới về đề tài đạo đức xã hội, còn lại là các bài nghiên cứu về các tác giả cụ thể như Truyện ngắn Cao Duy Sơn trong mạch nguồn truyện ngắn các dân tộc thiểu số Việt Nam đương đạiTruyện ngắn Văn Xương về đề tài chiến tranh và người línhNgười lính thời hậu chiến trong truyện ngắn Cao Hạnh,…

Trong bài viết Truyện cực ngắn – hướng đi mới cho văn học hôm nay, tác giả đã trình bày, lý giải một cách thấu đáo sự ra đời và xu hướng vận động của truyện cực ngắn Việt Nam đương đại. Tác giả khẳng định: Xu hướng “ý thức viết truyện cực ngắn” đang được trở nên phổ biến hiện nay như là một tất yếu “vừa phù hợp với quy luật phát triển của cuộc sống vừa đáp ứng yêu cầu tự thân của chính văn học” (tr.312) đã góp phần vào công cuộc đổi mới của văn xuôi Việt Nam đương đại. Bằng những phân tích sắc bén qua từng tác phẩm, qua bài viết Truyện cực ngắn – hướng đi mới cho văn học hôm nay, TS Bùi Như Hải đã chỉ ra được những đặc trưng riêng biệt của truyện cực ngắn so với các thể loại văn xuôi khác như hệ thống nhân vật đã được giản lược tối thiểu, không được diễn tả, làm nổi bật diện mạo, tính cách, số phận mà chỉ “chú ý đến những chi tiết, những khoảnh khắc tâm lý, những nghịch lý trong đời sống nhân vật” (tr.307) nhằm đi đến “một thông điệp, một ý tưởng mà nhà văn muốn phát ngôn với cuộc đời” (tr.307); Kết cấu truyện cực ngắn rất ngắn gọn; Ngôn ngữ trong truyện cực ngắn được “chưng cất”, gọt giũa đến mức tối đa, mang ý nghĩa hàm súc cao độ, tức là “khả năng siêu ngôn ngữ”, “ý tại ngôn ngoại” (tr.309); Kỹ thuật viết truyện cực ngắn cũng hết sức mới mẻ và “bút pháp đồng hiện được xem là một thủ pháp hiệu quả giúp nhà văn vượt lên trên sự ràng buộc về dung lượng thể loại để đưa đến người đọc những góc nhìn khác nhau về đời sống xã hội và con người” (tr.311). Có thể nói, bài viết Truyện cực ngắn – hướng đi mới cho văn học hôm nay, tác giả đã không chỉ khái quát được những nét đặc trưng cơ bản của truyện cực ngắn, mà còn cho thấy, bằng con đường “kiệm lời”, truyện cực ngắn đã “tô đậm thêm đặc điểm thể loại truyện ngắn, xây dựng bức tường sừng sững phân biệt rạch ròi ranh giới truyện ngắn và truyện vừa mà bấy lâu nay trong lịch sử lý luận về thể loại chưa phân định rõ ràng” (tr.312). Đây là nhận định gợi mở cho hướng nghiên cứu mới vẫn còn bỏ ngỏ về thể loại truyện cực ngắn hiện nay. Ở bài viết Truyện ngắn Cao Duy Sơn trong mạch nguồn truyện ngắn các dân tộc thiểu số Việt Nam đương đại, qua sự khảo sát ở từng tác phẩm của Cao Duy Sơn, TS Bùi Như Hải đã đánh giá được những đóng góp đáng kể của một tác giả dân tộc thiểu số cho văn xuôi Việt Nam đương đại. Đó là “một cách nhìn, một lối viết, một giọng điệu và một cách cảm nhận mới” (tr.349) về hiện thực đời sống không chỉ ở phạm vi của dân tộc Tày, mà còn là những vấn đề “mang tính phổ quát của toàn nhân loại” (tr.350). Ngoài ra ở hai bài viết Truyện ngắn Văn Xương về đề tài chiến tranh và người lính và Người lính thời hậu chiến trong truyện ngắn Cao Hạnh, tác giả đã đi sâu làm rõ về bức tranh hiện thực chiến tranh và thời hậu chiến trong truyện ngắn của Văn Xương và Cao Hạnh. Tác giả đã khẳng định: Những vấn đề của chiến tranh và người lính trong truyện ngắn của hai nhà văn này phản ánh, đề cấp đến là không hẳn là mới mẻ, nhưng đã có một góc nhìn riêng khác. Đó là “một cuộc chiến tranh khác, không ngược nghĩa, không “phủ định”, không “chống lại”” (tr.370).

Nẻo vào văn xuôi đương đại Việt Nam của TS Bùi Như Hải là một công trình “dài hơi”, khá hiếm hoi, mới mẻ, đầy thú vị trong lĩnh vực nghiên cứu, phê bình văn xuôi Việt Nam đương đại. Cuốn sách vì thế, đã mang đến “một tiếng nói” rất riêng, rất hữu ích, rất đáng được đọc đối với những ai đang quan tâm, nghiên cứu văn xuôi nói chung và thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn Việt Nam nói riêng. Đặc biệt, tập sách như là một nguồn tư liệu tham khảo quý giá đối với giáo viên, sinh viên, học viên,… ở các cấp học hiện nay.

HOÀNG THỊ KIM OANH

(Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *