Tuyệt kĩ vô chiêu – Tiểu luận của Uông Triều

Vanvn- Vô chiêu là một thuật ngữ trong tiểu thuyết võ thuật Kim Dung dùng để chỉ người đã đạt đến độ “thượng thừa” về kĩ thuật. Nghĩa là đòn đánh ra không cần vận dụng một chiêu thức cụ thể nào, tiện đâu đánh đấy nhưng mang lại hiệu quả rất cao và đối phương không thể chống đỡ. Tôi nghĩ vô chiêu có thể áp dụng trong văn học khi nhà văn viết nhuần nhuyễn như không, viết rất kĩ thuật mà lại như không có dấu vết kĩ thuật nào cả.

Nhà văn Paul Auster, nhà cách tân tiểu thuyết nổi tiếng của nước Mỹ từng tâm sự rằng, khi viết ông chỉnh sửa bản thảo rất nhiều, sửa đến khi nào cảm thấy những lời mình viết ra tự nhiên như không, không cảm thấy bất kì sự khiên cưỡng hay lên gân nào mới thôi. Nghĩa là lời văn hoàn toàn tự nhiên, nhà văn dùng kĩ thuật, dùng lao động cơ học để biến những dụng ý có tính toán của mình thành một thứ văn trôi chảy, “trong suốt”, tự nhiên như nước mưa hay ánh nắng và người đọc không cảm thấy bất cứ sự can thiệp nào.

Nhà văn Uông Triều

Nhà văn Hồ Anh Thái cũng có lần kể rằng, có độc giả than phiền rằng ông viết ngẫu hứng quá, cảm tưởng như có gì viết nấy mà không cần phải nghĩ ngợi quá nhiều. Hồ Anh Thái lại cho rằng lời nói ấy là khen nhiều hơn chê. Vì sao, vì khi nhà văn viết ra trôi chảy tự nhiên thì cảm xúc và kĩ thuật của người viết đã chín muồi. Mỗi dòng chữ đã được hun đúc từ trong tiềm thức hoặc lưu trữ sẵn trong não bộ, chỉ đợi có cơ hội là tuôn ra.

Tôi thích các nhà văn viết thật kĩ thuật, nghĩa là cảm phục những tác giả có sự dàn dựng cầu kì, tinh vi, các chi tiết trong tác phẩm ăn khớp với nhau như một bộ máy vô cùng phức tạp nhưng vẫn hoạt động trơn tru. Một cái lá cây xuất hiện ở đầu cuốn tiểu thuyết dày cả trăm trang rồi có thể lại vẫn dùng ở đoạn kết, một vết chân chân cát tưởng như mơ hồ ở đoạn mở đầu lại dẫn đến những kết cục lớn lao. Những ví dụ kiểu đó có thể thấy ở những bậc thầy, ví dụ như Victor Hugo, Milan Kundera… Đó là những “nghệ nhân” của kĩ thuật viết văn, tiểu thuyết của họ như một công trình kiến trúc có tổng thể rất hoành tráng mà vẫn  được chăm chút ở những chi tiết rất nhỏ và hài hoà với bối cảnh lớn.

Nhưng tôi thích hơn những nhà văn viết rất kĩ thuật nhưng lại cảm giác không dùng kĩ thuật gì hết, nghĩa là rất tự nhiên, vô chiêu. Tất nhiên vô chiêu cũng có vài loại. Loại thứ nhất là đầu tư rất nhiều cho kĩ thuật và lao động cơ học, biến nguyên liệu từ một tảng đá xù xì, thô nhám thành một cô gái có thân hình tuyệt mĩ và người xem không cảm thấy có bất cứ sự đục đẽo, can thiệp, cảm giác tác phẩm đã có sẵn trong thiên nhiên và người ta chỉ việc mang về và trưng bày. Đó là cách của Paul Auster và đa số các nhà văn khác cố gắng đạt tới. Sử dụng lao động nghệ thuật một cách tối đa để tiến tới sự hoàn mĩ tự nhiên.

Thông thường ta hay gặp những kiểu văn trúc trắc, dấu vết kĩ thuật rất rõ. Đó vẫn có thể những tác phẩm hay, thậm chí là những tác phẩm rất lớn. Ví dụ như trong những tiểu thuyết của Victor Hugo như: “Những người khốn khổ”, “Lao động biển cả”, “Nhà thờ Đức bà Paris”… Nhà văn hầu như không bao giờ đưa ra những chi tiết thừa, những tình tiết rất nhỏ ở đầu chuyện tưởng rằng được viết thoảng qua nhưng xuyên suốt tác phẩm hoặc đến tận cùng, nhà văn vẫn sử dụng những sắp đặt ấy đầy thuyết phục và chính xác. Đó là cái tài của nghệ thuật dàn dựng, bố cục. Nhà văn giống như một kiến trúc sư tài năng và mẫn tiệp, chăm chút đến từng những họa tiết trang trí nhỏ nhất trên một tòa lâu đài khổng lồ.

Làm được như Victor Hugo là quá vĩ đại và khó lặp lại nhưng đứng về góc độ nghề nghiệp tôi lại thấy đó là những kĩ thuật quá lộ liễu. Bạn đọc thông thường và ngây thơ lần đầu bắt gặp có thể phục lăn tác giả nhưng những người có nghề dần dần sẽ đoán ra được ý định của nhà văn. Tôi sẽ dự đoán được câu chuyện sẽ đi theo hướng nào và những chi tiết “gài bẫy” sẽ được dùng ở đâu. Về mặt kĩ thuật, tôi thấy Victor Hugo và F. Dostoevsky rất giống nhau. Hai người khổng lồ này thường có những dàn dựng lộ liễu và dễ bị “bắt bài.” Ta chỉ cần đọc độ hai cuốn là có thể dự đoán được đường hướng của những cuốn khác. Victor Hugo và Dostoevsky thường tạo ra những sự bất ngờ và ngẫu nhiên, nhưng sự bất ngờ và ngẫu nhiên này lại quá tính toán và vì thế chúng thiếu một sự tự nhiên vốn có. Và có thể nói thêm rằng, một trong lí do văn học trinh thám đôi khi không được đánh giá cao bằng văn học chính thống vì nó quá dàn dựng, gài bẫy người đọc.

Một trong những nhân vật vĩ đại nhất của “trường phái vô chiêu” là Franz Kafka. (Tất nhiên Franz Kafka sinh ra trước Kim Dung rất lâu và tôi chỉ muốn tìm một ví dụ). Franz Kafka viết ra những câu chuyện chẳng có gì là giống với hiện thực cả. Đa số những truyện ngắn và tiểu thuyết của ông mang tính bịa đặt, phi lí hoàn toàn, khó có thể tồn tại trong đời. Nhà văn bịa đặt “trắng trợn” mà người đọc vẫn không tỏ ra nghi ngờ hoặc không muốn nghi ngờ. Người ta chấp nhận câu chuyện mà không thấy khiên cưỡng hoặc cảm thấy chúng quá lố. Vì sao vậy, vì Kafka viết rất tự nhiên, cảm giác ông không dùng chiêu thức hay kĩ thuật nào cả, những gì nhà văn viết ra nước chảy, không dàn dựng hoặc ít nhất không bị cái ấn tượng ấy ám ảnh.

Đây chính là sự khác thường và độc đáo của F.Kafka và người ta đã tôn vinh ông là một những nhà cách tân tiểu thuyết vĩ đại nhất của thế kỉ XX, xếp “cùng mâm” với Marcel Proust và James Joyce. Nhưng có đúng F.Kafka là nhà cách tân lớn nhất cùng với hai người kia? Marcel Proust và James Joyce cách tân thì đúng rồi còn Kafka, tôi không nghĩ ông là nhà cách tân tiểu thuyết. Kafka là một thiên bẩm, cảm giác ông không cần rèn luyện gì nhiều, ông viết khác thường, lạ lẫm nhưng cứ thế tuôn ra, tự nhiên vô cùng. Nếu ta muốn lần dò những dấu vết kĩ thuật trong đó thì hầu như không có. Và tôi cho rằng một trong những lí do quan trọng mà Kafka từng có ý định thiêu hủy bản thảo của mình và di nguyện cho người bạn là Max Brod làm điều đó vì chính ông cảm thấy bất lực hoặc chán chường với kiểu viết của mình. Thứ văn này nếu đọc một cách thoáng qua hoặc không được trang bị ít nhiều lí thuyết, hoặc chút kinh nghiệm thì nói chung rất khó để “tiêu hóa”.

Một lần tôi hỏi nhà văn Nguyễn Bình Phương cuốn tiểu thuyết nào của anh được chính tác giả yêu thích nhất. Ở thời điểm tôi hỏi, Nguyễn Bình Phương chưa xuất bản “Mình và họ” và “Kể xong rồi đi”. Lúc đó Nguyễn Bình Phương trả lời rằng, là cuốn “Ngồi”. Tôi hỏi tại sao là “Ngồi”. Nguyễn Bình Phương trả lời rằng, vì nó là cuốn nhuyễn nhất. Nhuyễn tức là tự nhiên nhất, còn các cuốn khác của anh, ví dụ “Thoạt kì thủy”, tôi không thích lắm vì dấu ấn kĩ thuật và ý đồ của tác giả khá lộ liễu.

Qua ví dụ ở Paul Auster, Nguyễn Bình Phương và ở nhiều tác giả khác nữa thì thấy rằng người viết luôn mong tác phẩm của mình mang vẻ tự nhiên nhất. Rất nhiều kĩ thuật nhưng được tinh luyện ở mức cao và người ta không cảm thấy sự tồn tại của chúng nữa.

Tất nhiên vô chiêu sẽ còn một ý khác mà tôi phải nói cho kín kẽ. Có những kiểu vô chiêu là tác giả quá non nớt, viết mà không biết mình sẽ viết như thế nào. Khi gặp một tình huống phát sinh thường không đưa ra được giải pháp xử lí hợp lí, để cho câu chuyện trôi đi mất kiểm soát. Tác phẩm rơi vào kiểu viết “thả rông”, không định hướng, không làm chủ được nhân vật và câu chuyện. Kiểu viết này thường rơi vào tình huống, ban đầu tác giả muốn câu chuyện dẫn đến điểm A nhưng thực tế viết lại dẫn đến điểm M, nghĩa là quá xa và mất phương hướng so với mục tiêu ban đầu. Tình trạng này thường xảy ra ở những người mới viết hoặc chưa có đủ một sự rèn luyện chuyên nghiệp hoặc chưa đủ trưởng thành.

Còn đạt đến độ “vô chiêu” hiểu theo nghĩa “tuyệt kĩ” thì xảy ra hai trường hợp. Thứ nhất là ví dụ của Paul Auster và đa số các nhà văn, đó là người viết phải khổ luyện rất lâu cả về cảm xúc cũng như kĩ thuật thì tác phẩm mới đạt tới mức độ tự nhiên như ý muốn. Còn trường hợp thứ hai là những người như Kafka. Sự khác thường của Kafka chính là thiên bẩm, Kafka đã rất may mắn được thừa hưởng một “điểm vượt” nào đó mà lịch sử văn học không dễ lặp lại, viết rất khó mà lại như không. Tuyệt kĩ vô chiêu có lẽ vì thế là ước mơ của rất nhiều người cầm bút.

UÔNG TRIỀU

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *