Văn hiến đất Sơn Nam – hào sảng nhà văn Nam Định – Kỳ 1

Vanvn- “Cả nước biết đến Nam Định nhiều nhất có lẽ ở Đền Trần thờ Đức Thánh Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và Phủ Dày Vụ Bản – nơi sinh ra tín ngưỡng thờ Mẫu đã trở thành một tín ngưỡng đặc biệt của đất nước Việt Nam. Và đặc biệt hơn ở Nam Định số đồng bào Thiên Chúa rất đông, ở bất cứ nơi nào trên đất Nam Định nhìn sang bốn phía Đông Tây Nam Bắc đều thấp thoáng tháp chuông nhà thờ cao vút chọc lên trời xanh”.

Khởi đầu Chuyên đề Văn học Nam Định do nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế – Ủy viên Ban Biên tập Vanvn.vn tổ chức, xin trân trọng giới thiệu bài viết tổng quan nhiều kỳ của nhà văn Mai Tiến Nghị.

Đền Trần ở Nam Định. Ảnh: Phan Hoàng

>> Văn hiến đất Sơn Nam – hào sảng nhà văn Nam Định – Kỳ 2

1- Ngày xưa bọn trẻ “xứ bùn bãi quê mùa” chúng tôi chả được đi đâu, đi học về thì bèo cám lợn gà, chăn trâu cắt cỏ. Vậy nên chỉ quanh quẩn với luỹ tre làng. Trong đầu lũ trẻ quần đùi áo vá đi học ngày ấy đoán chừng Nam Định quê mình rộng… gấp mươi lần cánh đồng làng là cùng. Đến cấp hai cũng chỉ biết Nam Định là tỉnh đồng bằng ven biển, chỉ có vài quả núi thấp. Rồi tưởng tượng ra núi non Nam Định chỉ như mấy cái gò đống ở ngay đám ruộng sau nhà. Thỉnh thoảng ra ngã ba quốc lộ 21 nhìn chiếc xe khách ậm ạch vừa chạy vừa hổn hển phụt lên trời làn khói xanh lơ, đều đặn ngày một chuyến đi từ tinh mơ đến tối mịt mới về đậu lưng chừng dốc. Thấy người ta chen chúc mua vé rồi công kênh nhau chui vào xe bằng lối… cửa sổ thì đoán thành phố Nam Định xa tít mù tắp. Cái thời phương tiện đi lại khó khăn khó khăn nó thế chứ thực ra chưa đầy bốn mươi cây số đường bộ.

Thế rồi lớn lên mở rộng tầm mắt, đọc sách báo nghe đài thì biết phía bắc Nam Định giáp Hà Nam, kẹp giữa hai con sông tự nhiên là sông Hồng phía đông và sông Đáy phía tây. Còn phía nam là biển. Biển lùi do phù sa hai con sông bồi đắp nên có Nam Định bây giờ. Lại nghe ngày xưa từ thời Lý Trần được đặt là Lộ Thiên Trường, sang thời Hồng Đức là Sơn Nam Thừa tuyên. Thời vua Cảnh Hưng thì được gọi là Sơn Nam Hạ lộ và thời Tây Sơn thành trấn Sơn Nam. Mãi tới khi Nhà Nguyễn thống nhất đất nước thì trấn Sơn Nam thành trấn Nam Định và sang thời Minh Mạng năm 1832 trấn thành tỉnh. Và cái tên tỉnh Nam Định có từ bấy đến giờ dù rằng có lúc kết hôn với Hà Nam để thành Nam Hà có núi… với câu “tỉnh ta từ núi Đọi đến sông Ninh”, đa đoan cơi nới thêm với Ninh Binh để thành Hà Nam Ninh với những dãy núi đá vôi trùng điệp. Sau đó vật vã ly hôn để trở lại độc thân Nam Định bằng phẳng như thời Minh Mạng. Dân số bây giờ đã gần hai triệu người. Nhẽ dân số sẽ nhiều gấp đôi nếu năm Ất Dậu (1945) Nam Định, Thái Bình không bị hàng triệu người chết đói. Chết đói nhiều đến mức cứ tháng ba âm lịch, ở quê tôi nhà nào cũng có giỗ. Phố thị Nam Định vốn xưa là một trung tâm của đồng bằng sông Hồng, là một trong ba thành phố lớn sánh vai cùng Hà Nội, Hải Phòng với cái tên rất đỗi tự hào “Thành phố Dệt”. Ấy vậy mà sang thời kỳ mở cửa thì Nam Định bỗng trở nên nhạt nhoà, hàng năm phải trông chờ vào ngân sách Nhà nước tới gần một nửa.

Cái tên “Thành phố Dệt” bỗng biến mất như chưa từng có.

Có đi thì mới thấy tự hào về truyền thống của người Nam Định đời nối đời quai đê lấn biển. Đi trên quốc lộ 37 ngay trước nhà, mà tôi cũng chỉ mới biết đó là con đê Hồng Đức. Để rồi lý giải ngày còn bé tý, vào những đêm mưa thâm tối trời thỉnh thoảng lại thấy trong lập loè đom đóm thấp thoáng người xưa lam lũ chân ngập bùn đầu đội tay bê từng hòn đất ngăn sóng biển mở đất mở làng.  Nhẽ vậy nên người Nam Định ăn sóng nói gió, nói ngọng, nói tục hồn nhiên thành đặc điểm riêng khác biệt với Tràng An Hà Nội dịu dàng thanh lịch dù chỉ cách nhau chưa đầy trăm cây số. Cũng như các vùng đất khác trên khắp đất nước ở làng nào Nam Định cũng có đền chùa miếu mạo thờ những người mở đất, thờ phụng những bậc tiền nhân có công giữ làng giữ nước từ thuở Hùng Vương cho đến hôm nay. Đó là các ngài Tam Lang, Minh Gia, Minh Tân ở Vụ Bản; ngài Linh Lang ở Mỹ Lộc  thời Hùng Duệ Vương.  Thời Lý Nam Đế có ngài tướng quân Hoàng Tề ở làng Tân Lập, Vụ Bản. Rực rỡ nhất là khi nhà Trần khởi nghiệp thì Thiên Trường vừa là quê hương vừa là hậu phương vững chắc để Hưng Đạo Đại Vương và các vua Trần ba lần đánh tan quân xâm lươc Nguyên Mông làm nên Đại Việt “thái bình thịnh trị” “non sông muôn thuở vững âu vàng”. Khi Lê Lợi tụ nghĩa Lam Sơn thì các dũng tướng xứ Nam là Ngô Quý Dật, Ngô Ái Thường ở Ý Yên, bà Đào Thị ở Mai Xá… đã tham gia nghĩa quân lập lên công lớn. Vào những năm quân Pháp xâm lược nước ta nhân dân Nam Định dưới sự chỉ huy của Đốc học Phạm Văn Nghị, Vũ Hữu Lợi… chặn đánh quân xâm lược bảo vệ thành Nam. Cũng với mục đích ấy, lần thứ hai là Đề đốc Lê Văn Điềm, Án Sát Hồ Bá Ôn chỉ huy quân triều đình phối hợp với dân binh của ông Nguyễn Hữu Bảo. Khi triều đình nhà Nguyễn ký hoà ước với Pháp, Bắc Kỳ bảo hộ thì ông Đinh Công Tráng vẫn lập căn cứ chống giặc và chiến thắng nhiều trận khiến cho thực dân Pháp lo sợ đến mất ăn mất ngủ.

Nhà văn Mai Tiến Nghị

Cả nước biết đến Nam Định nhiều nhất có lẽ ở Đền Trần thờ Đức Thánh Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và Phủ Dày Vụ Bản – nơi sinh ra tín ngưỡng thờ Mẫu đã trở thành một tín ngưỡng đặc biệt của đất nước Việt Nam.

Và đặc biệt hơn ở Nam Định số đồng bào Thiên Chúa rất đông, ở bất cứ nơi nào trên đất Nam Định nhìn sang bốn phía Đông Tây Nam Bắc đều thấp thoáng tháp chuông nhà thờ cao vút chọc lên trời xanh. Tiếng chuông Nhà thờ như một biểu tượng âm thanh đặc trưng gợi hồn cốt của vùng đất này. Chắc chắn mỗi lần nghe câu hát “làng tôi xanh bóng tre, từng tiếng chuông ban chiều… tiếng chuông nhà thờ rung” trong ca khúc “Làng tôi” của Văn Cao thì dù đang đứng ở bất cứ nơi nào trên trái đất, người Nam Định lại nhớ về quê hương thân thương của mình với những hoài niệm chất chứa thương yêu.

Chỉ một huyện Hải Hậu, chúng tôi đếm được 62 nóc tháp chuông nhà thờ Ki tô giáo trong khi chỉ có hơn ba chục ngôi chùa thờ Phật. Giờ một điểm du lịch khá hot ở Nam Định là Nhà thờ đổ. (Thực ra trước đấy khoảng những năm 70 ngoài xa cách bờ khoảng cây số, một cái nhà thờ giờ đã nằm trong lòng biển). Một cái tháp chuông lở lói trơ gạch đỏ, trơ mạch vữa… nằm ngay mép nước thách thức sóng gió bão dông. Người ta đến đây để chứng kiến biểu tượng kiên cường của đức tin trước vùi dập của thiên nhiên và ai cũng ngẫm nghĩ tự hỏi liệu nó còn tồn tại được một năm, hai năm hay dăm năm nữa… thì hãy đến một lần cho biết.

Quần thể đền Trần ở thành phố Nam Định là một di tích tiêu biểu của Nam Định. Nơi đây trước là nền nhà của Thượng hoàng Trần Thừa (Cố Trạch) sau mở rộng thành hành cung Thiên Trường nơi các vị vua Trần khi chớm tuổi già nhường ngôi cho con rồi về ngồi đây làm Thái thượng hoàng chỉ đạo tầm xa cho các ông vua con ở Thăng Long coi sóc việc đất nước.

Xem ra Thiên Trường mới là đầu não thực sự của đời nhà Trần, là căn cốt của hào khí Đông A lừng danh sử sách. Rồi thêm cung Trùng Hoa như là Thế miếu thờ mười bốn vua Trần. Vào những năm đầu thiên niên kỷ thứ hai người ta đặt vào đây mười bốn pho tượng đồng giống hệt nhau từ mặt mũi, mũ áo cân đai đến cả dáng ngồi và cái ghế (ngai vàng)… chỉ khác nhau ở bộ râu để phân biệt ông vua chết già với ông vua chết trẻ.

Ngay bộ môn Văn chúng tôi ở Hội VHNT có ông gánh vác một cái chức nho nhỏ trong Ban Quản lý đền Trần. Họp bộ môn ông luôn có mặt đúng giờ. Nhưng lần nào cũng vậy: chưa khai mạc thì ông bảo cho tôi phát biểu trước để tôi còn về Đền. Hôm nay có anh nọ chị kia trên Trung ương về lễ. Thành thử bộ môn tôi chỉ được nghe ông chỉ thị dạy dỗ chứ ông chẳng bao giờ nghe các công việc của bộ môn. Oai thế. Hàng năm, Rằm tháng Giêng tổ chức Lế Khai ấn đền Trần thu hút hàng chục vạn người từ quan chức Trung ương đến bà con dân quê khắp mọi miền. Tôi biết được điều này vì cứ ngày Mười bốn tháng Giêng trong bản tin Thời sự của Đài phát thanh truyền hình Nam Định và VTV năm nào cũng có tin đồng chí… về làm việc với Tỉnh ủy, UBND tỉnh Nam Định. Người ta chen chúc trèo lên đầu lên cổ nhau đến mức xảy ra tai nạn để giành cho được vuông vải có đóng dấu triện “Trần Miếu Tự Điển” với tâm thành người làm quan thì cầu được thăng chức to hơn, người làm dân mong được đổi đời…

Nhưng người ta đến nhiều hơn cả là đền Bảo Lộc (xã Mỹ Phúc- Mỹ Lộc) thờ Đức Thánh Trần: Quốc Công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, nơi đây vốn là đất thang mộc của An Sinh vương Trần Liễu, thân phụ của Người. Có lẽ đây là một trong những nơi linh thiêng nhất trên toàn cõi Việt. Về đây dâng hương lên Đức thánh để cảm thấy được che chở, được khai sáng bởi những bài học đạo lý, nhân văn sâu sắc từ cuộc đời sự nghiệp của vị Thánh trong lòng dân Việt.

“Tháng Tám giỗ Cha- Tháng Ba giỗ Mẹ” là câu thành ngữ chỉ ngày 20/8 là ngày giỗ Đức Thánh Trần- Người mà dân Việt tôn làm Cha. Còn ngày mồng Ba tháng Ba là ngày giỗ Mẹ tức Mẫu Liễu Hạnh tại Phủ Dầy (Vụ Bản- Nam Định).

Tín ngưỡng thờ Mẫu là đặc sản văn hoá của người Việt xuất phát từ  sự biết ơn đối với người phụ nữ, người mẹ trong nhận thức thuở sơ khai của con người. Ba vị nữ thần tồn tại trong truyền thuyết là ba chị em con của Ngọc Hoàng giáng trần được phân công về ba miền đó là Mẫu Liễu Hạnh ở miền Bắc (Phủ Dầy), Thiên Y A Na ở miền Trung (mẹ xứ sở dân tộc Chăm, Ponaga) và miền Nam là Linh Sơn Thánh Mẫu (Bà Đen).

Trong đạo Mẫu, Bà Chúa Liễu Hạnh được suy tôn là Thánh Mẫu tối cao, hoá thân của Đệ Nhất Thánh mẫu Thượng Thiên, là một trong Tứ bất tử của dân tộc Việt. Với tư tưởng Âm dương- Tam tài- Ngũ hành: nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật thì Mẫu là nhất. Từ Mẫu Thiên ắt có đối ứng là Mẫu Địa (Mẫu Thượng Ngàn) là thứ hai, rồi lại hoá thành Mẫu Thuỷ (Mẫu Thoải) nên thành Tam Toà Thánh Mẫu. Và từ đó sinh ra hàng loạt ông Hoàng, bà Chúa, các Cô các Cậu mà nghe chừng số lượng mỗi ngày một nhiều lên. Vì dân gian cho rằng Thánh Mẫu vẫn tồn tại thì việc sinh thêm con cháu là nhẽ đương nhiên.

Điều đặc biệt trong nghi thức thờ mẫu là hầu đồng- một nghi thức mang đậm nét văn hoá của người Việt với hình thức diễn xướng âm nhạc và múa rất đặc sắc mà UNESCO đã vinh danh là Di sản văn hoá của nhân loại. Âm nhạc của nghi lễ này có thể nói hay đến mê hoặc lòng người từ đứa trẻ mới dăm tháng tuổi đến người già cập kề miệng lỗ. Nói điều này không phải là nói quá. Ta mở một đoạn diễn xướng giá hầu Mẫu Tiên, Cô Đôi Thượng Ngàn, Cô Ba Thoải hoặc Cô Bé Sơn Lâm… cho đứa trẻ dăm tháng tuổi nghe, thì chắc chắn mắt nó sáng lên, thân hình nhún nhảy, tay chân nhịp nhịp theo nhip đàn câu hát. Lạ thế. Với người lớn thì tác dụng còn lớn hơn rất nhiều. Từ xửa từ xưa những mệnh phụ phu nhân thì suốt tháng Ba tháng Tư chăm chăm đi hết phủ nọ đến miếu kia, ôm hàng hòm tiền mệnh giá cao cúng Mẫu và tán tài ban phát cho người xem nhằm giải toả bớt tội tham nhũng của các quan ông. Với người làm ăn buôn bán thì tự nguyện chia sẻ bớt tiền lãi với niềm tin vào nguyên tắc “Lộc bất tận hưởng”. Nhưng trên hết nhẽ là cái máu văn nghệ. Họ hầu đồng thành nghiện. Nghiện đến mức không thể bỏ được. Người ta bao biện đó là căn là nghiệp.

Còn với người nông dân quanh năm bán mặt cho đất bán lưng cho trời, bòn gio đãi sạn một năm cũng cố dành vài ba triệu bạc để được hầu một canh đồng. Bà chị dâu tôi vất vả đẻ và nuôi bảy đứa con. Giờ chúng đã ở riêng, nhưng thành lệ cứ tháng ba hàng năm thì mỗi đứa có nghĩa vụ góp cho mẹ năm trăm nghìn. Cộng với việc bà ky cóp bòn vỏ lon sắt vụn… hòm hòm năm triệu, được hầu một canh cỡ chừng mươi mười hai giá. Xong sạch túi ra về hỉ hả. Hỏi bà chị thấy sướng không? Sướng lắm chú ạ. Nhẹ cả người. Nghe xong, ngồi ngẫm thấy sướng thật.

Ở đấy người ta được hiện diện phấn son trước mọi người với vai trò của ông Hoàng bà Chúa thay cho cái thân phận thấp hèn lam lũ.

Ở đấy người được mặc khăn chầu áo ngự đủ màu thêu rồng phượng trên gấm hoa thay cho những mảnh áo rách ngày thường.

Ở đấy người ta khoan thai và oai nghiêm sải bước theo nhịp nhạc Lưu thuỷ Hành vân thay cho bước thấp bước cao chạy ăn từng bữa toát mồ hôi.

Ở đấy người ta được ngợi ca bằng tiếng sênh tiếng đàn tiếng hát ngọt ngào réo rắt thay cho những tiếng rủa sả của chủ nợ, tiếng ỉ eo của lũ con khát đói.

Ở đấy người ta được ban phát lời vàng ý ngọc của bề trên đến mọi người thay cho những lời van xin của chính họ khi van vỉ vay nợ lãi thường nhật.

Còn gì sướng bằng mình được lột xác thành các bậc thánh thần ngự trên sập rộng, mắt lim dim nghe lời ngợi ca, bàn tay nhấp nhấp theo nhịp đàn, thỉnh thoảng vỗ tay ban khen cung văn, ban lộc cho người xem bằng từng nắm tiền mệnh giá thấp tung lên… Tiền bay lả tả, cô đồng khuôn mặt rạng rỡ mãn nguyện nhìn thiên hạ bổ nháo bổ nhào tranh nhau chụp giật từng đống bạc lẻ.

Lạ hơn nữa trong các bài cung văn ngợi ca các ông Hoàng bà Chúa, bên cạnh những hào sảng tôn vinh sự nghiệp vì dân vì nước lại là những nét sinh hoạt dân dã đời thường. Thánh say thuốc lào, Thánh hút thuốc lá, có Thánh còn chơi cả thuốc phiện. Thánh tỳ tỳ rượu uống đủ mười tuần, mỗi tuần một chung, “Zô” trăm phần trăm mà chả say. Bà Chúa với các Cô thì ngày ngày đeo gùi lên nương hoặc đi chợ. Cũng mò cua bắt ốc, cũng thích nem thính, măng chua, bánh đa bánh đúc “Tính Cô hay măng trúc măng mai”. Cá biệt có Cậu còn máu mê gái xinh em đẹp “Mười hai cô rót rượu hầu dâng” rồi “Cô Ba, cô Bốn, cô Năm, Cô Sáu, Cô Bảy, cô Tám, cô Chín… cô nào cũng xinh, kìa đoá huê thơm dâng lên Cậu…”. Thánh Cô thì tình tứ khoé mắt long lanh. Có nghĩa là người đời anh hùng đạo đức hoặc ăn chơi sa đoạ… như thế nào thì các Thánh Cô thánh Cậu cũng thế. Phải chăng đó là sản phẩm vừa mang ý thức tôn vinh lại vừa mang tính cười cợt giễu nhại có trong ca dao dân ca Việt.

Hát văn có nhiều làn điệu như vỉa, phú, dọc, cờn, xá thượng, xá, chèo đò… Ca từ thường là thể thơ bảy chữ, lục bát, lục bát biến thể, song thất lục bát. Điều đặc biệt là đa số các bài cung văn đều khuyết danh và được truyền khẩu từ đời này sang đời khác cho đến tận hôm nay. Từ hiện tượng này ta có thể khẳng định tín ngưỡng thờ Mẫu là một cái nôi nuôi dưỡng của văn học truyền khẩu. Và như thế Nam Định là một địa chỉ sáng giá của văn học truyền khẩu. Ở đó người ta nhận thấy vẻ đẹp lung linh của văn chương được thể hiện bằng hệ thống ngôn ngữ dễ gần, dễ hiểu, dễ thuộc, có nhịp điệu phù hợp với diễn xướng thờ phụng tâm linh nhưng không kém phần triết lý sâu xa về luật trời luật đời, về tiền kiếp, quá khứ, về  hiện tại và tương lai đến cả những kiếp sau.

2– Khi còn học phổ thông, đôi lúc tôi thường tự hỏi đất Nam Định là Địa linh nhẽ phải sinh Nhân kiệt. Nhưng Nam Định võ tướng chẳng nhiều mà văn nhân thì thưa thớt. Vì sao lại vậy?

Sở dĩ tự đặt ra câu hỏi ấy vì mười năm trên ghế nhà trường phổ thông (hệ 10 năm) chúng tôi chỉ biết và nhớ trong nền văn học Việt Nam có hai tác giả bao trùm. Đó là hai người có bút danh chữ đầu Tố: cụ Tố Như Nguyễn Du và ông Tố Hữu. Ngoài ra mấy tác giả nữa chỉ chạy thoáng qua, như Trần Tế Xương, Nguyễn Khuyến, Á nam Trần Tuấn Khải… Chế Lan Viên, Huy Cận, Xuân Diệu. Thi cử cũng xoáy vào tác phẩm hai ông Tố Như, Tố Hữu. Thuộc hai ông coi như đã qua môn Văn. Cụ Tố Như thì nổi tiếng bởi Truyện Kiều được học ở lớp Bảy và lớp Chín, còn ông Tố Hữu thì từ lớp Ba đến lớp Mười năm nào cũng phải học. Thành thử đến bây giờ bạn học cùng lứa mỗi khi nói chuyện với nhau vẫn kết luận rằng nước Nam mình nhất thơ ông Tố Hữu.

Cũng từ câu hỏi ấy mới đi tìm hiểu. Thì ra từ khi có văn học viết từ thế kỷ thứ XI đến giờ đâu có ít văn nhân Nam Định.

Ngay từ thời nhà Lý khi mà  đạo Phật trở thành Quốc Đạo thì các tác giả văn học thường là các nhà sư. Nam Định đã nổi tiếng với hai nhà sư Dương Không Lộ và Nguyễn Giác Hải. Sự nổi tiếng của các ông không chỉ về phương diện tu hành mà còn nổi tiếng trong lĩnh vực văn chương thời ấy. Văn chương của các ông tiêu biểu cho thơ ca thời Lý với tư tưởng triết lý của đạo Phật và cuộc sống con người đậm  chất thơ. Cảm quan về vũ trụ mênh mông, nhà sư Dương Không Lộ đã viết “Ngôn hoài”:

Trạch đắc long xà địa khả cư

Dã tình chung nhật lạc vô dư

Hữu thời trực thượng cô phong đính

Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư

Dịch thơ:

Kiểu đất long xà chọn được nơi

Thú quê lai láng chẳng hề vơi

Có khi xông thẳng lên đầu nũi

Một tiếng quạ kêu vang lạnh cả người.

                                           (Kiều Thu Hoạch dịch)

                Sư Nguyễn Giác Hải bàn về nhẽ sắc không của đạo Phật thông qua bài “Hoa Điệp”:

                Xuân lai hoa điệp thiện tri thì

                Hoa điệp ưng tu cộng ứng kỳ

                Hoa điệp bản lai giai thị huyễn

                Mặc tu hoa điệp hướng tâm tri

Dịch thơ:

                Xuân sang hoa bướm khéo quen thì

                Bướm liệng hoa cười vẫn đúng kỳ

                Nên biết bướm hoa đều huyền ảo

                Thấy hoa, mặt bước để lòng chi.

                                                (Ngô Tất Tố dịch)

Như trên đã nói văn học viết bắt đầu phát triển từ thời Lý vào thế kỷ thứ XI. Vậy thì rõ ràng hai ngài Dương Không Lộ và Nguyễn Giác Hải chính là những người đã đặt nền móng đầu tiên cho văn học viết của đất Sơn Nam hạ xưa đến Nam định ngày nay.

Khi họ Trần phát tích từ Cố Trạch thì Tức Mặc Thiên Trường được coi là quê hương của các vua Trần đã biến Thiên Trường thành một trung tâm chính trị văn hoá phía Nam Thăng Long, tạo thế phát triển cho cả nước. Vì vậy cùng với sự phát triển của văn học ở Thăng Long, các vua quan nhà Trần đã  tạo nên sự phát triển văn học Thiên Trường với nhiều nhà thơ nổi tiếng với những áng văn chương bất hủ. Các vua Trần đều có thi tập riêng của mình. Đặc biệt vua Trần Nhân Tông được gọi là ông vua thi sĩ giữ vị trí quan trọng trong lịch sử thi ca dân tộc. Có lẽ từ việc chăm làm thơ, thích thi ca của các vua đã kích thích các quan mỗi khi về thăm, làm việc, nghỉ ngơi tại Thiên Trường đều có sáng tác thơ văn.

Trần Quốc Tuấn với “Hịch tướng sĩ” mà bây giờ chúng ta mỗi lần đọc lên còn thấy rạo rực tâm can.

Trần Quang Khải với “Phò giá về Kinh” thiết tha hào sảng.

Cho đến giờ tôi vẫn không hiểu sao khi nhà Lê lấy lại đất nước từ tay giặc Minh thì văn chương Nam Định chững lại trong khi văn học Thăng Long và cả nước phát triển mạnh mẽ. Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII, 300 năm mà Nam Định chỉ có khoảng 20 tác giả. Nổi bật là Lương Thế Vinh, Phạm Đạo Phú, Đặng Phi Hiển, Tống Hân, Trần Kỳ, Vũ Vĩnh Trinh, Nguyễn Địch, Vũ Huy Trác, Phạm Ngộ Hiên.

Phải có một nguyên nhân nào đó? Liệu có thể có sự tự ti bất mãn của văn nhân Thiên Trường khi đất Thiên Trường không còn là đất thang mộc của triều đình mới hay Triều đình nhà Lê không còn ưu ái văn nhân Thiên Trường? Cũng có thể lắm. Và cũng có thể do tiết tháo của văn nhân Thiên Trường vốn mạnh mẽ… khi nghe các công thần Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn là những hậu duệ của vua quan nhà Trần chết oan uổng tức tưởi, rồi sang thời Lê mạt xã hội vua chúa rối ren, đất nước chia cắt cát cứ bởi Trịnh Nguyễn, rồi nhà Tây Sơn nổi lên vốn chẳng được lòng sĩ phu… Thời loạn lạc thì đâu có gì vui vẻ để mà ngâm ngợi. Mọi hy vọng về một xã hội thái bình thịnh trị ở các văn nhân Thiên Trường đều nguội tắt chẳng còn động lực để sáng tác văn chương. Tôi nghiêng về giả thiết này hơn.

Nhân đây cũng xin giải đáp một sự việc khá đặc biệt. Đó là tỉnh Nam Định năm năm một lần xét giải thưởng văn học nghệ thuật. Giải này mang tên Lương Thế Vinh. Người ta băn khoăn vì Trạng nguyên Lương Thế Vinh nổi tiếng với “Đại thành toán pháp” đã được cả nước tôn vinh là Trạng Lường. Chả có lý gì lại lấy tên một ông Trạng nổi tiếng về tính toán gán cho giải thưởng về văn học nghệ thuật.

Xin thưa rằng Lương Thế Vinh đỗ Trạng vào thời hoàng kim của nhà Lê, ông vua hay chữ Lê Thánh Tông lên ngôi, các án oan đã được xem lại. Các bậc công thần bị chết oan uổng được trả lại công bằng, tên tuổi của họ được chiêu tuyết. Vua lập ra hội thơ Tao Đàn và giữ chức Tao Đàn Nguyên suý. Trong Hội này Vua cử Lương Thế Vinh giữ chức Tao Đàn Sái phu chuyên về đánh giá, phê bình, biên tập thơ ca trong hộ Tao Đàn. Xem ra vua Lê Thánh Tông hay chữ nổi tiếng như vậy mà còn phải trọng dụng Lương Thế Vinh làm người cầm cân nảy mực thì chắc chắn ngài Trạng Lường phải là người văn chương trác việt bậc nhất đương thời. Vậy thì giải thưởng văn học nghệ thuật của Nam Định được mang tên Lương Thế Vinh là quá vinh dự, là quá phù hợp.

Và trường hợp Lương Thế Vinh được trọng dụng khẳng định vua sáng thì ắt tôi hiền. Văn nhân chỉ có thể phát tiết tinh hoa dưới một chính thể khoẻ khoắn.

Có lẽ giả thiết tôi nêu trên là đúng vì sang thế kỷ XIX văn học Nam Định lại phát triển nở rộ sau gần ba thế kỷ chững lại. Hơn 40 tác giả với hàng nghìn tác phẩm xuất hiện với các thể loại phong phú gồm thơ (Đường luật) văn xuôi (dưới dạng thực lục) đã khiến cho Nam Định trở thành một trung tâm văn chương lớn của nước nhà.

Ngoài những người xuất thân khoa bảng (dạng này có khá đông vì Thành Nam có hẳn một trường thi) còn xuất hiện những tác giả nổi tiếng dù không đỗ đạt cao. Ý Yên, Xuân Trường nổi lên trở thành những vùng đất có đông đảo văn nhân tài danh. Trong đó phải kể đến làng Hành Thiện (Xuân Trường) với nhiều nhà thơ nhà văn nổi tiếng như Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng và dòng họ Đặng. Con trai của Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng là Đặng Xuân Viện không đi theo con đường khoa cử mà tập trung khảo cứu lịch sử văn hoá để lại cho hôm nay một số lượng sáng tác và biên khảo đồ sộ trong kho tàng văn hoá Nam Định và cả nước. Các địa phương khác cũng đều có tác giả nổi tiếng: Nam Trực có Ngô Thế Vinh, Vũ Hữu Lợi; Ý Yên có Phạm Văn Nghị, Lã Xuân Oai, thành phố Nam Định có Trần Bích San, Trần Tế Xương. Đó là  những danh nhân của Nam Định và cả nước vì vai trò của họ trong lịch sử dân tộc và đóng góp của họ cho nền văn học nước nhà.

Tại sao ở thế kỷ XIX đất Nam Định lại nở rộ Văn nhân. Theo tôi nghĩ có lẽ do thời cuộc. Khi vua Gia Long lên ngôi thống nhất đất nước, dưới thời ba ông vua đầu tiên Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị (1802- 1847) đất nước thống nhất thái bình thịnh trị là đề tài ngợi ca gây hưng phấn cho các văn nhân. Sau đó triều Tự Đức ươn hèn lúng túng trong chống Pháp thì văn nhân bày tỏ ý chí phản kháng chống lại thực dân xâm lược, chống lại triều đình nhu nhược ươn hèn. Các sĩ phu đã đứng lên không chỉ bằng hành động quân sự mà dùng cả văn chương để khơi dậy tinh thần yêu nước chống giặc. Điều này một lần nữa khẳng định tiết tháo của người Nam Định, văn nhân Nam Định.

Xin được minh chứng trường hợp hy hữu trong lịch sử dân tộc Việt: Ba thầy trò, ba nhà thơ cùng hy sinh vì nước. Đó là Hoàng giáp Phạm Văn Nghị với các trò của ông  là Vũ Hữu Lợi, Trần Bích San.

Hoàng giáp Phạm Văn Nghị đỗ Hoàng Giáp năm 33 tuổi dưới thời vua Minh Mạng. (Quê ông ở Tam Đăng Ý Yên nên được gọi là Hoàng Giáp Tam Đăng). Ông được bổ tri phủ Lý Nhân rồi sau đó trở về Biên tu Quốc sử quán. 1845 ông cáo quan về dạy học, làm thơ, chiêu tập khai khẩn vùng đất Sĩ Lâm (Nghĩa Lâm, Nghĩa Hưng ngày nay)1858 ông lại được vua Tự Đức triệu ra giữ chức Đốc học Nam Định và nhiều chức khác thăng tới Hàn lâm Học sĩ. Cùng năm ấy khi Pháp đánh Đà Nẵng, ông dâng lên vua Tự Đức “Trà Sơn kháng sớ” (sớ kháng nghị việc Sơn Trà) rồi chiêu binh gần 400 người lập đội quân xin vua cho vào Đà Nẵng rồi Gia Định đánh quân Pháp. Dù không được Vua chuẩn y, ông tiếp tục duy trì dân binh tổ chức đánh quân Pháp ở ngã ba Độc Bộ trên đường chúng tiến quân đánh thành phố Nam Định. Do quân ít, chống không nổi ông đành rút quân về Ý Yên. Vua ký hoà ước với Pháp, ông buồn bực bỏ quan đi ở ẩn rồi mất. Chí của ông chống Pháp tới cùng với tuyên ngôn: “Giặc Tây sao dám phạm bờ cõi/ chẳng mấy gươm trời quét sạch bay.” Ông để lại gần 600 bài viết trong đó riêng thơ có 250 bài tập hợp trong “Tùng Viên văn tập”. Ông được đánh giá là một tác giả yêu nước tiêu biểu cuối thế kỷ XIX.

Tiến sĩ Vũ Hữu Lợi (ông nghè Dao Cù) là học trò Tiến sĩ Phạm Văn Nghị (đồng môn với Nguyễn Khuyến) đỗ Tiến sĩ dưới thời Tự Đức. Được bổ làm quan Đốc học Nam Định rồi Tá lý bộ Binh. Sau khi Pháp đánh chiếm Nam Định thì ông bỏ quan về quê dạy học nhưng ngầm chiêu mộ binh sĩ chuẩn bị khởi nghĩa nhằm chiếm lại thành Nam. Bị bạn học là Vũ Văn Báo – tổng đốc Nam Định- Hưng Yên phát giác với quân Pháp, ông bị giặc bắt. Kẻ thù dụ hàng không được nên đã đem ông ra xử chém vào đêm ba mươi tết tại chợ Nam Định. Trước khi bị chém ông đã ngẩng cao đầu đọc câu đối:

Vạn tử quyền nhi sinh, sinh tại tặc sào sinh bất ngẫu

Nhất sinh đãi nhi tử, tử ư quốc sự tử vi sinh

Tạm dịch:

Trong muôn chết gượng sống chờ, sống ở hang thù sao sống đặng.

Dù một sống bên chết đợi, chết vì việc nước chết là vinh.

Một người học trò nữa của Hoàng Giáp Phạm Văn Nghị là Trần Bích San xã Vị Xuyên, Mỹ Lộc. Dưới sự dạy bảo của thầy, Trần Bích San ứng thí và đỗ đầu liền ba kỳ thi hương, thi hội, thi đình. Người đương thời trầm trồ gọi ông là Tam Nguyên Vị Xuyên. Hơn mười năm năm làm quan đã qua các chức vụ Tu soạn Hàn lâm viện, Án sát Bình Định, Tuần phủ Hà Nội ông luôn nêu cao tấm gương đạo đức trung với vua yêu nước thương dân. Khi vua Tự Đức cử Phan Thanh Giản đi Pháp ký hoà ước dâng 6 tỉnh miền Nam bộ, ông đã phản đối. Rồi tiếp sau đó ông được vua cử đi sứ sang Pháp nghị hoà… Biết nghị hoà thực chất là chấp nhận đầu hàng giặc nên nhận lệnh hôm trước thì hôm sau ông đã tự tử để giữ trọn khí tiết.

Tam nguyên Trần Bích San là tấm gương nghĩa khí của người Nam Định, là biểu tượng tiết tháo của kẻ sĩ Nam Định. Ông để lại cho đời 5 tập thơ đồ sộ. Sinh thời ông đã viết:

Văn vô sơn thuỷ phi kỳ khí

Nhân bất phong sương vị lão tài

(tạm dịch:Văn không sông núi không cao diệu, người chẳng phong sương chửa rạng tài)

Và ông đã dặn con:

Có kiến thức không khó, khó là phải biết đến nơi. Không danh vọng không đáng lo, chỉ lo tiếng tăm phù phiếm.

Tôi nghĩ câu nói ấy là lời nhắn nhủ của ông dành lại cho văn nhân đến vạn đời sau.

Cuối thế kỷ XIX khi giặc Pháp đã thiết lập ách đô hộ nước ta thì xuất hiện Nhà thơ Trần Tế Xương. Về đường khoa cử thì Trần Tế Xương trầy trật mới chỉ đỗ tú tài nhưng tài thơ của ông thì Nam Định chả ai sánh bằng. Dưới con mắt của ông thì cái xã hội nhố nhăng nửa thực dân nửa phong kiến như là một trò hề. Thơ của ông mang đậm sắc thái thị thành Nam Định với nét giễu cợt không kiêng nể với mọi đối tượng từ vua quan, thánh thần đến đám thị dân hợm hĩnh. Ông xót xa trước cảnh đời, thương cảm với những số phận lầm than nhưng đả kích không kiêng dè với đám thực dân phong kiến. Ông vượt lên tư tưởng Nho giáo, dám đối mặt với hiện thực, đối mặt với chính mình, dám phản kháng trực diện xã hội, điều mà từ trước đến thời của ông chưa ai dám. Liệu có phải là “ngông” khi một nhà thơ dám ví lọng quan sứ với váy mụ đầm:

Nhà nước ba năm mở một khoa

Trường Nam thi lẫn với trường Hà

Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ

Ậm oẹ quan trường miệng thét loa

Lọng cắm rợp trời quan sứ đến

Váy lê quét đất mụ đầm ra

Nhân tài đất bắc nào ai đó

Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà

          (Lễ xướng danh khoa thi Đinh Dậu)

Trần Tế Xương là ngôi sao sáng chói trong thơ ca hiện thực trào phúng Việt Nam. Cùng với Lương Thế Vinh, Phạm Văn Nghị, Vũ Hữu Lợi, Trần Bích San và rất nhiều văn nhân khác, các ông đã trở thành biểu tượng chung cho khí phách Nhà văn Nam Định, là danh nhân của Nam Định trong lĩnh vực Văn học từ thế kỷ thứ XI đến đầu thế kỷ XX.

MAI TIẾN NGHỊ

(Còn tiếp)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *